
VRNs (08.05.2010) – Nhân dịp DCCT Hà Nội kết thúc Năm Thánh mừng 80 năm thành lập, chúng tôi đã giới thiệu những nét lịch sử về nơi này. Lần trước, chúng tôi đã gửi đến quý độc giả phần đầu bài viết “DCCT Hà Nội: một quá khứ vàng son 1926 – 1954″. Nay chúng tôi tiếp tục gửi đến quý vị những nội dung còn lại.
1.2. NHÂN SỰ VÀ CÔNG VIỆC TÔNG ĐỒ NHỮNG NĂM 1929-1954
Nhân sự: Năm 1929 Tu viện Thái Hà có 2 cha và 1 thầy. Năm 1941 Tu viện có 17 cha, 26 sinh viên, 6 tập sinh giáo sĩ, 5 tập sinh tu sĩ, 6 thầy trợ sĩ, tổng cộng là 66 người. Năm 1950 nhân sự đạt tới đỉnh cao: 80 đệ tử và 90 linh mục, tu sĩ. Đến ngày 26 tháng 12 năm 1950, có 61 linh mục, tu sĩ và 27 đệ tử di chuyển vào Nam. Đầu năm 1954 nhân sự còn 16 cha và 13 thầy.
Giai đọan 1926-1954 là một thời kỳ vàng son đối với công việc tông đồ của DCCT ở Miền Bắc. Cụ thể, trong thời gian này, tính theo thứ tự thời gian, các cha các thầy trong Tu viện Thái Hà đã tham gia các sứ vụ sau đây:
Đào tạo tu sĩ, giáo sĩ: Trong những năm 1931-1950, Tu viện Thái Hà là một Trung tâm Đào tạo của DCCT VN. Hầu hết các cha các thầy trong Dòng hiện nay, tính từ lớp cha Vũ Khởi Phụng trở lên, (khoảng 100 linh mục và 50 tu sĩ) đều ít nhiều có một thời gian đào tạo tại Hà Nội. Trong những năm 1947-1949, Học viện Thánh Anphongsô còn giúp đào tạo thần học cho một số thầy chủng sinh của Địa phận Hà Nội, trong số đó có về sau có những đấng làm giám mục như ĐHY Trịnh Văn Căn, ĐHY Phạm Đình Tụng, Đức cha Phaolô Lê Đắc Trọng.
Giúp tĩnh tâm: Các thừa sai giúp tĩnh tâm cho giáo dân, tu sĩ, linh mục và cả các giám mục Đông Dương, người Pháp và Việt, triều cũng như dòng(1926). Các ngài đi giảng liên tục cho các giáo phận, các dòng tu ở Miền Bắc Việt Nam và Miền Nam Trung Hoa. Ngay tại Tu viện Thái Hà cũng trở thành một trung tâm tĩnh tâm đón tiếp nhiều bậc vị vọng đến trau dồi đời sống tâm linh như Tổng thống Ngô Đình Diệm, Đức cha Lê Hữu Từ.
Mở tuần Đại phúc: Năm 1928 các thừa sai bắt đầu giảng đại phúc cho kiều dân Pháp. Khi các đã làm chủ được tiếng Việt, từ năm 1936 các ngài đi giảng Đại phúc cho giáo dân. Trong những năm 1936-1943 và 1947-1954, mỗi năm Tu viện thực hiện khoảng 1 chục cuộc đại phúc tại các giáo xứ tại các giáo phận Hà Nội, Phát Diệm, Thanh Hóa, Bùi Chu, Hải Phòng, Hưng Hóa, Bắc Ninh. Đáng chú ý nhất là cuộc Đại phúc tại Kẻ Sở-giáo xứ lớn hàng đầu địa phận Hà Nội, nơi vốn là Tòa Giám Mục của Địa phận Tây Đàng Ngoài- từ ngày 14.7 đến 30.07. 1939. Đích thân Đức cha Chaize Thịnh đã tham dự cuộc Đại phúc này với các thừa sai DCCT và sau đó ngài đã yêu cầu 4 giáo xứ trong thành phố Hà Nội và toàn thể các giáo xứ trong địa phận mời các thừa sai DCCT đến thực hiện các cuộc Đại phúc.
