Sau 30 giờ: Gần 600 người ký tên đòi tự do tôn giáo cho đô thị mới Thủ Thiêm

VRNs (17.09.2014) – Sài Gòn – Khắp nơi phản ứng việc quy hoạch, giải tỏa và xây dựng mới đô thị Thủ Thiêm mà hoàn toàn không có chỗ cho các cơ sở tôn giáo đã hiện diện lâu đời trên mảnh đất này. Đối với nhà nước, vì vô thần nên không cần nơi thờ tự, nhưng đối với người dân thì không vô thần, nên cần phải có nơi thờ tự để sống đức tin.

Theo CHANGE.ORG, một tổ chức phi lợi nhuận quốc tế chuyên hỗ trợ việc lên tiếng cho bất công trên thế giới, Bản Lên Tiếng của Hội đồng Liên tôn Việt Nam sau 30 giờ công bố đã có hơn 592 người khắp nơi trên thế giới lên tiếng ủng hộ và ký tên.

Dam Mạnh Anh sống ở Đức nói về tự do tôn giáo và nơi thờ tự: “Ðó là quyền căn bản và cần thiết của con người. Con người khác con vật vì họ biết Thượng đế trên họ dựng nên họ để tôn thờ”. Việt Lang Huỳnh Lở OS ANGELES, CA cho biết: “Ủng hộ Bản Lên Tiếng của Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam”. Ông Bryant T BOSTON, MA cho biết: “I support freedom of religion for VN Tôi ủng hộ tự do tôn giáo cho VN”. Ông Lê Hào một người Việt đang sống tại Lào yêu cầu nhà cầm quyền dừng ngay việc giải tỏa các cơ sở tôn giáo “Stop now”. Bà Đoàn Thị Thu Hướng ký tên ủng hộ với quả quyết: “Tôi là người Việt Nam”. Linh pham ở thành phố Hồ CHí MINH, VIET NAM, đã ký tên và nhắn gởi: “Vì quyền tự do tôn giáo”.

140917007

14091700

140917001

140917002

140917003

140917004

140917005

140917006 140917005

140917008

140917009

 

140917010

140917011

140917012

140917013

140917014

140917015

140917016

140917017

140917018

140917019

140917020

140917021

Read more

Công bất an: Những vụ tử vong khi bị tạm giam, giữ

VRNs (17.09.2014) – Bangkok, Thái Lan – Human Rights Watch công bố Bản tường trình về các vụ tử vong trong khi bị công an câu lưu, giam giữ, hôm qua, 16.09.2014.

 

Tóm tắt

Ra khỏi đồn công an mà vẫn còn sống? Đúng là chuyện thần kỳ! -  Một người dùng Facebook không rõ tên, tháng Chín năm 2012

Bình thường như chết ở công an phường!Một người dùng Facebook không rõ tên, tháng Chín năm 2012

Một ngày tháng Hai năm 2011, ông Trịnh Xuân Tùng, 53 tuổi, lên ngồi sau một chiếc xe ôm tới Bến xe Giáp Bát đông đúc của Thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, vẫn còn ngồi trên xe, ông cởi mũ bảo hiểm để gọi điện thoại. Một viên công an, Trung tá Nguyễn Văn Ninh, ngay lập tức đòi phạt người lái xe ôm vì chở khách không đội mũ bảo hiểm.

Người lái xe phản đối, rằng anh không thể kiểm soát được hết mọi việc làm của khách đi xe. Sau đó xảy ra va chạm, khi ông Trịnh Xuân Tùng cố giải thoát người lái xe ôm đang bị công an túm cổ áo, ông bị viên trung tá và vài người khác đấm, đá, và đập bằng dùi cui. Sau đó họ còng tay ông, đưa về đồn công an, còng tay ông vào một chiếc ghếdù ông kêu rằng đang bị đau dữ dội. Khi người nhà ông Tùng nghe tin, họ đến đồn công an và xin được đưa ông đi bệnh viện. Nhưng họ bị từ chối đến ba lần. Công an cũng không cho phép con gái ông Tùng cho cha ăn. Ngược lại, họ còn ra lệnh cho người nhà lau chùi chỗ ông nôn ra. Phải mất mấy tiếng đồng hồ sau khi ông Tùng bị chấn thương, công an mới cho người nhà đưa ông đi bệnh viện, ở đó ông bị chẩn đoán gẫy đốt sống cổ. Khoảng một tuần sau, ông Tùng tử vong.

140911006

***

 

Đây không phải là một trường hợp cá biệt về nạn bạo hành của công an. Dù trong quá khứ, những trao đổi công khai về tình trạng bạo hành của công an ở Việt Nam bị hạn chế tối đa, bởi cơ chế một đảng cầm quyền và báo chí do nhà nước kiểm soát, nhưng vấn nạn này giờ đây bắt đầu được thảo luận khá rộng rãi ở những không gian riêng tư. Hơn nữa, những nhân tố can đảm trong ngành báo chí, giới blogger và các nạn nhân ngày càng gia tăng sức ép để đưa vấn đề này ra công luận.

Phúc trình này tập trung vào những vụ được coi là bị bạo hành trong khi bị công an tạm giam, tạm giữ ở Việt Nam từ tháng Tám năm 2010 đến tháng Bảy năm 2014, trong đó có tính cả quãng thời gian từ khi bị bắt, thẩm vấn tại trụ sở công an và tạm giam trước khi xét xử. Phúc trình này không đề cập đến nạn lạm dụng tại các trại thi hành án sau xét xử, vì đó là một vấn nạn khác, có các nguyên nhân riêng và cần đến những giải pháp riêng.

Mặc dù Tổ chức Theo dõi Nhân quyền có tiến hành nghiên cứu ở Việt Nam để xây dựng bản phúc trình này, chúng tôi không phỏng vấn các nạn nhân và nhân chứng trong nước, vì việc đó có thể dẫn đến hậu quả gần như chắc chắn rằng những người trả lời phỏng vấn sẽ bị trả đũa. Thay vào đó, phúc trình này dựa trên kết quả tìm hiểu các vụviệc bạo hành của công an được đăng tải trên các tờ báo tiếng Việt, tất cả đều thuộc sở hữu nhà nước, cũng như các tin bài từ các blogger độc lập, các nhà báo tự do và các hãng thông tấn nước ngoài. Nhiều tin, bài trong phúc trình chưa từng được xuất bản bằng tiếng Anh và, theo sự hiểu biết của chúng tôi, đây là bản phân tích đầu tiên về các đặc điểm chung của tình trạng bạo hành của công an ở quy mô toàn quốc, dựa trên các vụ việc thực tế. Chúng tôi tìm được các tin, bài về tình trạng công an bạo hành xảy ra tại hơn 44 trong số 58 tỉnh thành của Việt Nam, bao gồm cả năm thành phố lớn nhất (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh).

Dù chỉ nêu một phần trong tổng số các vụ việc để minh họa, phúc trình nhấn mạnh các vụ làm chết người trong khi tạm giam, giữ, các vụ tử vong với nguyên nhân được cho là tự tử, chết không rõ nguyên nhân trong khi tạm giam (trong đó có những nam thanh niên đang độ 20, 30 tuổi trước đó vẫn khỏe mạnh rồi bị cho là chết vì bệnh tật), tra tấn và đánh đập – kể cả đánh đập trẻ vị thành niên, và một trường hợp là người mắc bệnh tâm thần.

Trong số các nạn nhân, có những người bị nghi là đã phạm các tội nghiêm trọng, ví dụ như giết người, nhưng đa số trường hợp là những người liên can đến những tội ít nghiêm trọng, những vụ bất hòa trong gia đình hay lỗi giao thông. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân dẫn đến cái chết có vẻ như xuất phát từ nỗ lực ép nạn nhân thú tội, nhưng một số trường hợp dường như bạo lực đã được sử dụng để trừng phạt, trả đũa đối tượng đang bị tạm giam, tạm giữ.

Trong đa số các vụ việc, những công an liên can tới bạo hành không bị kỷ luật, hay chỉ phải nhận hình thức xử lý rất nhẹ so với mức độ nghiêm trọng của hậu quả tội ác họ gây ra. Có người thậm chí sau đó còn được thăng chức.

Chỉ có một số ít các vụ tử vong nêu trong phúc trình này được báo chí đưa tin khá đầy đủ, thường là trong trường hợp gia đình nạn nhân tích cực đi tìm kiếm công lý và tiếp xúc với báo chí. Đa số các vụ tử vong khác chỉ được đưa tin vắn tắt trên báo chí địa phương. Với tình trạng hạn chế tự do báo chí kéo dài nhiều năm ở Việt Nam, hẳn con sốthực tế về các vụ bạo hành còn lớn hơn trong phúc trình này rất nhiều.

 

Những vụ tử vong trong khi bị tạm giam, giữ

Với một số vụ, chính quyền thừa nhận tình trạng người dân chết khi đang bị tạm giam, giữ, trong những hoàn cảnh dường như không cần hoặc chỉ cần sử dụng vũ lực ở mức tối thiểu.Ví dụ như, vào tháng Tám năm 2012, sau khi bắt giữ ông Nguyễn Mậu Thuận chưa đến ba tiếng đồng hồ vì một xích mích nhỏ với hàng xóm, công an đánh ông đến chết, dù ông không hề có hung khí. Kết quả giảo nghiệm tử thi cho thấy ông bị gẫy ba xương sườn và có nhiều vết bầm tím. Tháng Ba năm 2011, Trần Văn Dữ cũng tử vong trong một tình huống tương tự. Tháng Tám năm 2011, Trần Gòn bị công an đánh đến chết vì bị nghi đã ăn trộm; và Lê Phúc Hùng chết trong tháng Tám năm 2010 sau khi bịbắt cũng về hành vi tương tự như trường hợp nói trên.

Có một số vụ, công an phủ nhận rằng chưa từng bắt giữ những người sau đó đã chết trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ, hay cung cấp thông tin khó tin nổi về nguyên nhân gây ra cái chết trong khi tạm giam, giữ đối với hàng chục vụ được cho là tự tử bằng cách treo cổ hay điện giật. Đơn cử trường hợp Nguyễn Công Nhựt, tử vong ngày 25 tháng Tư năm 2011, bốn ngày sau khi bị công an bắt để điều tra về một vụ trộm tại nơi anh làm việc. Điều khó hiểu ở đây là công an tuyên bố rằng anh đã treo cổ tự tử, nhưng đồng thời phủ nhận sau cái chết của anh Nhựt rằng họ chưa từng bắt giữ hay tạm giam anh. Theo tuyên bố của công an, anh Nhựt “tự nguyện” ở lại đồn công an để giúp khám phá một vụ án liên quan đến các tài sản bị mất ở công ty anh đang làm việc. Công an cũng công bố bản sao một lá thư được cho là thư tuyệt mệnh của Nguyễn Công Nhựt, trong đó anh nói với vợ rằng mình không hề ăn cắp tài sản của công ty và khen ngợi công an là “những điều tra viên tuyệt vời nhất.” Số lượng các vụ được cho là tự tử trong khi bịcông an giam, giữ phổ biến tới mức một số nhà hoạt động về quyền lợi đất đai đã làm sẵn chúc thư, khẳng định rằng mình hoàn toàn khỏe mạnh về tinh thần và thể xác và không hề có ý định tự tử trong trường hợp bị công an bắt.

Trong nhiều trường hợp, công an chỉ đưa ra lời giải thích qua loa và thiếu thuyết phục về nguyên nhân cái chết trong khi tạm giam, giữ, ngay cả với những trường hợp họ cảm thấy cần phải thông báo cho công luận. Đáng ngạc nhiên là có khá nhiều vụ trong đó nạn nhân tử vong, nhiều người trước đó hoàn toàn khỏe mạnh, đang trong độ tuổi 20 đến 30, vì lý do được cho là bệnh lý, trong đó có chứng phù phổi, vốn không phải là nguyên nhân thường gây ra cái chết của thanh niên.

 

Tra tấn trong khi tạm giam, giữ

Những vụ bị công an dùng nhục hình không dẫn đến chết người ở Việt Nam dễ theo dõi hơn so với những trường hợp tử vong, vì nạn nhân còn sống để kể lại câu chuyện của mình. Tương tự những vụ tử vong trong khi bị công an tạm giam, giữ, các trường hợp bị công an bạo hành nhưng không gây chết người cũng được đưa tin tại khắp các địa phương trên cả nước, cho thấy đây là vấn nạn lan tràn trên diện rộng.

Các trường hợp bị tra tấn trong khi tạm giam, giữ có một số đặc điểm chung. Nhiều nạn nhân cho biết họ bị đánh đập để buộc nhận tội, nhiều khi đối với những tội họ tuyên bốrằng họ không phạm. Những người khác kể rằng họ bị đánh vì đã chỉ trích hay cố tranh luận phải trái với công an. Nhiều người có vi phạm các lỗi hành chính nhẹ, như lỗi giao thông, hay bị coi là có tham gia các hoạt động vi phạm hình sự nhẹ hoặc có xích mích trong gia đình. Công an thường sử dụng vũ lực trong các vụ đột kích sới chọi gà hay ổcờ bạc nhỏ.

