Đề nghị sửa lại chương I Dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 2013


VRNs (09.01.2013) – Cần Thơ – “Xã hội chủ nghĩa” là một khái niệm thời thượng của thế kỷ 20, nhưng sang thế kỷ 21, nó không còn là điều quan trọng của cả thế giới lẫn người dân Việt Nam. Ngay nội hàm của khải niệm này, hiện nay Ban lý luận trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam lý giải cũng nghe rất lùng bùng, không hợp lý.

Do vậy ghép các chữ “xã hội chủ nghĩa” vào nước Việt Nam xem ra gượng ép và không thực chất. Chúng tôi đề nghị ở chương I: “Chế độ chính trị” bỏ hẳn cụm từ “xã hội chủ nghĩa” trong các điều và khoản của Hiến pháp, nhất là các điều 1, 2 và 3.

Điều 4, nói về Đảng cộng sản, điều 9 nói về Mặt trận tổ quốc, và 10 nói về Công đoàn. Cả 3 điều này nên viết lại cho gọn và thành một điều duy nhất là đủ, vì các điều 4, 9 và 10 chỉ nói về ba tổ chức chính trị cụ thể. Trong một đất nước dân chủ chắc chắn không chỉ có ba tổ chức chính trị này, mà còn có nhiều tổ chức chính trị khác, có thể được hình thành sau này hoặc đang có. Hiến pháp không thể thiên vị cho ba tổ chức này quy chế đặc biệt hơn các tổ chức khác, vì bản chất của Hiến pháp là luật mẹ điều tiết mọi vấn đề liên quan đến đời sống con người và quốc gia.

Điều chung này nên xác định theo hướng: Nước Việt Nam được điều hành bởi các cơ quan hành pháp, theo những gì cơ quan lập pháp ban hành và bị giám sát của các cơ quan tư pháp. Mọi tổ chức chính trị xã hội có thể tham gia ứng cử vào các cơ quan điều hành đất nước này.

Cần làm rõ khái niệm dân tộc và đưa khái niệm sắc tộc vào trong điều 5. Mỗi người thuộc một quốc gia, lấy tên quốc gia đó là tên dân tộc của mình khi đến hay khi làm việc với các quốc gia khác. Còn sắc tộc là danh từ chỉ một cộng đồng có chung nguồn gốc, tổ tiên. Trong khái niệm sắc tộc lại có ba hành phần: sắc tộc bản địa, sắc tộc đa số và sắc tộc thiểu số.

Sắc tộc bản địa là sắc tộc đã sinh sống trên một vùng đất cụ thể hàng ngàn năm. Họ là những người chủ đất, xét về mặt nguồn gốc. Sắc tộc đa số là cộng đồng dân đông trên ½ dân số quốc gia. Hiện nay ở Việt Nam là người Kinh. Sắc tộc thiểu số là những cộng đồng dân cư có chung nguồn gốc, nhưng có số dân dưới ¼ dân số quốc gia. Ở Việt Nam có những sắc tộc vừa là bản địa vừa là thiểu số như Mường, Thái, Jarai, Chăm, Khơme…, hoặc vừa bản địa, vừa đa số như người Kinh, nhưng cũng có những dân tộc chỉ là thiểu số chứ không phải bản địa, như người Hoa. Họ là những người chạy loạn hay do tha phương cầu thực đã đến Việt Nam. Tuy không phải là bản địa, những tổ tiên của những người sắc tộc thiểu số cũng đã hy sinh rất nhiều cho việc hình thành nên quốc gia và lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Nên tất cả đều là dân tộc Việt Nam. Cần phân biệt rõ như vậy để nhà nước có những chính sách thực sự phù hợp với sự phát triển của các sắc tộc.

Điều 6 và 7 bàn về bầu cử chưa ổn, còn nặng về hình thức, cần theo mô hình bầu cử của Hoa Kỳ.

Điều 8 nên mang ra cuối của Hiến pháp, vì nhắc đến sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.

Điều 11 và 12 tương đối ổn.

Điều 13 bàn về quốc kỳ, quốc huy và quốc ca. Thiết nghĩ nên có một cuộc phát động toàn dân tham gia sáng tác mới, vì cả quốc kỳ, quốc huy và quốc ca được lấy lại cho Hiến pháp này vẫn chỉ là những nội dung của thời chiến, không còn phù hợp với thời đại mới. Riêng ngày Quốc khánh là Ngày tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945 vẫn giữ nguyên.

Điều 14 giữ nguyên: “Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội”.

K. Thuyên