Mục vụ giáo xứ: Năm 1939, theo đề nghị của Đức cha Chaize, Giám quản Tông Tòa Địa phận Hà Nội, các linh mục DCCT Hà Nội đã thành lập và phụ trách giáo xứ Thái Hà. Địa bàn của giáo xứ bao trùm hơn 20 chục làng xã phía Tây Nam Hà Nội, ranh giới phía Bắc là phố Khâm Thiên-Đê La Thành; phía Tây-Nam là sông Tô Lịch, phía Đông là quốc lộ 1, nay là đường Giải Phóng. Các thừa sai đã tích cực xây dựng giáo xứ, với các sinh hoạt khác nhau. Vì thế, từ một giáp Nam Đồng ban đầu, giáo xứ đã lập nên các giáp Phụng Thiên, Thịnh Đức, Thái Long, Thọ Long. Năm 1947, trong một cuộc họp tổng kết về mục vụ ở Hà Nội, cha Cras O.P, cho rằng Thái Hà là giáo xứ có tổ chức tốt nhất và có nhiều sinh hoạt sống động nhất Hà Nội. Một thừa sai Canada phục vụ ở Thái Hà đương thời viết rằng: “Chúng tôi có một giáo xứ năng động ở Hà Nội, giáo xứ này thực sự là một trung tâm tôn giáo của Việt Nam”.
Truyền bá lòng sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp: Sứ vụ này được ĐGH trao phó cho DCCT từ năm 1866 và được các tu sĩ DCCT Hà Nội tích cực thi hành ngay khi đến Hà Nội. Các thừa sai DCCT đã biến tu viện và nhà thờ Thái Hà trở thành một Trung tâm Hành hương kính Đức Mẹ H.C.G, đồng thời phổ biến lòng sùng kính này đến hầu hết các giáo xứ, giáo họ ở miền này. Tại Thái Hà, hằng tuần đều có các giờ khấn Đức Mẹ H.C.G trọng thể vào buổi trưa và buổi chiều thứ bẩy trước thánh lễ, liên tục từ gần 80 năm nay. Trong các cuộc Đại phúc, các thừa sai đều tổ chức cho Đức Mẹ H.C.G đi thăm viếng các gia đình và tổ chức giờ sùng kính Mẹ cách trọng thể. Nhờ vậy, lòng sùng kính Đức Mẹ H.C.G ngày nay trở nên phổ biến ở Miền Bắc và các tín hữu Miền Bắc có một kinh nghiệm lạ lùng về sự hiện diện chở che của Mẹ trong những cơn gian nan khốn khó. (Hình Mẹ HCG di cư)
Mục vụ trong lĩnh vực truyền thông: Từ năm 1935 Tu viện đã sáng lập Nguyệt san Đức Mẹ H.C.G để thúc đẩy lòng sùng kính Đức Mẹ H.C.G, đồng thời giúp các tín hữu đào sâu đức tin. Cũng trong thời gian này, Tu viện đã thành lập nhà xuất bản Cứu Thế Tùng Thư. Một trong số vài chục nhà xuất bản uy tín trước năm 1954 ở Việt Nam, để phổ biến các sách báo tôn giáo, đặc biệt là các tác phẩm của thánh Anphong sô và của các tu sĩ DCCT. Về sau, từ thập niên 1940, Tu viện còn mua máy chiếu phim về chiếu các phim ảnh có giá trị nghệ thuật, đặc biệt là phim ảnh tôn giáo, tại hội quán giáo xứ, tại các làng xung quanh tu viện và trong các cuộc đại phúc, nhằm giáo dục đức tin và văn hóa cho các giáo hữu.
Mục vụ bệnh nhân: Tu viện đã cắt đặt cha Michel Laliberté làm tuyên úy bệnh viện để thăm viếng, giải tội và ban bí tích xức dầu cho các bệnh nhân tại các bệnh viện ở Hà Nội. Năm 1945, trước cảnh chiến tranh, nạn đói kém và dịch bệnh, Tu viện còn lập nên trại Thái Hà để tiếp đón các nạn nhân. Quý cha L.P Vaillancourt, D. Paquette, Fr. Lalibert é, G. Nguyễn Khắc Cân, Aug. Nguyễn Hòa Hiệp và các cha các thầy thuộc Tu viện phải phụ trách 900 giường bệnh, cứu giúp khoảng 5000 bệnh nhân. Trả giá cho sự dấn thân này là cha Giacôbê Nguyễn Khắc Cân đã bị mù một mắt và cha Augustinô Nguyễn Hòa Hiệp đã bị từ trần, nhiều cha thầy khác bị nguy tử vì lây bệnh dịch hiểm nghèo trong khi chăm sóc các nạn nhân. Cha Nguyễn Kim Dong bị bắt chết trên đường đưa nạn nhân đi cấp cứu năm 1944.