Đơn cử một vụ vào tháng Mười một năm 2012, Nguyễn Hữu Tiến bị còng tay và áp giải về đồn công an ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, sau khi cãi nhau với vợ. Ở đồn công an, ông bị đập dùi cui vào đùi, bị đánh vào bụng và ngực. Cuối cùng, công an có lời xin lỗi và bồi thường viện phí cho Nguyễn Hữu Tiến. Trong một vụ việc khác xảy ra vào tháng Tám năm 2012, công an bắt giữ và đánh tàn nhẫn bằng dùi cui điện bảy nam thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 17 đến 21 ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh vì họ bị cho là đã khởi xướng một vụ ẩu đả trong một trận bóng đá.

 

Căn nguyên của nạn công an bạo hành

Có nhiều yếu tố dẫn đến tình trạng công an bạo hành. Trước tiên, với tư cách một bộ phận của phong trào cách mạng cộng sản, lực lượng công an luôn xác định mình là một công cụ chính trị để bảo vệ quyền lực cộng sản chống lại các thế lực thù địch trong và ngoài nước hơn là một tổ chức nghề nghiệp. Di sản của khuynh hướng chính trị nói trên còn tồn tại đến hôm nay, được thể hiện cụ thể qua cách thức tuyển dụng nhân sự của Bộ Công an (BCA), với quy định yêu cầu tất cả những người muốn được nhận vào phải là Đảng viên hay Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản, và luôn đề cao chủ nghĩa Mác – Lê Nin cùng Tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đào tạo. Ưu tiên đề cao thành phần và lòng trung thành chính trị trong quá trình tuyển dụng và đào tạo nhân sự nói trên của BCA đã phá hủy các tiềm năng chuyên nghiệp hóa lực lượng này một cách đích thực.

Vấn nạn lạm quyền của công an cũng khởi phát từ việc không quan tâm thích đáng đến lực lượng Công an Xã, thực ra là lực lượng quan trọng nhất, trực tiếp có mặt ở địa bàn tại nhiều địa phương trên cả nước. Lực lượng này tiếp xúc hàng ngày với dân chúng, đa số sống ở các vùng nông thôn, nhưng cho tới nay vẫn là một đơn vị bán chuyên trách, bị coi là đội ngũ hạng hai trong BCA. Những người thuộc Công an Xã thường có mức lương và phúc lợi thấp hơn công an ở cấp huyện, tỉnh hay trung ương, và thường không được tính vào hệ thống cấp bậc hàm chuyên nghiệp của BCA, khiến cơ hội thăng tiến nghề nghiệp và động cơ phấn đấu trong công việc bị hạn chế. Họ cũng không được đào tạo đầy đủ về luật pháp và nghiệp vụ cơ bản. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các vụ bạo hành được ghi nhận trong phúc trình này là do Công an Xã gây ra.

Yếu tố thứ ba gây ra tình trạng bạo hành của công an là vẫn chưa có được một nền văn hóa pháp lý đủ mạnh ở Việt Nam. Dù bộ luật tố tụng hình sự quy định rằng không ai có thể bị coi là có tội trước khi bị tòa kết án, nguyên tắc “suy đoán vô tội” không tồn tại thực sự trong môi trường văn hóa chung của ngành công an nhà nước. Trong một số vụviệc chúng tôi nghiên cứu, công an bắt người chỉ dựa trên nghi vấn mơ hồ mà không có bằng chứng bổ trợ, rồi đánh đập đối tượng để buộc thú tội; phớt lờ thủ tục cơ bản nhằm bảo đảm cho người dân không bị ngược đãi hay bắt giữ tùy tiện; hay nhiều khi bắt giữ và còng tay người bị tình nghi mà không có lệnh bắt. Có trường hợp công an thẩm vấn trẻ vị thành niên hay người mắc bệnh tâm thần mà không có sự có mặt của người giám hộ hợp pháp. Nhưng có lẽ điều nhức nhối nhất là luật sư bào chữa hay người trợgiúp pháp lý hầu như không đóng vai trò gì trong quá trình điều tra tội phạm, trong khi nghi can bị tạm giữ và lấy lời khai. Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện bản phúc trình này, chúng tôi thấy chỉ có một vài vụ đếm được trên đầu ngón tay là có luật sư hay người đại diện pháp lý có phần nào vai trò đại diện cho người đang bị tạm giam, giữ. Điều này bộc lộ vấn đề lớn hơn trong hệ thống tố tụng hình sự ở Việt Nam: theo một bài đăng trên trang web của Bộ Tư pháp, tỷ lệ bị can có sử dụng luật sư bào chữa chỉkhoảng 21 phần trăm trên tổng số các vụ án hình sự.

Bốn là, nhìn chung có tình trạng miễn trừ trách nhiệm đối với những người vi phạm trong các vụ công an bạo hành, những công an gây các lỗi nghiêm trọng, thậm chí chết người, hiếm khi phải đối mặt với hậu quả tương xứng (trong phúc trình này, chúng tôi có bao gồm một số vụ mà công an bị buộc phải chịu trách nhiệm cho hành vi của họ, chứng tỏ rằng hệ thống có thể hoạt động hiệu quả nếu đủ ý chí chính trị). Trong hầu hết các vụ được chính thức xác nhận là có bạo hành, công an chỉ phải nhận hình thức kỷluật nội bộ nhẹ, như khiển trách hay cảnh cáo. Hiếm khi công an gây ra các vụ nói trên bị hạ bậc, thuyên chuyển hay buộc ra khỏi ngành; bị truy tố và kết án lại càng hiếm hơn nữa. Ngay cả khi bị truy tố và kết án, công an dường như chỉ phải nhận mức án nhẹ hay án treo. Qua tất cả các vụ chúng tôi nghiên cứu, thì hình thức xử phạt nặng nhất là mức án tám năm tù dành cho công an vì đã đánh chết đối tượng trong khi tạm giữ. Trong tổng số các vụ hiếm hoi đó, đa số công an bị quy trách nhiệm về cái chết của đối tượng trong khi tạm giam, giữ chỉ phải nhận từ hai đến bốn năm tù.

Việt Nam cũng thiếu một hệ thống giám sát, kiểm tra chéo trong bộ máy hành chính và chính trị khả dĩ hạn chế sự lạm quyền của công an. Hầu hết các tổ chức độc lập với đảng và nhà nước đều bị cấm ở Việt Nam. Các tổ chức được gọi là “tổ chức quần chúng” hoạt động dưới cái bóng của Mặt trận Tổ quốc do đảng kiểm soát – ví dụ như Hội Liên hiệp Phụ nữ hay Tổng Liên đoàn Lao động –không có chút quyền lực chính thức nào để giám sát ngành công an. Việt Nam thiếu một cơ quan độc lập để tiếp nhận khiếu tố về công an và điều tra các khiếu tố liên quan tới công an bạo hành, đồng thời luật pháp cũng không yêu cầu phải điều tra độc lập và công bố kết quả công khai về tất cả các trường hợp tử vong trong khi tạm giam, giữ. Và cũng không có một cơ quan độc lập có chức năng xem xét lại các vụ được coi là tự tử trong khi bị công an tạm giam, giữ.

Cuối cùng, báo chí trung ương và địa phương chưa bao quát đủ được về vấn nạn công an bạo hành. Tốc độ phát triển nhanh của mạng Internet đã phần nào giúp nới lỏng sựkiểm soát gắt gao của đảng về thông tin. Nhưng tất cả mọi cơ quan truyền thông chính thức vẫn còn nằm trong bàn tay của nhà nước hay đảng, và sự thiếu vắng báo chí độc lập đã hạn chế nặng nề thể loại phóng sự điều tra. Báo chí vẫn thường xuyên đưa tin về các vụ công an bạo hành, nhưng chưa đầy đủ, thiếu chiều sâu và không có sự tiếp nối để tìm hiểu về trách nhiệm trong vụ việc ở cấp cao hơn. Các nhà báo hiếm khi được sự trợ giúp đầy đủ của ban biên tập hay các chỗ dựa chính trị để phản bác lại phiên bản vềsự việc do bên công an đưa ra, hay chỉ ra những mâu thuẫn hiển nhiên trong lập luận của BCA. Báo chí thường xuyên phải nhận chỉ thị không được theo đuổi các sự việc động chạm tới lợi ích của những người có thế lực.

Việt Nam đàn áp một cách có hệ thống các blogger có nỗ lực trở thành nhà báo độc lập hay bình luận viên phê phán chính quyền. Tháng Tư năm 2014, công an giải tán một cuộc họp mặt nhân quyền tại một quán cà phê ở Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) để trao đổi về vấn đề những người dân thường bị chết dưới tay công an và phân phát bản sao của Công ước Chống tra tấn của LHQ. Một số người dự định tham gia cuộc thảo luận, trong đó có người nhà của nạn nhân đã bị công an bạo hành, bị câu lưu một thời gian ngắn và bị hành hung.

Kết quả nghiên cứu do Tổ chức Theo dõi Nhân quyền thực hiện và trình bày trong phúc trình này khẳng định rằng tình trạng công an bạo hành ở Việt Nam đang diễn ra với tốc độ đáng báo động. Việc thừa nhận quy mô và mức độ nghiêm trọng của nạn công an bạo hành sẽ là bước đầu tiên hướng tới giải pháp cho vấn nạn này. Giải pháp đó sẽ phải bao gồm các bước như cải tổ lực lượng công an, giáo dục công chúng về cơ chế bảo vệ pháp lý, và buộc những kẻ vi phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

 

Phương pháp nghiên cứu

Các vụ công an bạo hành được đưa vào phúc trình này diễn ra từ tháng Tám năm 2010 đến tháng Bảy năm 2014. Thông tin được thu thập và đối chiếu với các hãng thông tấn quốc tế, các trang mạng xã hội, các blog độc lập ở trong và ngoài nước Việt Nam, và các tờ báo tiếng Việt do nhà nước quản lý, xuất bản ở địa phương và toàn quốc. Trong điều kiện cho phép, dữ liệu báo chí đều được kiểm chứng với các nguồn khác để đảm bảo tính chính xác. Trong trường hợp có nhiều nguồn thông tin mô tả cùng một sự việc theo nhiều cách khác nhau, chúng tôi ghi nhận các sự khác biệt đó.[1]

Các blog độc lập ở Việt Nam ngày càng trở thành các nguồn thông tin có giá trị hơn, dù một số blog đáng tin hơn số khác, và tất cả đều cần kiểm chứng độc lập. Một số blog có các bài đưa tin với chất lượng hạng nhất, nhưng vì công an liên tục sách nhiễu các tác giả và thường xuyên đóng cửa các blog này, các bài điểm tin và bình luận độc đáo của họ chỉ tồn tại tùy từng lúc.[2]

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền không tổ chức thực hiện phỏng vấn trực tiếp các nạn nhân ở Việt Nam, vì sợ việc đó sẽ dẫn tới hậu quả là các cá nhân và tổ chức tiếp xúc với chúng tôi sẽ bị trả đũa. Báo chí Việt Nam thường gọi những người phê phán chính quyền có tiếp xúc với các tổ chức quốc tế là “hợp tác với các thế lực thù địch” và cáo buộc họ với các tội danh như “chống chính quyền nhân dân.” Ngay cả các trao đổi bằng email với các blogger và người nhà nạn nhân cũng phải hạn chế vì e ngại chính quyền sẽtheo dõi các trao đổi này.

Ngày mồng 6 tháng Năm năm 2014, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền có gửi một văn thư tới nhiều cơ quan chính quyền để xin thông tin về một số vụ việc cụ thể và về hệ thống xử lý các hành vi được cho là bạo hành của công an. Dù đã nhiều lần yêu cầu phúc đáp, đến thời điểm viết phúc trình này chúng tôi vẫn không nhận được một phản hồi nào.

 

I. Ngành Công an Việt Nam

Bộ Công an (BCA) là cơ quan chủ quản ngành. Các nhánh tổ chức của Bộ này vươn tới mọi cấp trong xã hội Việt Nam.

Lần ngược lại nguồn gốc của BCA, khởi thủy là các nhóm nhỏ dân quân vũ trang được lãnh tụ Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh, thành lập trong những ngày hỗn loạn của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Năm 1946, Sắc lệnh số 23 được ban hành, tập hợp các nhóm này thành một lực lượng hợp nhất với mục đích duy trì trật tự, chống ngoại địch và trấn áp các phe nhóm tranh giành quyền lực quốc nội. Theo Sắc lệnh số 23, trách nhiệm của công an bao gồm thu thập thông tin về an ninh quốc gia cả trong và ngoài, đề xuất và thực thi các biện pháp ngăn chặn các hành động xâm phạm trật tự và an ninh quốc nội, và tiến hành điều tra các hành vi đó.[3]

Tháng Hai năm 1953, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 141 nâng cấp, lúc đó là Nha Công an thành Thứ bộ, rồi đến tháng Sáu năm đó chính thức trở thành Bộ Công an. Nhiệm vụcủa Bộ này bao gồm đấu tranh chống kẻ địch, gián điệp và “phản động” trong và ngoài nước, “bài trừ lưu manh, trộm cướp,” duy trì trật tự, và quản lý trại giam.[4]

Tháng Bảy năm 1956, Cục Cảnh sát Nhân dân được thành lập theo Nghị định 982, và nhập vào BCA.[5] Theo Nghị định 982, và Pháp lệnh 34 năm 1962 sau này, nhiệm vụcủa Cảnh sát Nhân dân là đấu tranh trấn áp “bọn phản cách mạng,” “lưu manh, côn đồ, trộm cắp, buôn lậu,” “bài trừ những tệ nạn xã hội” và nhiều công việc khác nhằm duy trì trật tự công cộng, kiểm soát và quản lý các mặt đời sống thường ngày của người dân, trong đó có hộ khẩu, đi lại, ngành in ấn, thậm chí cả ngành sản xuất, sửa chữa mua bán máy và phụ tùng vô tuyến điện, v.v…[6]

Tháng Ba năm 1959, lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang, thành lập theo Nghị định 100, được bổ sung vào BCA. Năm 1975, Quốc hội hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội vụthành một cơ quan là  Bộ Nội vụ.[7] Năm 1998, lại có quyết định ngược lại, khi Bộ Nội vụ đổi lại tên thành Bộ Công an (BCA)–cái tên được giữ nguyên cho đến nay.[8]

BCA được coi là một tổ chức trọng yếu của đảng cộng sản, một vị thế vẫn được duy trì cho đến hôm nay. Theo Luật Công an, BCA hoạt động “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam.”[9] Để bảo đảm sự gắn bó keo sơn với đảng, luật quy định rằng mọi thành viên của BCA, xuống tới cấp xã, phải là đảng viên ĐCS, hay tổ chức thanh niên của đảng này là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.[10] Trong lễ kỷ niệm thành lập lực lượng công an vào tháng Tám năm 2013, Bộ trưởng Trần Đại Quang nhấn mạnh mối liên kết truyền thống giữa đảng và công an. Ông phát biểu: “[công an] chỉ biết còn Đảng là còn mình”.[11]

Được sự trợ giúp với một mạng lưới chằng chịt các cộng tác viên có trả tiền và không được trả tiền, BCA vẫn luôn duy trì một hệ thống theo dõi sát sao đối với dân chúng.[12]Dù hệ thống này có phần nào được nới lỏng hơn kể từ khi những cải cách của thời Đổi mới bắt đầu được áp dụng trong những năm giữa thập niên 1980, BCA vẫn kiểm soát nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội và chính trị của người dân.[13] Nhiệm vụ chính trị của BCA vẫn còn đặc biệt quan trọng. Trong một bài phát biểu vào tháng Mười hai năm 2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu dương lực lượng công an vì đã “đấu tranh làm thất bại các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.”[14]

Được tăng cường liên tục và nhanh chóng trong suốt 20 năm qua, BCA đã trở thành một trong hai bộ có ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam (cùng với Bộ Quốc phòng). Trong số16 thành viên của Bộ Chính trị đầy quyền lực, có tới ba thành viên xuất thân từ Bộ Công an: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (nguyên Thứ trưởng Bộ Công an); đương kim Bộ trưởng Bộ Công an, Tướng Trần Đại Quang; và nguyên Bộ trưởng Bộ Công an, Tướng Lê Hồng Anh.[15]

Không chỉ mạnh về con số đại diện trong tầng lớp lãnh đạo cao nhất của đảng, quyền lực của BCA còn được gia tăng với một thực tế là bộ này có vô số cơ sở và định chế trực thuộc. Trong đó có thể kể đến các công ty kinh doanh, nhà khách, khu tập thể, bệnh viện, hàng loạt tờ báo và tạp chí, một nhà xuất bản lớn, một Trung tâm Phát thanh, Truyền hình và Điện ảnh, mới thành lập một kênh truyền hình riêng. BCA quản lý hệ thống trại giam, và điều hành một mạng lưới đào tạo phức tạp gồm các trung tâm huấn luyện, một số trường cao đẳng và đại học.

Để tô điểm hình ảnh của mình, BCA duy trì một bảo tàng công an ở Hà Nội, một viện nghiên cứu lịch sử ngành công an và một số đoàn văn nghệ và đội thể thao chuyên nghiệp.

 

Cơ cấu Lực lượng Công an

BCA gồm hai lực lượng chủ chốt: An ninh Nhân dân, chịu trách nhiệm về an ninh quốc gia, và Cảnh sát Nhân dân, chuyên trách trật tự và an toàn xã hội.[16]

Chuyên trách về tội phạm chính trị, lực lượng An ninh Nhân dân có mục đích ngăn ngừa và làm thất bại các âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, thu thập thông tin tình báo và bảo đảm an ninh trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng và thông tin. Lực lượng này cũng quản lý lĩnh vực xuất nhập cảnh và người nước ngoàiở Việt Nam.

Lực lượng Cảnh sát Nhân dân giải quyết các công việc giống với ngành cảnh sát nói chung hơn: điều tra tội phạm, quản lý khu dân cư, điều hành giao thông, đăng ký nhân khẩu, chứng minh thư và quy định về bảo vệ môi trường.[17]

BCA được tổ chức theo chiều dọc, ở cấp quốc gia, cấp tỉnh, huyện và cấp xã.[18] Theo chiều ngang, BCA được chia thành tám tổng cục: an ninh nước ngoài; an ninh nội địa; xây dựng lực lượng; hậu cần và kỹ thuật; tình báo; hình sự; giao thông, phòng cháy chữa cháy và đăng ký nhân khẩu; và trại giam và hỗ trợ tư pháp.[19] Các tổng cục này chỉhuy các đơn vị tương ứng ở cấp tỉnh, thành và tương tự như vậy, cấp tỉnh lại chỉ huy cấp huyện.[20]

Ở cấp xã, là đơn vị hành chính nhỏ nhất của Việt Nam, chịu trách nhiệm ổn định trật tự là lực lượng Công an xã, có mặt ở khắp mọi nơi, gồm một trưởng công an xã, một hoặc hai phó công an xã và các công an viên dưới quyền.[21] Con số chính xác về nhân sự công an từng xã tùy thuộc vào số lượng các thôn xóm trong xã đó.[22] Mỗi thôn, xóm có từ một đến hai công an phụ trách, tùy theo số dân nhiều hay ít.

Công an cấp xã chịu sự điều hành trực tiếp của Đảng ủy xã và công an huyện.[23] Dù là một bộ phận chủ chốt của BCA, công an xã vẫn chỉ được coi là lực lượng bán chuyên trách.[24] Có nghĩa là lực lượng này gồm những người được tuyển dụng từ địa phương, không qua đào tạo chính quy và không được đưa vào hệ thống cấp bậc chính thức của BCA. Một người chỉ cần khỏe mạnh và đủ điều kiện về chính trị là có thể được tuyển vào làm công an xã dù trình độ văn hóa chỉ ở cấp trung học.[25] Ở các xã vùng sâu vùng xa, yêu cầu về trình độ văn hóa tối thiểu là tiểu học, ngay cả đối với vị trí trưởng và phó công an xã.[26]

Trên lý thuyết, sau khi gia nhập lực lượng công an ở cấp xã, công an viên mới sẽ được dự các khóa đào tạo tổ chức một hoặc hai lần mỗi năm, mỗi khóa kéo dài từ 10 ngày đến 3 tuần. Trong thời gian đó, công an xã sẽ được tiếp thu các bài giảng về chính trị rất nặng, các kiến thức pháp luật cơ bản và kỹ năng nghiệp vụ. Trên thực tế, phần nào vì kinh phí hạn chế, các khóa này dường như chủ yếu được dành cho cấp trưởng hoặc phó công an xã.[27] Các khóa tập huấn cho công an viên cấp xã đương nhiệm được tổchức thưa hơn và có thể chỉ diễn ra trong vài ngày.[28] Theo báo Pháp luật Việt Nam, tính đến tháng Mười năm 2012, có tới hơn 20,000 công an xã chưa từng dự một lớp đào tạo nào.[29]

 

II. Các khuyến nghị

Đối với Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Quy trách nhiệm

·         Thể hiện một cách rõ ràng, không úp mở thông điệp rằng việc sử dụng các hình thức tra tấn, đánh đập hay ngược đãi khác trong quá trình tạm giam, tạm giữ là không thểchấp nhận được và sẽ bị nghiêm trị, qua các thông cáo chính thức, tài liệu nội bộ và các biện pháp cụ thể của các quan chức cao cấp nhà nước và các lãnh đạo cao nhất trong ngành công an.

·         Đảm bảo rằng những công an liên can tới tra tấn và các hành vi ngược đãi khác, bất kể ở cấp bậc nào, đều bị kỷ luật hoặc truy tố thích đáng. Các sỹ quan cấp trên tham gia, hoặc bao che hay không có hành động xử lý các hành vi tra tấn hay ngược đãi của cấp dưới sẽ bị kỷ luật hoặc truy tố. Bất kỳ một công an nào bị phát hiện có tham gia tra tấn hay các hành vi ngược đãi khác sẽ bị khai trừ khỏi ngành và cấm không được làm việc trong ngành công an hay lĩnh vực thực thi pháp luật trong tương lai.

·         Nếu đã xác định được rằng nội dung khiếu tố về một công an là có cơ sở, cần đảm bảo rằng người đó phải bị xử lý thích đáng, có thể truy tố hình sự. Nếu chưa đến mức khởi tố hình sự thì phải chịu kỷ luật nội bộ thích đáng, bao gồm các hình thức buộc ra khỏi ngành, nghỉ việc tạm thời, hay hạ cấp bậc. Nếu không truy cứu hình sự hay kỷ luật nội bộ, ngành công an cần giải thích công khai lý do không xử lý.

·         Công bố nguyên tắc trong bất cứ hoàn cảnh nào, công an không được tìm cách cản trở hay đe dọa người tố cáo, với chế tài hình sự hoặc kỷ luật ngành đối với những người vi phạm.

·         Chỉ đạo ngành công an chấm dứt việc cho những người bị câu lưu viết cái gọi là “bản cam kết tự nguyện ở lại trụ sở công an.” Nếu người dân tình nguyện giúp công an điều tra, không nên buộc họ ở lại đồn công an qua đêm để làm việc này. Những nhân chứng cần được bảo vệ cần được đưa vào các chương trình bảo vệ nhân chứng, không phải ở trụ sở công an.

  • Chỉ đạo ngành công an loại bỏ thủ tục gọi là “biên bản không bị công an đánh,” đôi khi được đưa ra để yêu cầu người bị câu lưu ký trước khi được thả.

·         Xây dựng một hệ thống giám sát công an từng bị khiếu tố về bạo hành hay có hành vi sai trái, nhằm nhận dạng những công an đã lạm dụng quyền lực được giao. Hệthống giám sát này phải được vận dụng để đảm bảo rằng những công an có vấn đề sẽ bị điều tra và xử lý thích đáng, được cung cấp những chương trình tập huấn cần thiết, và nếu phạm tội hình sự, phải bị khai trừ khỏi lực lượng công an và truy tố.

  • Rà soát lại hồ sơ nhân sự của công an hiện đang làm việc trong ngành để đảm bảo rằng những người từng liên can đến bắt giữ trái pháp luật, tra tấn hay các hành vi lạm quyền khác phải bị điều tra, và nếu thấy nội dung khiếu tố có bằng chứng, phải bị kỷ luật, buộc ra khỏi ngành hay truy tố hình sự.

·         Đệ trình lên Quốc hội một bản báo cáo thường niên công khai, với số liệu về các vụ thanh tra, điều tra đối với công an, các cáo buộc, tình trạng của các vụ việc đó, cũng như số liệu các khiếu nại tố cáo của người dân đối với công an về các trường hợp được cho là công an bạo hành.