Giáo dục văn hóa: Nhằm thăng tiến đời sống văn hóa của người nghèo và cung cấp cho họ một phương tiện hữu hiệu để đón nhận Tin mừng, theo hướng dẫn của HĐGM Đông Dương, Tu viện đã tích cực mở trường dạy học. Tính cho đến năm 1954, Tu viện đã mở 1 trường trung học là trường Khâm Thiên và mở 7 trường tiểu học là Nam Đồng, Ô Chợ Dừa, Khương Thượng, Thân Lan, Trung Phụng, Xã Đàn, Ngã Tư Sơ. Trong số đó, Trường Khâm Thiên là một trường trung học hiện đại và quy mô trong thành phố Hà Nội với khoảng 1000 học sinh.
Truyền giáo: Từ năm 1946, khi Hà Nội trở lại bình yên, Tu viện đã từng bước mở rộng công cuộc truyền giáo trong khu vực giáo xứ. Thời điểm năm 1949, Tu viện có 25 điểm truyền giáo tại các thôn, làng trên địa bàn giáo xứ Thái Hà, với con số khoảng 4000 dự tòng. Vì thế, từ chỗ năm 1939, giáo xứ có khoảng 400 giáo hữu, đến đầu năm 1954, giáo xứ đã có khoảng 11.000 nhân danh, trở thành giáo xứ đông đúc hàng đầu trong nội thành Hà Nội thời bấy giờ.
Mục vụ di dân: Từ năm 1946 cho đến năm 1955, chiến tranh lan rộng và tiếp theo là sự kiện phân chia đất nước, đã khiến cho người dân đổ về Hà Nội tị nạn rất nhiều. Vì thế Tu viện liên tục trợ giúp các nạn nhân chiến tranh và giúp những người di cư. Năm 1954, Thái Hà là một trung tâm trung chuyển di cư lớn ở Hà Nội và Tu viện có khi phải tiếp đón hơn một chục nghìn người tạm trú trong khi chờ đợi xuống tầu thủy hoặc lên máy bay vào Nam.
Mục vụ hội đoàn: Tu viện cũng chú trọng phát triển các đoàn thể Công giáo Tiến hành. Quý cha trong Tu viện trực tiếp sáng lập hoặc làm linh hướng các đoàn thể như Tông đồ Giáo dân, Liên minh Thánh Tâm, Hướng đạo, Thanh niên Công giáo, Hùng tâm Dũng chí, Hiệp hội Thánh mẫu, Hội thánh Vinh Sơn, Hội Đức Bà Hằng Cứu Giúp, Hội Bà Thánh Anna, etc. Cha P. Gagné, cha G.Gagnon, cha Đào Hữu Thọ là những gương mặt nổi bật.
Một số công tác tông đồ khác: Tu viện cũng còn có 2 cha làm Thư ký Toà Khâm Sứ Đông Dương, một số cha làm tuyên uý thường xuyên cho các dòng tu, tuyên uý bất thường cho quân đội và cơ quan ngoại giao ở Hà Nội, đón khách thập phương đến nghỉ ngơi hoặc tĩnh tâm tại Tu viện. Nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân và cả một số nhân vật chính trị hàng đầu Việt Nam đương thời, mỗi khi đến Hà Nội, học tập, công tác thường ghé thăm viếng và lưu trú tại Tu viện DCCT HN.
Tóm lại: Trong những năm 1929-1954, nhờ nhân sự liên tục gia tăng mà công việc tông đồ của Tu viện DCCT Hà Nội ngày càng trở nên đa dạng và phong phú, có tính chuyên môn và chuyên nghiệp, vừa có chiều rộng, vừa có chiều sâu, hướng đến việc phục vụ các đối tượng khác nhau. Tu viện Hà Nội thực sự trở thành một trung tâm tôn giáo và tinh thần của Công giáo ở Việt Nam đương thời.
Người đứng đầu tiên bên trái là cha Giuse Vũ Ngọc Bích, người thứ tư là cha Giuse Trần Hữu Thanh
Học viện DCCT Thái Hà năm 1936
Cộng đoàn DCCT Hà Nội năm 1946,
Hình chụp ở sân Tu viện mà nay nhà nước đang chiếm dụng làm bệnh viện Đống Đa
Cha Gérard Gagnon người sáng lập Liên minh Thánh Tâm tại Thái Hà
Cha Antôn Nguyễn Đức Tuyên, Bề trên người VN đầu tiên của DCCT Thái Hà
Các thừa sai DCCT thăm một gia đình trong kỳ Đại phúc tại miền Bắc trước năm 1954
(Còn tiếp…)