 

Cải cách Tổ chức

.          Thành lập một ủy ban độc lập về khiếu tố đối với ngành công an để tiếp nhận khiếu tố của người dân và giám sát bộ phận “thanh tra nội bộ” hay “trách nhiệm nghề nghiệp” của lực lượng công an. Ủy ban này cần:

o   Phải có quyền chế tài để truy tố hay đưa ra biện pháp kỷ luật, nếu xét thấy bộ phận thanh tra hoặc trách nhiệm nghề nghiệp giải quyết chưa thỏa đáng trong các trường hợp có khiếu tố mang tính khả tín cao.

o   Thường xuyên công bố các báo cáo công khai về tình trạng tiếp nhận và giải quyết các khiếu tố, điều tra và hình thức xử lý.

o   Xây dựng một thang chuẩn về mức độ vi phạm và hình thức xử lý, ví dụ như một quy định hay bảng xếp loại mức kỷ luật tương ứng với từng cấp độ vi phạm, để không còn tình trạng áp dụng mức kỷ luật khá tùy tiện.

o   Cung cấp cho những người khiếu nại, tố cáo các hướng dẫn rõ ràng và biểu mẫu đơn giản, với một số điện thoại liên lạc để có thể kiểm tra tình trạng điều tra về khiếu tố của mình.

o   Thiết lập và công bố một đường dây nóng trên điện thoại và Internet sẵn sàng 24/24 để các nạn nhân bị công an bạo hành thông báo các vi phạm (như đãthực hiện đối với các vi phạm của cảnh sát giao thông).

o   Thành lập một cơ quan giải quyết các yêu cầu về y tế và tâm lý dành cho các nạn nhân bị công an bạo hành.

o   Thành lập một cơ quan giải quyết việc đền bù thích đáng cho các nạn nhân.

·         Thành lập bộ phận thanh tra nội bộ hay trách nhiệm nghề nghiệp ở các cấp tỉnh, thành và huyện để điều tra một cách nhanh chóng và vô tư về tất cả các vụ có khiếu nại, tố cáo bị ngược đãi trong khi giam, giữ dẫn đến chết người hoặc bị thương.

·         Đưa lực lượng công an xã vào biên chế Bộ Công an một cách chính thức và đồng bộ để được giám sát và đào tạo đầy đủ với các chương trình tập huấn cần thiết.

·         Cung cấp các chương trình huấn luyện pháp lý kỹ lưỡng và chuyên nghiệp cho tất cả mọi công an, kể cả công an cấp phường xã, là những người hàng ngày tiếp xúc với người dân.

 

Cải tổ Chính sách và Pháp luật

  • Thúc đẩy Quốc hội phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về Chống Tra tấn và Các Hình thức Trừng phạt và Đối xử Tàn ác, Vô nhân đạo hay Hạ nhục càng sớm càng tốt.

·         Sửa đổi luật và các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ đối với ngành công an về sử dụng vũ lực trong bắt giữ để phù hợp với tiêu chuẩn luật pháp quốc tế, trong đó có Quy ước Đạo đức của Liên Hiệp Quốc đối với Sỹ quan Thực thi Pháp luật, và Các nguyên tắc Cơ bản của Liên Hiệp Quốc về Sử dụng Vũ lực, Vũ khí trong ngành Thực thi Pháp luật. Cụthể là, yêu cầu công an, trong chừng mực có thể, sử dụng các biện pháp phi bạo lực trước khi phải dùng đến vũ lực, sử dụng vũ lực chỉ với mức độ tương ứng với độ nghiêm trọng của hành vi tấn công, và dùng vũ lực có thể gây chết người chỉ trong trường hợp bắt buộc để bảo vệ tính mạng.

·         Yêu cầu công an phải thông báo với người bị bắt giữ về quyền được hỗ trợ pháp lý ngay khi bắt giữ.

·         Yêu cầu công an ghi hình tất cả các cuộc lấy lời khai để ngăn ngừa tra tấn và ngược đãi. Không cho phép sử dụng các lời nhận tội trong khi tạm giam, giữ, làm bằng chứng tại tòa, trừ khi được ghi hình đầy đủ.

·         Xác định rõ ràng các kỹ thuật lấy lời khai được phép áp dụng trong quy định và các tài liệu hướng dẫn của ngành công an.

·         Cho phép các tổ chức dân sự xã hội độc lập được giám sát độc lập các cơ sở tạm giam, tạm giữ, bao gồm các phòng tạm giam tại đồn công an và trại tạm giam. Cho phép người đang bị tạm giam, tạm giữ được gặp riêng đại diện của các tổ chức độc lập đang tiến hành việc giám sát trên.

·         Cải thiện cơ sở và điều kiện tại các trại tạm giam. Đảm bảo dịch vụ cấp cứu y tế tại tất cả các cơ sở tạm giam, tạm giữ luôn sẵn sàng mọi lúc và chăm sóc y tế định kỳ cho tất cả những người bị tạm giam, tạm giữ.

·         Cung cấp các chương trình huấn luyện kỹ lưỡng và chuyên nghiệp cho tất cả công an về pháp luật, kỹ thuật lấy lời khai và thủ tục để công an không chỉ dựa vào lời nhận tội để phá án, nhất là lời thú tội do bị ép cung, bạo hành. Bảo đảm rằng mọi chương trình huấn luyện cho ngành công an có bao gồm các nội dung về nhân quyền, về tính phi pháp của hành vi tra tấn, hành hung, bắt giữ trái phép và ép nhận tội.

·         Phát động một phong trào giáo dục quần chúng về các quyền pháp lý của công dân, trong đó bao gồm:

o   Quyền không bị công an bạo hành về thể xác hay bắt giữ trái phép.

o   Quyền được bồi thường trong trường hợp bị những người đại diện cho chính quyền ngược đãi, lạm dụng.

o   Quyền được hỗ trợ pháp lý.

o   Quyền được gia đình thăm nuôi.

·         Khuyến khích và bảo vệ các nhà báo và người cung cấp thông tin cho báo chí đã phát hiện, công bố các vụ công an bạo hành.

  • Bảo đảm tự do Internet để các nhà báo và blogger có thể đóng vai trò cần thiết làm người phát hiện và thông báo về các vụ việc được cho là có sự lạm quyền của công an.

 

Đối với Quốc hội Việt Nam

  • Phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về Chống Tra tấn và Các Hình thức Trừng phạt và Đối xử Tàn ác, Vô nhân đạo hay Hạ nhục và thể hiện các điều khoản bảo đảm của Công ước này trong luật quốc nội.

·         Thành lập một cơ quan giám sát trực thuộc Quốc hội để theo dõi các cơ sở giam giữ, bao gồm các nhà tù, trại giam, nơi tạm giam, tạm giữ trong đồn công an.

·         Sửa đổi Bộ Luật Tố tụng Hình sự hoặc ban hành luật mới quy định quyền được giữ im lặng khi bị công an bắt.

·         Sửa đổi điều 56 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự để loại bỏ yêu cầu luật sư phải có giấy chứng nhận người bào chữa mới được tiếp xúc với người bị bắt giữ và tham gia bào chữa cho thân chủ của mình.

·         Sửa đổi Bộ Luật Tố tụng Hình sự để tạo điều kiện cho luật sư hoặc người trợ giúp pháp lý có mặt ngay sau khi bắt giữ hay tạm giam, giữ, sao cho:

o   Luật sư hay người trợ giúp pháp lý chỉ cần xuất trình căn cước và một bản sao công chứng giấy phép hành nghề luật là có thể gặp thân chủ của mình.

o   Luật sư hay người trợ giúp pháp lý được phép gặp riêng thân chủ mỗi khi cần thiết, không hạn chế thời gian.

o   Luật sư hay người trợ giúp pháp lý được có mặt trong các buổi công an lấy lời khai của người bị tạm giam, tạm giữ.

o   Bất kỳ người nào vi phạm các điều khoản trên sẽ bị xử lý theo pháp luật về hành vi cản trở công lý.

·         Thông qua các quy định pháp lý cần thiết để thực thi các nội dung được khuyến nghị trong bản phúc trình này.

·         Thành lập một ủy ban đặc biệt để giám sát và công bố báo cáo thường niên về những vụ vi phạm của công an.

Đối với Chính phủ các nước và  các Tổ chức Quốc tế đang tài trợ cho Việt Nam Cải cách Luật pháp hoặc Quan tâm đến Nhân quyền ở Việt Nam, trong đó có Hoa Kỳ, Australia, Liên Minh Châu Âu, Nhật Bản, Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á

·         Bày tỏ sự quan ngại sâu sắc với các quan chức Việt Nam về nạn bạo hành của công an, nhấn mạnh rằng việc đó vừa vi phạm luật pháp Việt Nam vừa vi phạm công pháp quốc tế, và những người vi phạm cần bị trừng phạt và nạn nhân cần được bồi thường hợp lý.

·         Đề cập với chính quyền Việt Nam về nạn bạo hành và các vi phạm của công an trong các chương trình cải cách pháp luật và tập huấn cho ngành công an.

·         Thúc đẩy chính quyền Việt Nam quy định một tội danh cụ thể dành cho hành vi bạo hành của công an.

·         Thúc đẩy chính quyền Việt Nam thiết lập các cơ chế quy trách nhiệm một cách có hiệu quả như các nội dung khuyến nghị nêu trên.

 

III. Phụ lục

 

Những vụ tử vong được thừa nhận có nguyên nhân từ việc công an sử dụng bạo lực

·         Vụ giết Nguyễn Hữu Thâu: 4/7/2014

·         Vụ giết Huỳnh Nghĩa: 14/2/2014

·         Vụ giết Tu Ngọc Thạch: 31/12/2013

·         Vụ giết Y Két Bdap: 27/11/2013

·         Vụ giết Nguyễn Văn Ái: 18/1//2013

·         Vụ giết Bùi Văn Lợi: 10/12/2012

·         Vụ giết Nguyễn Tuấn Thanh: 17/11/2012

·         Vụ giết Nguyễn Mậu Thuận: 30/8//2012

·         Vụ giết Nguyễn Mạnh Sơn: 22/6/2012

·         Vụ giết Ngô Thanh Kiều: 13/5/2012

·         Vụ giết Trần Gòn: 8/8/2011

·         Vụ giết Trần Văn Dữ: 30/3/2011

·         Vụ giết Trịnh Xuân Tùng: 8/3/2011

·         Vụ giết Lê Phúc Hùng: 1/8/2010

 

Những vụ tử vong không rõ nguyên nhân trong khi bị tạm giam, giữ

·         Cái chết của Nguyễn Văn Đức: 29/5/2013

·         Cái chết của Nguyễn Quốc Tuấn: 28/1/2013

·         Cái chết của Bùi Hữu Vũ: ngày 11/4/2012

·         Cái chết của Hoàng Đăng Lộc: 26/8/2011

 

Những vụ tử vong được cho là tự tử trong khi bị tạm giam, giữ

·         Vụ Đỗ Văn Bình, bị cho là tự tử: 14/4/2014

·         Vụ Hoàng Văn Ngài, bị cho là tự tử: 17/3/2013

·         Vụ Trần Văn Tân, bị cho là tự tử: 3/1/2013

·         Vụ Lê Quang Trọng, bị cho là tự tử: 19/3/2012

·         Vụ Lê Văn Trận, bị cho là tự tử: 11/8/2011

·         Vụ Nguyễn Công Nhựt, bị cho là tự tử: 25/8/2011

 

Những vụ tử vong vì nguyên nhân bị cho là do đau ốm trong khi tạm giam, giữ

·         Cái chết của Cao Văn Tuyên: 5/7/2013

·         Cái chết của Nguyễn Văn Vân: 12/6/2012

·         Cái chết của Đặng Văn Trí: 15/11/2011

·         Cái chết của Huỳnh Thanh Thắng: 7/10/2011

 

Những vụ bị thương do công an bạo hành trong khi bị tạm giam, giữ

·         Vụ sáu người bị đánh: 7 – 12/2013

·         Vụ Lê Hoài Nhân bị đánh: 3/6/2013

·         Vụ Huỳnh Sử Nguyên bị đánh: 10/5/2013

·         Vụ Văn Đức Ngạn bị đánh: 2/4/ 2013

·         Vụ Hoàng Cử bị đánh: 20/2/2013

·         Vụ Nguyễn Hữu Tiến bị đánh: 23/11/2012

·         Vụ bảy người bị đánh: 26/8/ 2012

·         Vụ Trần Định Hòa bị đánh: 25/7/2012

·         Vụ Nguyễn Trường Vũ và Trương Chí Bình bị đánh: 26/6/2011

·         Vụ Phạm Quang Sơn bị đánh: 28/12/2010

·         Vụ Nguyễn Văn Khanh bị đánh: 17/10/2010

·         Các vụ đánh đập trẻ vị thành niên

 

Lời cảm ơn

Phúc trình này là kết quả nghiên cứu và soạn thảo của nhân viên Ban Á châu, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền. Phúc trình được sự biên tập của Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu; Dinah Pokempner, Cố vấn Pháp lý Chung; Joseph Saunders, Phó Giám đốc Chương trình; và Danielle Hass, Biên tập viên cao cấp của phòng chương trình. Phúc trình cũng nhận được ý kiến đóng góp của Sophie Richardson, Giám đốc phòng Trung Quốc; Phil Robertson, Phó Giám đốc ban Á châu; John Sifton, Giám đốc Vận động; và Bede Sheppard, Phó Giám đốc ban về Quyền Trẻ em.

Quá trình xuất bản có sự tham gia trợ giúp của Storm Tiv và Julia Bleckner, điều phối viên ban Á châu; Grace Choi, giám đốc xuất bản; Kathy Mills, chuyên viên phòng xuất bản; và Fitzroy Hepkins, quản lý sản xuất.

HUMAN RIGHTS WATCH

——

[1] Việt Nam tiếp tục duy trì một nền báo chí do nhà nước quản lý, trong đó các nhà báo và biên tập viên chỉ có tự do bày tỏ chính kiến ở mức tối thiểu. Các quy định luật pháp khiến cho hành vi đăng tải các sự việc và ý kiến mang tính phê phán nhà nước lên mạng Internet có tính rủi ro cao, với hậu quả là ít nhất hàng chục người đã bị bắt và/hoặc bịtù giam. Các cơ quan của Đảng và nhà nước vẫn giữ độc quyền sở hữu đối với tất cả các thể loại báo chí chính thức. Theo nguyên trạng từ giữa thập niên 1950, không một tờbáo trong nước thuộc sở hữu tư nhân nào được hoạt động hợp pháp dưới chính thể cộng sản. Báo chí Việt Nam vẫn dập khuôn một đường lối biên tập khá nhất quán về các vấn đề chính sách nhà nước, hiếm khi phê bình lãnh đạo cấp trung ương và không bao giờ thách thức tính chính đáng của thể chế một đảng cầm quyền. Tình hình có được cải thiện hơn kể từ những cải cách “Đổi mới” giữa thập niên 1980, khi nhiều phương diện của ngành báo chí được cải tổ, dù số còn lại vẫn giữ nguyên như cũ. Tin, bài về những vụ bạo hành của công an trên báo Việt Nam đôi khi đi ngược với mạch báo chí tuyên truyền ca ngợi đảng và nhà nước, và bộc lộ những sai phạm nghiêm trọng của công an. Nhưng mặt khác, đúng là sẽ còn không biết bao nhiêu vụ việc nữa xảy ra mà không được báo chí nhắc đến và công chúng cũng như những người quan tâm nghiên cứu vềnhân quyền sẽ không bao giờ được biết. Sự khác biệt trong nội dung và hình thức đưa tin giữa các cơ quan báo chí khác nhau cũng có thể là biểu hiện xung đột nội bộ giữa các cơ quan ngôn luận thuộc các văn phòng chính quyền đối nghịch với nhau. Trong khi các tờ báo nhiều thế lực của công an và quân đội thường đưa ra giọng điệu bào chữa cho thủ phạm trong những vụ bạo hành, báo chí gắn với các tổ chức quần chúng hay công đoàn (dù đều do nhà nước kiểm soát) nhiều khả năng đặt vấn đề về cách hành xửcủa công an hơn, và có khi còn bênh vực cho các nạn nhân và gia đình họ. Tuy nhiên, việc nới lỏng các quy định về báo chí, trong đó có khuyến khích cạnh tranh và sáng tạo trong báo giới bằng cách để cho ban biên tập các tờ báo tự hạch toán kinh phí, hay cho phép báo chí đưa tin về các tệ nạn trong xã hội kể cả tham nhũng và những việc làm sai trái của chính quyền cấp địa phương, đã tạo nên một nền văn hóa báo chí khá sinh động nhưng chưa đồng đều, chỗ thì giật gân câu khách, chỗ thì bảo thủ chính trị.

[2] Các bài viết của giới blogger thường đưa cả những bài phỏng vấn không bị kiểm duyệt với người nhà nạn nhân và nhân chứng, kèm theo hình ảnh hay đoạn video clip của cuộc phỏng vấn. Đôi khi các blogger còn thực hiện những bài phỏng vấn tiếp theo để tìm hiểu xem chính quyền xử lý ra sao. Có một số trường hợp, các blogger như cựu sỹquan công an Tạ Phong Tần đã vận dụng kinh nghiệm bản thân về nghiệp vụ công an để bộc lộ những việc làm sai trái. Tạ Phong Tần đang phải thụ án 10 năm tù về tội tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 luật hình sự. Năm 2013, bà được Bộ Ngoại giao Hoa kỳ vinh danh với giải thưởng “Phụ nữ Quốc tế Can đảm.” http://www.state.gov/secretary/remarks/2013/03/205892.htm.

[3] Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sắc lệnh số 23, ký ngày 21/2/1946, hợp nhất “các sở cảnh sát và các sở liêm phóng trên toàn quốc thành một cơ quan đặt tên là Việt Nam Công an vụ,” đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ Nội vụ.

[4] Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sắc lệnh số 141, ký ngày 16/2/1953.

[5] Nghị định số 100, ban hành ngày 3/3/1959, do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký.

[6] Nghị định số 982, ban hành ngày 28/7/1956, do Phó Thủ tướng Phan Kế Toại ký thay Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cũng xem Pháp lệnh số 34, ban hành ngày 20/7/1962, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký.

[7] Quyết định hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội vụ thành Bộ Nội vụ được phê chuẩn trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội Khóa V (1975-1976) từ ngày 3 – ngày 6/6/1975. Xem “Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa V (1975-1976), trong Lịch sử Quốc hội, http://www.na.gov.vn/Sach_QH/LSQHVN2/60-75/4.htm (truy cập ngày 27 tháng Chín năm 2013).

[8] Nghị quyết số 13/1998/NQ-QH10, ban hành ngày 7/5/1998, do Chủ tịch Nông Đức Mạnh ký. Vào năm 2002, theo Nghị quyết số 02/2002/NQ-QH11, ban hành ngày 5/8/2002, một Bộ Nội vụ mới được thành lập để quản lý một số công việc quốc nội, độc lập với BCA.

[9] Luật Công an, Số 54/2005/QH11.

[10] Nghị định số 73/2009/ND-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Công an xã. Điều 4 của nghị định này đưa ra tiêu chuẩn chọn vào Công an xã. Thông tưsố 30/2009/TT-BCA về Quy định tuyển chọn công dân vào Công an nhân dân. Các ngoại lệ duy nhất đối với những người không phải là đảng viên ĐCSVN hay đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh được nhận vào BCA là những người thuộc các dân tộc thiểu số hội đủ điều kiện để sớm có thể được kết nạp vào ĐTNCSHCM, hoặc những người có bằng cấp cao như Giáo sư, Phó Giáo sư, Thạc sỹ, tốt nghiệp đại học hệ chính quy hạng giỏi.

[11] “Xây dựng hình ảnh Công an nhân dân trong lòng nhân dân.” Bài phát biểu của Bộ trưởng Trần Đại Quang đăng trên báo Công an TP Hồ Chí Minh ngày 17 tháng Tám năm 2013, http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&id=501359 (truy cập ngày 12/9/2013). Theo Bộ trưởng Trần Đại Quang, đây là lời dạy của cố Tổng bí thư LêDuẩn, giữ chức tổng bí thư đảng từ năm 1960 đến 1986.

[12] Hệ thống theo dõi của công an chặt chẽ đến mức trở thành một phần trong cuộc sống của người dân qua nhiều thập niên. Trò chơi trốn tìm phổ biến một thời của trẻ em ởmiền bắc được gọi là “Công an bắt gián điệp.” Bất kỳ người nào từ địa phương khác đến đều phải báo với công an, thể hiện trong khẩu hiệu nổi tiếng một thời, “Cho dù bão táp mưa sa/ khách lạ đến nhà phải báo công an”). Ngày nay, người dân phải đăng ký hộ khẩu thường trú tại một địa chỉ. Nếu chuyển chỗ ở tạm thời, người dân phải đăng ký tạm trú tại nơi ở mới. Khi có khách ở lại nhà qua đêm, phải báo công an địa phương. Công an thường sử dụng luật lệ này để đe dọa và sách nhiễu các nhà bất đồng chính kiến (bằng cách tùy tiện kiểm tra số người có mặt tại nhà họ vào ban đêm.)

[13] Chức năng của công an là “tham mưu cho Đảng, nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; thực hiện thống nhất quản lý về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.” Luật Công an Nhân dân số 54/2005/QH11, Điều 4, khoản 2.

[14] “Năm 2012, Lực lượng Công an nhân dân đã tiếp tục phát huy tốt vai trò nòng cốt trong bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương lớn về công tác đảm bảo an ninh, trật tự; ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; giữvững an ninh trật tự tại các địa bàn chiến lược.” Thiện Thuật, “Phát huy vai trò nòng cốt của CAND đảm bảo an ninh,” Vietnam Plus, 17/12/2012, http://www.vietnamplus.vn/Home/Phat-huy-vai-tro-nong-cot-cua-CAND-dam-bao-an-ninh/201212/174185.vnplus (truy cập ngày 17/12/2012).

[15] Xem tiểu sử tóm tắt của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại trang web của chính phủ, http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/tieusulanhdao?personProfileId=960&govOrgId=2856 (truy cập ngày 22/7/2014).

[16] Luật Công an Nhân dân, số 54/2005/QH, thông qua vào tháng Mười một năm 2005 và có hiệu lực từ tháng Bảy năm 2006.

[17] Xem tài liệu thượng dẫn.

[18] Việt Nam có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương tương đương cấp tỉnh là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ.

[19] Ngoài tám tổng cục nói trên, BCA còn có một số đơn vị trực thuộc như Văn phòng BCA, Cục Hợp tác Quốc tế, Ban Tài chính, v.v… Bộ này cũng có hai lực lượng đặc nhiệm, gồm lực lượng cảnh vệ và lực lượng phản ứng nhanh.

[20] Đơn cử, Cục Quản lý Xuất nhập cảnh (A72) – thuộc Tổng cục I – chỉ đạo Phòng QL Xuất nhập cảnh (PA 72) ở các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Tương tự, Cục Cảnh sát Giao thông Đường bộ và Đường sắt (C67) – thuộc Tổng cục VII – có các phòng ở cấp tỉnh và thành phố trung ương (PC67). Ở cấp huyện, có các đội chuyên trách như đội cảnh sát giao thông, đội điều tra tội phạm về ma túy, đội an ninh, đội hậu cần chính trị,v.v…

[21] Xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất ở Việt Nam, gồm có các xã ở nông thôn và ngoại thành, các phường ở đô thị và huyện lỵ. Theo thống kê chính thức, tính đến cuối năm 2011 Việt Nam có tổng cộng 9050 xã, 623 thị trấn và 1448 phường. Xem http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=386&idmid=3&ItemID=12817. Lưu ý tổng số phường nói trên bao gồm cả năm thành phố trực thuộc trung ương.

[22] Nghị định 73/2009/ND-CP. Một xã có thể chỉ gồm 2 thôn (như xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, Hà Nội) nhưng cũng có thể có tới 33 thôn (như xã Phú Nhuận, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai). Đối với những xã đông dân hay được coi là trọng yếu về địa lý hay xã hội, mỗi thôn có thể có tới 2 công an phụ trách.

[23] Công an xã cũng chịu sự điều hành của Ủy ban Nhân dân cấp xã. Quân số của lực lượng công an xã tùy thuộc vào quy mô và/hoặc tầm quan trọng của xã đó (tầm quan trọng địa-chính trị và số dân). Theo Luật số 11/2003/QH11 và Nghị định 107/2004/ND-CP về cơ cấu tổ chức ủy ban nhân dân, ủy ban nhân dân cấp xã gồm từ ba đến năm thành viên (một chủ tịch, một hoặc hai phó chủ tịch và một đến hai ủy viên). Ở nhiều xã, trưởng công an xã cũng là thành viên trong ủy ban nhân dân. Công an xã, ủy ban nhân dân xã, đảng ủy xã và các cơ quan nhà nước khác thường sử dụng chung trụ sở (trong cùng một khu hay tòa nhà). Có những trường hợp, công an xã chỉ được dùng một đến hai phòng trong khu hay tòa nhà là trụ sở chính quyền xã nói trên. Đôi khi, công an xã còn phải dùng chung văn phòng với xã đội. Vì vậy, trong một số vụ bạo hành của công an xã, người dân địa phương tụ tập biểu tình tại trụ sở ủy ban nhân dân xã.

[24] “Bán chuyên trách” có nghĩa là công an xã không được qua đào tạo chuyên nghiệp ở các trường chính quy hay học viện của ngành công an. Họ không được vào hệ thống cấp hàm theo tiêu chuẩn ngành công an, tức là không được hưởng cơ hội phong, thăng cấp bậc hàm như các đồng nghiệp cấp quận trở lên. Công an xã được trả một mức lương linh hoạt do lãnh đạo cấp tỉnh quyết định. Họ cũng được hưởng ít phúc lợi hơn so với công an chuyên nghiệp. Tuy nhiên, vị trí trưởng công an xã, và nhiều phó công an xã được hưởng lương biên chế, được nhận phúc lợi và xét thăng cấp hàm dù đa số đều được tuyển dụng ở địa phương. Nếu vị trí trưởng công an xã trống (do về hưu, tự ý xin nghỉ việc hoặc buộc thôi việc, bị hạ cấp, khai trừ hay truy tố) một phó công an xã có thể được đề bạt lên chức trưởng, và một công an viên lên chức phó công an xã.

[25] Một người Việt Nam đủ 18 tuổi không có tiền án tiền sự, đạo đức tốt, bản thân và gia đình chấp hành đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước có thểđược tuyển vào làm công an xã. Nghị định 73/2009/ND-CP. Trong đa số trường hợp, để làm được trưởng hay phó công an xã, phải tốt nghiệp trung học phổ thông.

[26] Nghị định 73/2009/ND-CP.

[27] Xem, ví dụ như Quyết định số 815/QD-UBND, của Ủy ban Nhân dân Tỉnh Hà Nam, ngày 19/7/2012.

[28] Xem tài liệu thượng dẫn.

[29] T.A & P.H., “Mấy anh công an xã ‘làm bậy’ thường không được học hành,” Pháp luật Việt Nam, ngày 19/10/2012, http://phapluatvn.vn/phapluat/201210/May-anh-cong-an-xa-lam-bay-thuong-khong-duoc-hoc-hanh-2071950/ (truy cập 19/10/2012).

 

Read more

DCCT VN: mừng 50 năm thành lập Tỉnh Dòng tại Hà Nội

VRNs (17.09.2014) – Hà Nội – Sáng ngày 27.09.2014, Đức tổng giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn sẽ đến DCCT Thái Hà chủ tế thánh lễ tạ ơn mừng kỷ niệm 50 năm thành lập Tỉnh Dòng CCT VN cùng với Quý Đức giám mục giáo tỉnh Hà Nội.

Trước đó, ngày 25.09, Đức tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt sẽ đến mừng lễ và dùng cơm với các tu sĩ DCCT tại Hà Nội. Ngày 26.09 là một ngày sinh hoạt của các cộng tác viên DCCT tại Miền Bắc với phần trình bày của quý cha Phó giám tỉnh, Cố vấn thường vụ và Truyền thông về nguồn gốc thành lập Tỉnh Dòng, đường lối mục vụ hiện tại và tương lai, cùng những cách thức phát triển Giáo dân thừa sai DCCT.

140911004

140911003

 

Read more

HRW: Tử vong và chấn thương khi bị công an giam giữ phổ biến ở Việt Nam

VRNs (16.09.2014) – Bangkok, Thái Lan - Cần khẩn cấp chấm dứt nạn bạo hành, bảo đảm công lý cho nạn nhân

140916001(Bangkok, ngày 16 tháng Chín năm 2014) – Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nhận định qua bản phúc trình được công bố hôm nay rằng tình trạng công an bạo hành những người bị câu lưu, giam giữ, thậm chí trong một số trường hợp gây tử vong, xảy ra trên khắp các vùng miền ở Việt Nam. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tuyên bố rằng chính quyền Việt Nam cần hành động ngay lập tức để chấm dứt những cái chết mờ ám trong thời gian bị giam giữ và tình trạng công an dùng nhục hình với những người bị giam, giữ.

Bản phúc trình dài 25 trang, với tiêu đề “Công bất an: Những vụ tử vong khi bị tạm giam, giữ và vấn nạn công an bạo hành ở Việt Nam,” trình bày một số vụ điển hình về nạn bạo hành của công an dẫn tới tử vong hoặc chấn thương nặng cho những người bị giam giữ, tính từ tháng Tám năm 2010 đến tháng Bảy năm 2014. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ghi nhận tình trạng bạo hành tại 44 trong số 58 tỉnh, trải khắp các vùng miền khác nhau ở Việt Nam và ở cả năm thành phố lớn.

“Vùng miền nào ở Việt Nam cũng có tình trạng công an bạo hành dã man những người bị giam, giữ,” ông Phil Robertson, Phó Giám đốc Phụ trách Châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói. “Đó là một vấn nạn nhân quyền mà chính quyền Việt Nam đang đối mặt, cần phải điều tra và bắt đầu truy cứu trách nhiệm những công an hành vi bạo hành.”

Phúc trình được dựa trên kết quả tập hợp và phân tích thông tin của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền từ các tờ báo tiếng Việt do nhà nước quản lý, cùng với các tin bài từ các blog độc lập, báo chí công dân và các hãng thông tấn nước ngoài. Rất nhiều sự vụ nêu trong phúc trình chưa từng được công bố bằng tiếng Anh. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cũng tiến hành khảo cứu tại Việt Nam để chuẩn bị cho phúc trình, nhưng cuối cùng quyết định không phỏng vấn các nạn nhân và nhân chứng ở đó, vì gần như chắc chắn việc đó sẽ dẫn tới hậu quả là những người trả lời phỏng vấn sẽ bị trả đũa.

Trong nhiều trường hợp, những nạn nhân bị chết trong khi công an giam giữ chỉ bị câu lưu vì những lỗi nhỏ. Trong vụ việc xảy ra vào tháng Tám năm 2012, công an đánh Nguyễn Mậu Thuận, ở Hà Nội, đến chết sau khi ông bị bắt giữ chỉ ba tiếng đồng hồ trước đó vì một xích mích nhỏ với hàng xóm. Tháng Tám năm 2010, công an đánh đập và xịt hơi ca, khiến ông Lê Phúc Hùng ở Gia Lai tử vong trong khi tạm giữ vì bị nghi ăn trộm cuộn ống nước.

Nguyên nhân do phía công an đưa ra cho những cái chết như trên thường làm dấy lên nghi ngờ và tạo ấn tượng về sự bao che có hệ thống. Theo tuyên bố của công an thì đã có tới hàng chục người, trước đó hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, đã tự tử bằng cách treo cổ hay những cách khác. Trong các vụ việc khác, công an chỉ đưa ra những lời giải thích chung chung và thiếu tính thuyết phục, như trường hợp của Nguyễn Văn Đức ở tỉnh Vĩnh Long. Theo kết quả giảo nghiệm tử thi, anh bị chết vì tụ máu não và các chấn thương khác, nhưng công an cho rằng nguyên nhân của chấn thương là do các bác sĩ “quá mạnh tay” trong khi cấp cứu. Con số những người được cho là chết vì bệnh tật trong khi giam giữ lớn đến mức đáng ngạc nhiên, dù nhiều người trong số họ đang trẻ khỏe, trong độ tuổi 20 và 30. Tình trạng bị chấn thương trong thời gian bị công an giam giữ cũng thường xuyên được ghi nhận ở khắp các địa phương trong cả nước.

Một số nạn nhân sống sót nói rằng họ bị đánh để ép nhận tội, đôi khi về những hành vi họ khẳng định không hề thực hiện. Tháng Bảy năm 2013, công an tỉnh Sóc Trăng đánh và ép sáu người nhận tội giết người. Nhiều người khác cho biết họ bị đánh vì dám lên tiếng phê phán hay cố cãi lý với công an. Trong số nạn nhân của những vụ đánh đập có cả trẻ vị thành niên và người mắc bệnh tâm thần.

Báo chí trong nước đưa tin về những sự vụ này một cách không đồng đều, gây ra những mối quan ngại nghiêm trọng về tác động tiêu cực của tình trạng báo chí bị chính quyền kiểm soát. Trong một số vụ, báo chí đưa tin sát sao và chi tiết, vạch rõ những nội dung bất nhất trong các thông cáo và những sai phạm của công an, như trong vụ Nguyễn Công Nhựt, người được cho là đã “tự tử” trong đồn công an ở tỉnh Bình Dương vào tháng Tư năm 2011. Nhưng ngược lại, có những vụ quan trọng khác không hề được báo chí đăng tải, như cái chết của Hoàng Văn Ngài, người dân tộc thiểu số H’Mong vào tháng Ba năm 2013 ở tỉnh Đắk Nông. Các nhà báo cũng cho biết, trong một số vụ, chính quyền địa phương cản trở báo chí tiếp cận gia đình nạn nhân để phỏng vấn.

“Việt Nam nên để cho báo chí làm công việc điều tra và đưa tin về những vụ lạm quyền của chính quyền,” ông Robertson nói. “Báo chí độc lập có thể giúp đưa ra ánh sáng những vụ việc dễ bị ỉm đi.”

Công an gây ra các sai phạm nghiêm trọng, thậm chí chết người, ít khi phải đối mặt với hậu quả tương xứng. Trong nhiều trường hợp được chính thức công nhận là bạo hành, những công an liên quan chỉ bị kỷ luật nội bộ nhẹ nhàng, như phê bình hay khiển trách. Hiếm khi có chuyện hạ cấp bậc, thuyên chuyển hay buộc ra khỏi ngành, còn bị truy tố và kết án thì càng hiếm hơn nữa. Ngay cả những trường hợp bị khởi tố và kết án, công an dường như cũng được nhận những mức án nhẹ hoặc được hưởng án treo.

Trong một vụ, công an liên quan còn được thăng chức sau khi gây ra bạo hành. Vào tháng Bảy năm 2010, phó công an xã Nguyễn Hữu Khoa ở La Phù (huyện Hoài Đức, Hà Nội) bị tố cáo đã đánh đập một tài xế xe tải tên là Nguyễn Phú Sơn. Không rõ vụ việc được điều tra, xử lý như thế nào mà tới tháng Mười Hai năm đó, Nguyễn Hữu Khoa đã được thăng chức trưởng công an xã.

“Việt Nam cần nhanh chóng điều tra một cách vô tư về tất cả những khiếu tố liên quan đến công an bạo hành, và có hành động mạnh khi các bằng chứng thể hiện rõ hành vi bạo hành,” ông Robertson nói. “Chừng nào công an chưa nhận được một tín hiệu dứt khoát, rõ ràng từ các cấp lãnh đạo cao nhất của chính quyền rằng bạo hành sẽ không được dung thứ, thì người dân thường còn bất an khi bị rơi vào tay công an.”

Trong một số vụ việc, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nhận thấy rằng công an bắt người chỉ dựa trên những nghi vấn mơ hồ, không có bằng chứng kèm theo, sau đó đánh đập để ép buộc họ thú tội. Công an thường xuyên bỏ qua trình tự pháp lý cần thiết để bảo vệ người dân khỏi bị ngược đãi hay bắt giữ tùy tiện, và ngăn cản luật sư và người trợ giúp pháp lý tiếp cận ngay lập tức với thân chủ của mình.

“Tất cả những người bị bắt giữ cần phải được phép tiếp xúc ngay lập tức và không bị cản trở với luật sư của mình để giảm thiểu nguy cơ bị công an bạo hành trong khi thẩm vấn,” ông Robertson phát biểu.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nhận định rằng chính quyền Việt Nam cần ngay lập tức đưa ra chính sách không dung thứ đối với hành vi bạo hành của công an, cung cấp các chương trình huấn luyện tốt hơn cho công an ở tất cả các cấp, đặc biệt là cấp xã, và lắp đặt hệ thống máy ghi hình ở những cơ sở thẩm vấn và tạm giam. Chính quyền cũng cần tạo điều kiện tăng cường vai trò của trợ giúp pháp lý đối với những nghi can và người bị tạm giữ, đồng thời bảo đảm tự do ngôn luận của nhà báo và trên mạng internet.

Chính quyền cần thành lập một ủy ban độc lập về các khiếu tố đối với công an để xem xét và điều tra tất cả các khiếu tố về bạo hành và sai phạm của công an, và tạo điều kiện ở cấp cao nhất cho việc tiến hành các cuộc điều tra nhanh chóng, vô tư, và việc truy tố xét xử những hành vi sai phạm và bạo hành của công an.

“Các cơ quan Liên Hiệp Quốc và các nhà tài trợ nước ngoài đang hỗ trợ Việt Nam thiết lập chế độ pháp quyền không nên để những hành xử lạm quyền của công an được duy trì,” ông Robertson nói. “Cần phải có những tiếng nói đồng loạt, tạo sức ép buộc chính quyền hành động để chấm dứt nạn công an bạo hành.”

Human Rights Watch

Read more

60 năm một tội ác kéo dài

VRNs (16.09.2014) – Thừa Thiên Huế – Cuộc trưng bày chuyên đề Cải cách Ruộng đất (CCRĐ) 1946-1957 tại viện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Hà Nội từ hôm 08-09-2014 với gần 150 hiện vật, tư liệu gốc, tư liệu ảnh đã được hí hửng giới thiệu: “Đây là một hoạt động góp phần tuyên truyền, giáo dục cho đông đảo tầng lớp nhân dân, đặc biệt thế hệ trẻ nhận thức đúng hơn về cuộc cách mạng ruộng đất trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta những năm 1946-1957. Qua đó củng cố niềm tin, niềm tự hào về Đảng, Chính phủ và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước hiện nay” (Thông báo của Bảo tàng). Trong ngày khai mạc, “Tiến sĩ” Nguyễn Văn Cường, Giám đốc Bảo tàng còn hùng hồn phát biểu: “Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng dân chủ ‘long trời lở đất’, mang lại những giá trị to lớn của một xã hội mới, một chế độ mới, một cuộc sống mới cho người dân Việt Nam”.

14091600

            Dĩ nhiên người dân Việt Nam và cả quốc tế, từ hơn 60 năm nay, đều biết đó là một biến cố trời long đất lở, thậm chí vào bậc nhất lịch sử dân tộc. Không trời long đất lở sao được khi có hơn 172 ngàn người (nói theo con số chính thức) bị gọi là “địa chủ” phải tan thây vì đạn bắn vỡ sọ, cày ủi đứt đầu, đùi đánh nát ngực, dây trói gãy cổ….; khi có gấp ba số người ấy (tính mỗi gia đình 4 nhân khẩu) chỉ vì là thân thuộc của “địa chủ” mà bị giam nhốt trong chuồng trâu, bị cấm ra chợ búa, bị khai trừ khỏi xã hội để rồi phải chết đói trong tức tưởi và uất hận. Không long trời lở đất sao được khi dưới sự che chở lẫn xúi giục của Bác và Đảng, từng đoàn từng đội cải cách tung hoành khắp nơi mọi chốn, quyền uy hơn cả Thượng Đế (“Nhất Đội nhì Trời”), tổ chức những phiên tòa không cần bằng chứng, chẳng thèm luật sư, cấm tự biện hộ, để vội vàng tuyên cáo tịch thu tài sản, tuyên bố bản án tử hình và thi hành bản án ngay tại chỗ! Không long trời lở đất sao được khi từng tốp “ông đội”, “bà đội” hoặc đi vào từng làng, đến các gia đình bần nông hay cố nông, “thăm nghèo, hỏi khổ” để khơi sâu thù hận, tiếp đó “bắt rễ, xâu chuỗi” để chiêu mộ bầy tố cáo, dạy cho chúng tập hài tội thật nhuần nhuyễn ngõ hầu khi hữu sự thì diễn ngon lành… hoặc đến chính những gia đình sắp thành nạn nhân, áp bức vợ tố chồng, bó buộc con tố cha, uổng ép tớ tố chủ, với trò lừa gạt “không chịu tố thì thân nhân sẽ bị tử hình”, nhưng dại dột tố xong thì đó là những bằng cớ rành rành để “đội cải cách” thi hành công lý: giết thể xác địa chủ và giết tâm hồn người thân của họ.

            Thế nhưng, nhìn vào các hiện vật (y phục đồ đạc đắt tiền của địa chủ, nhà cửa áo xống tồi tàn của bần nông, hình ảnh nông dân thay trâu kéo cày, kẻ vô sản được đảng ban phát ruộng, gia đình nghèo đoàn tụ sau cuộc chia ly vì đi ở tớ…), người ta thấy chỉ là một trò tuyên truyền hoàn toàn bất chấp lịch sử, dù được trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Trước hết, một số khách am tường đồ cổ và quá khứ đã cho biết có rất nhiều hiện vật và hình ảnh phục dựng, giả tạo, sai thời (năm 1958 chưa có nồi gang, đũa nhựa và thìa phíp trắng; bát tô tận thời bao cấp sau 78 mới xuất hiện; ảnh ông bố cởi trần kéo thứ cày của thập niên 70…). Tất cả biểu lộ thói khinh thường công luận của những “chuyên gia” trình bày, nhất là thói gian trá vốn thâm căn cố đế nơi người cộng sản, cái thói được thản nhiên bày tỏ chẳng những trong ứng xử cuộc sống mà cả trong giáo khoa, sử sách, tư liệu. Thứ đến, cuộc triển lãm chỉ nói tới những cái gọi là “thành tựu” của CCRĐ (vốn không có hay nếu có thì toàn những thành tựu cho riêng đảng, như sẽ nói dưới đây) mà hoàn toàn lãng quên những sai lầm lớn lao, những tội ác tầy trời và những hậu quả bi thảm cho con người và xã hội. Điều này là sự cố ý, vì chính giám đốc bảo tàng có nói: “Không nhất thiết phải phơi bày sai lầm của lịch sử” rồi còn biện minh cho việc giết người cách trâng tráo vô liêm sỉ, cho đó là sự hy sinh cần thiết: “Có thể những phần trưng bày này sẽ không thỏa mãn được hết mong muốn của người dân, đặc biệt là những dòng họ, gia đình có liên quan đến CCRĐ. Thế nhưng cuộc cách mạng có thắng lợi thì bao giờ cũng có những tổn thất. Mà những tổn thất đó thì không thể đi sâu và đưa vào trong một phạm vi triển lãm nhỏ như thế này. Nếu đưa quá nhiều thì lấn át chủ đề chính là những thành tựu chúng ta đã đạt được trong CCRĐ. Thôi thì cũng phải nói với họ (172.000 nạn nhân CCRĐ) rằng sự hi sinh của họ mang lại nhiều điều tích cực cho đất nước thời kỳ đó.” Đấy là thói bất phục thiện (không bao giờ nhận lỗi) hầu như luôn tìm thấy nơi người cộng sản, nhất là hàng ngũ lãnh đạo. Chính thái độ bao che tội ác, lấp liếm sự thật này (giữa lúc một tác phẩm vạch trần vô số điều xấu xa, độc dữ, tồi tệ của đảng, đặc biệt trong CCRĐ, vừa xuất hiện trên thị trường và mạng lưới là Đèn Cù của Trần Đĩnh) đã gây nên sự công phẫn nơi đồng bào VN từ trong ra tới ngoài nước. Rất nhiều tài liệu lịch sử, công trình nghiên cứu từ lâu hay nhiều bài viết mới về biến cố đau thương này, soi chiếu nó dưới mọi khía cạnh, đã được đưa ra hay tái đưa ra cho công luận, khiến người ta thấy cuộc triển lãm mang nét thứ ba là ngu đần, và thầm khen tay thầy dùi xúi tổ chức cuộc triển lãm đúng là “thằng đểu”. Hay như lời một người dân Hà Nội: “Chúng nó hết khôn dồn ra dại hay sao mà lại đi chọc “c…” ra để ngửi với nhau như thế hở!” Khiến cho cuộc triển lãm dự trù kéo dài 3 tháng phải đóng cửa chỉ sau 3 ngày!

            Nhưng chính nhờ trò “chọc”, màn đểu vắn vỏi này mà công luận có dịp nhìn lại những tác giả gây ra và kéo dài tội ác “Cải cách” đó.

            Trước hết là Hồ Chí Minh, “kẻ tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng VN”. Không cần tìm đâu xa, chỉ cần đọc bản cáo trạng “Địa chủ ác ghê” do chính tay y viết và đăng báo Nhân Dân ngày 21-07-1953 với bút hiệu CB (có lẽ là Của Bác) để kết án tử vị ân nhân số một của đảng, bà Nguyễn Thị Năm, người đầu tiên bị đem ra bắn để mở màn chiến dịch. Theo tác giả Bảo Giang trong bài “Cải cách hay đấu tố”, đó là “bản cáo trạng đẫm máu vô tiền khoáng hậu trong lịch sử… là sự kết tinh tổng hợp của tất cả những gian dối, bịa đặt và vu khống cộng lại. Nó đáng bị lên án. Bất hạnh thay, nó lại triển nở rực rỡ trong lòng đảng cộng sản. Nó trở thành kim chỉ nam, trở thành người hướng dẫn đầy sáng tạo để cho các đoàn đảng viên nhuần nhuyễn và thi hành. Nó trở thành khung, sườn cho mọi cuộc đấu tố. Dù ở bất cứ làng nào, xã thôn nào, huyện nào, tỉnh nào, mọi cuộc đấu đều phải rập khuôn theo đúng nội dung trong “địa chủ ác ghê” do HCM đề ra. Nó rập khuôn gian dối, bịa đặt, vu khống đến nỗi tất cả đều như một. Theo đó, nó không chỉ là một bản cáo trạng khởi đầu mùa đấu tố, đọc trước mặt nạn nhân Nguyễn Thị Năm, nhưng còn là một văn kiện khai mở ra nền tảng luân lý và đạo đức của chế độ cộng sản. Một chế độ phi nhân, sống dựa vào gian dối và tạo ra gian dối”, dựa vào bạo lực và tạo ra bạo lực. Chính vì thế, dân gian đã tặng cho Hồ câu đối để ghi khắc bia miệng ngàn năm: “Lở đất long trời cuộc phanh thây địa chủ, kìa đạo đức Nguyễn Ái Quốc Mác-Lê! Thần căm người hận màn đấu tố ân nhân, ấy tình thương Hồ Chí Minh Cộng sản!”.

            Chính “tấm gương đạo đức Bác Hồ” đó -mà đảng viên, cán bộ và toàn dân bị buộc phải học tập từ đợt chiến dịch này tới đợt chiến dịch khác- đã đẻ ra đảng Cộng sản vốn cai trị đất nước từ 60 năm qua theo tinh thần và đường lối của Hồ. Trước hết là tinh thần độc tài toàn trị. Sử sách và chứng từ đã cho biết: đảng CS thực thi cuộc CCRĐ với ba mục tiêu. Mục tiêu chính trị là nắm toàn quyền trên xã hội. CCRĐ là một cách quét sạch những địa chủ, cường hào, nhân sĩ uy tín, những con người có mầm mống vươn lên ngoài vòng kiểm soát của đảng. Nghĩa là tất cả những gì mà cách mạng cho là đối nghịch, nguy hiểm trong tương lai và trong hiện tại. Quét sạch để xã hội trở nên một tờ giấy trơn, đảng muốn vẽ gì thì vẽ, trở nên một đàn cừu, đảng dẫn đi đâu thì đi. Mục tiêu kinh tế là tập trung đất đai tài nguyên vào tay đảng. Những người cày được chia ruộng (đảng khoác lác có gần 4 triệu nông dân lúc ấy được chia hơn 70 vạn hecta tịch thu từ địa chủ) chỉ vài năm sau là phải vào hợp tác xã, trả lại tất cả (ruộng, trâu, cày) cho nhà nước. Việc này nay được hiến định lẫn luật định rất rõ ràng: nhà nước là địa chủ duy nhất, sở hữu chủ toàn diện! Và cuối cùng là mục tiêu văn hóa. CCRĐ để phá vỡ cơ cấu thôn làng gia tộc, vốn là giềng mối của xã hội nông nghiệp ngàn năm, thay vào đó bằng đoàn đội sản xuất; ngoài ra, khi buộc con tố cha, vợ tố chồng, hàng xóm tố nhau, CCRĐ còn phá vỡ luân lý gia đình nói riêng và đạo đức xã hội nói chung, để đảng đưa ra một thứ đạo đức mới, đạo đức cách mạng, đạo đức bác Hồ, với nguyên tắc duy nhất: cứu cánh biện minh cho phương tiện. Bất cứ cái gì có lợi cho cách mạng, cho đảng, dù đó là gian dối, hận thù, đàn áp, dù đó là bóp méo sự thật, chà đạp công lý, tiêu diệt tình thương, thì đều là tốt là thiện cả!

            Do đó và thứ đến là tinh thần “cách mạng tiến công”, nhiệt thành thực thi cuộc CCRĐ theo những quy tắc luân lý của riêng nó. Tiêu biểu là “đảng viên ưu tú” Trường Chinh đấu tố cha mẹ đến chết. Nhờ vậy y cũng được bia miệng ngàn năm khắc ghi câu đối tưởng niệm như thầy mình: “Đấu tố phụ mẫu, tôn thờ Mác Lê, nhục ấy đời chê thằng họ Đặng! Hãm hại sĩ nông, đảo điên văn hóa, tội kia sách chép đứa tên Khu!”. (Đặng Khu chính là Đặng Xuân Khu, tên thật của thằng tặc tử). Tiếp đó, theo Đèn Cù, là Chu Văn Biên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ Tĩnh. Bắc ghế ngồi trên thềm cao, y chỉ tay vào mặt mẹ đẻ chắp tay đứng dưới sân gằn giọng: “Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi mà mi thì sẽ nhất định chống lại”. Bà mẹ cắn lưỡi không chết, ít lâu sau nhảy giếng tự tử. Nhờ thành tích giết mẹ đó, Chu Văn Biên được đảng trao chức Thứ trưởng Bộ nông nghiệp!

            Những đảng viên tiếp nối gương Hồ và những “học trò xuất sắc” của y nay càng nhan nhản. Dù ở trung ương hay ở địa phương, chúng đang kéo dài tội ác CCRĐ đó. Nay nó mang cái tên mới: Giải Phóng Mặt Bằng. Nó không chỉ nhắm vào ruộng đất mà cả nhà cửa, không chỉ nhắm vào nông dân mà cả thị dân. Không chỉ là nửa triệu nạn nhân trực tiếp mà cả chục triệu dân oan, sống vô gia cư, chết vô địa táng, khiếu kiện từ đời ông cha đến đời con cháu, bị hành hung, kết án, tống ngục. Bọn địa chủ tham lam, tàn bạo thế hệ mới này còn dự tính dâng cả đất nước cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc để chúng hưởng quyền lực và quyền lợi lâu dài.

Xã luận BNS Tự do Ngôn luận số 203 (15-09-2014)

Read more

Mọi cơ sở tôn giáo có quyền hiện diện lâu dài tại đô thị mới Thủ Thiêm

VRNs (15.09.2014) – Sài Gòn - Ủng hộ Bản Lên Tiếng của Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam lên tiếng Về Việc Nhà Cầm Quyền CSVN Triệt Hạ Các Cơ Sở Tôn Giáo tại Thủ Thiêm. 

Click vào đây để ký tên ủng hộ.

140915002

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM 

Bản Lên Tiếng 

 

Mọi cơ sở tôn giáo có quyền hiện diện lâu dài tại đô thị mới Thủ Thiêm 

Theo kế hoạch của Nhà cầm quyền Việt Nam, bán đảo Thủ Thiêm, thuộc Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh, sẽ trở thành một đô thị mới với tám khu vực được quy hoạch chi tiết cho thương mại, dân cư, hành chánh, giải trí, giao thông, giáo dục… Nói chung là có tất cả những gì cần cho một đô thị hiện đại, nhưng lạ lùng thay, lại không hề có quy hoạch cho sự hiện diện của các tôn giáo (điện thờ, tu viện, cơ sở bác ái xã hội…). 

Tại đây, từ lâu đời đã có nhiều cơ sở của các Giáo hội như Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm (174 năm), Thánh đường Công giáo Thủ Thiêm (154 năm), Chùa Liên Trì của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (hơn 70); gần đây lại có thêm Nhà nguyện của Hội thánh Tin lành Việt Nam, Vườn cầu nguyện của Hội thánh Tin lành Mennonite… Tất cả đã phục vụ nhu cầu tôn giáo của nhân dân trong vùng cũng như đem lại nhiều phúc lợi tinh thần, tâm linh cho xã hội. Thậm chí những cơ sở lâu năm còn được công nhận đã có công khai phá ra vùng đất sống Thủ Thiêm. 

Thế nhưng, khi bắt đầu vạch kế hoạch thực hiện khu đô thị mới này, nhà cầm quyền Việt Nam tại Tp. HCM đã di dời hơn 10 ngàn gia đình không đúng pháp luật (đã có 11 ngàn đơn khiếu nại), ngoài ra còn dự tính xóa sổ các cơ sở tôn giáo nói trên. Trong thực tế, Nhà nguyện của Hội thánh Tin lành Việt Nam, Vườn cầu nguyện của Hội thánh Tin lành Mennonite đã bị san bằng năm 2003 và năm 2010. Ba cơ sở còn lại cũng rất nhiều lần bị ép buộc di dời nhưng họ đã quyết liệt phản kháng. Động thái mới nhất của nhà cầm quyền là sẽ san bằng Chùa Liên Trì nội trong tháng 9 năm 2014 này nếu vị viện chủ không nhận tiền bồi thường. 

Nhà cầm quyền đưa ra lý do giải tỏa toàn bộ bán đảo Thủ Thiêm là vì lợi ích lâu dài của sự phát triển thành phố HCM. Nhưng nếu phát triển lâu dài mà lại không có sự hiện diện của tôn giáo thì nhu cầu tâm linh của dân cư sở tại và của những ai đến bán đảo này làm việc sẽ được đáp ứng ra sao và quyền tự do tôn giáo có ghi trong Hiến pháp sẽ được thực hiện thế nào? Hay chỉ là tiếp tục đẩy đô thị mới này và xã hội Việt Nam đến tình trạng suy thoái đạo đức toàn diện? Ngoài ra, phải chăng đó là vì tư lợi ích kỷ của các phe nhóm đang dòm ngó “vùng đất vàng” này? 

Có thể những người quyết định về Quy hoạch đô thị mới Thủ Thiêm này không cần tôn giáo, vì họ là cộng sản, chủ trương vô thần tranh đấu, nhưng nhân dân cư trú ở đây và đến đây làm việc trong tương lai không phải là những người vô thần. Những người dân, những người chủ đất nước cần phải có nơi để thực hành tôn giáo và sống đời sống tâm linh của họ, cũng như vùng đất đô thị Thủ Thiêm cần sự hiện diện của tôn giáo để có chiều sâu đạo đức và nhân bản. Ngoài ra niềm tin tôn giáo là một nhu cầu không thể thiếu trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. 

Do đó, Hội đồng liên tôn Việt Nam: 

1- Cực lực phản đối việc san bằng, xóa sổ nhiều cơ sở tôn giáo trước đây cũng như cưỡng ép giải tỏa các cơ sở tôn giáo còn lại tại bán đảo Thủ Thiêm hiện thời. 

2- Mạnh mẽ yêu cầu nhà cầm quyền phải điều chỉnh lại quy hoạch để chắc chắn bảo tồn hoàn toàn cơ sở và đất đai hiện có của Chùa Liên Trì, Thánh đường và Tu viện Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, cũng như trả lại cơ sở cho hai Hội thánh Tin lành đã bị giải tỏa. 

3- Cương quyết khẳng định các cơ sở tôn giáo từng có mặt hay còn có mặt tại Thủ Thiêm là thành phần không bao giờ được loại ra khỏi đó vì sự hiện diện lâu đời và vì ích lợi mà các cơ sở này đã và đang đóng góp cho xã hội và cho con người. 

4- Thẳng thắn tuyên bố rằng việc cố tình giải tỏa mọi cơ sở tôn giáo ra khỏi bán đảo Thủ Thiêm là bằng chứng xác nhận Nhà cầm quyền Việt Nam đang vi phạm Hiến pháp về quyền tự do tôn giáo, đang cản trở nhu cầu tôn giáo của nhân dân, đang đi ngược lại xu hướng phát triển của nhân loại, tạo nguy cơ đưa đô thị mới này và cả nước đến tình trạng suy đồi đạo đức thêm nữa. 

5- Cuối cùng, chúng tôi cũng yêu cầu nhà cầm quyền địa phương giải quyết thỏa đáng mọi đơn khiếu nại về nhà đất của các cựu cư dân Thủ Thiêm. 

Làm tại Việt Nam, ngày 15 tháng 9 năm 2014 

Các Chức sắc Hội đồng Liên tôn Việt Nam ký tên

Công giáo: 
- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi (đt: 0984.236.371) 
- Linh mục Giuse Đinh Hữu Thoại (đt: 0935.569.205) 
- Linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh (đt: 0993.598.820) 

Phật Giáo: 
- Hòa thượng Thích Không Tánh (đt: 0165.6789.881) 
- Thượng toạ Thích Viên Hỷ (đt: 0937.777.312) 

Tin Lành 
- Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (đt: 0121.9460.045) 
- Mục sư Đinh Uỷ (đt: 0163.5847.464) 
- Mục sư Đinh Thanh Trường (đt: 0120.2352.348) 
- Mục sư Nguyễn Hồng Quang (đt: 0978.207.007) 
- Mục sư Phạm Ngọc Thạch (đt: 0912.000.709) 
- Mục sư Nguyễn Trung Tôn (đt: 0906.342.908) 
- Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (đt: 0906.342.908) 
- Mục sư Lê Quang Du (đt: 0121.2002.001) 

Cao Đài: 
- Chánh trị sự Hứa Phi (đt: 0163.3273.240) 
- Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (đt: 0988.971.117) 
- Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (đt: 0988.477.719) 

Phật giáo Hoà Hảo: 
- Hội trưởng Lê Quang Liêm (đt: 0199.2432.593) 
- Ông Phan Tấn Hòa (đt: 0162.6301.082) 
- Ông Tống Văn Chính (đt: 0163.5745.430) 
- Ông Lê Văn Sóc (đt: 096.4199.039)

Read more

Regarding Religious Institutions in the New Thu Thiem City Development

VRNs (Sep 15th, 2014) – Saigon - Support for the Statement by Interfaith Council of Vietnam Concerning Efforts to Eliminate Religious Institutions from Thu Thiem.

Please, click here ! 

140915002


Interfaith Council of Vietnam 


Statement 

Regarding Religious Institutions in the New Thu Thiem City Development 

According to government’s plan, Thu Thiem area within Ho Chi Minh City will be developed into a new city with eight development zones for commercial, residential, administrative, entertainment, transportation and educational purpose. In short, most essential things a new city needs will be present with one very odd exception: there is no plan for the establishment of any religious institutions such as temples, churches or even offices for charity services. 

For years, many religious institutions have existed in Thu Thiem including Congregation of the Lovers of the Holy Cross (174 years), Thu Thiem Catholic Church (154 years), Lien Tri Pagoda (70 years), and more recently facilities operated by Vietnam Evangelical Church and Mennonite Church. All of these institutions provide much needed religious services, spiritual support and other benefits to the local population. Some of the long established institutions are also recognized for their pioneering contribution in developing Thu Thiem into what it is today. 

However, after Thu Thiem development plan was drawn up, Ho Chi Minh City government illegally relocated more than ten thousand families from the area (at present, there are already eleven thousand complaints filed) and conspired to eliminate the mentioned above religious institutions. In fact, facilities owned by Vietnam Evangelical Church and Mennonite Church were already shut down in 2003 and 2010 respectively. The remaining three institutions have been coerced to move numerous times but so far they have resisted. In their latest attempt, local government is threatening to demolish Lien Tri Pagoda by the end of September 2014 if the residing abbot does not accept their compensation payment. 

Local government announced that Thu Thiem development plan is for the long term benefit and development of Ho Chi Minh City. How can people’s religious and spiritual needs be met when long term development gives no consideration for religious institutions? How can freedom of religion as prescribed in the Constitution be accomplished? And, whether this is really all about lucrative payout for officials by taking control of the prime real estate involved? 

Or perhaps those in charge of the new Thu Thiem city development do not believe in religion because they are Communist. But the residents of Thu Thiem have their needs for religion, for spiritual guidance and to practice their faiths. And the city of Thu Thiem needs religious institutions to provide the foundation for moral values and humanity, just as religious belief had provided that foundation throughout our history. 

Therefore, the Interfaith Council of Vietnam: 

1. Vehemently protest the previous demolition and elimination of many religious facilities, and the current coercion to relocate the remaining religious institutions in Thu Thiem. 

2. Strongly urge city government to modify the current development plan and ensure the protection of all facilities and properties belonging to Lien Tri Pagoda, Thu Thiem Catholic Church and Congregation of the Lovers of the Holy Cross; and to ensure the return of properties belonging to Vietnam Evangelical Church and Mennonite Church. 

3. Resolutely affirm that all religious institutions in Thu Thiem should never be eliminated because of their long history of dedicated services and benefits provided to society and the local residents. 

4. Unequivocally declare that the effort to force the relocation of existing religious institutions from Thu Thiem is a clear evidence that the Government of Vietnam is violating freedom of religion as prescribed by the Constitution, denying citizens of their spiritual needs, contradicting long term development for humanity, and creating the risk for further moral degradation not just for Thu Thiem but for the whole country. 

5. Finally, we urge local government to satisfactorily resolve all complaints filed by former residents of Thu Thiem who were unjustly relocated. 

September 15, 2014 

Signed by the following members of the Interfaith Council of Vietnam: 
Catholic: 
• Reverend Peter Phan Văn Lợi (Tel: 0984.236.371) 
• Reverend Joseph Đinh Hữu Thoại (Tel: 0935.569.205) 
• Reverend Anthony Lê Ngọc Thanh (Tel: 0993.598.820) 

Buddhist: 
• Venerable Thích Không Tánh (Tel: 0165.6789.881) 
• Venerable Thích Viên Hỷ (Tel: 0937.777.312) 

Protestant Churches: 
• Pastor Nguyễn Hoàng Hoa (Tel: 0121.9460.045) 
• Pastor Đinh Uỷ (Tel: 0163.5847.464) 
• Pastor Đinh Thanh Trường (Tel: 0120.2352.348) 
• Pastor Nguyễn Hồng Quang (Tel: 0978.207.007) 
• Pastor Phạm Ngọc Thạch (Tel: 0912.000.709) 
• Pastor Nguyễn Trung Tôn (Tel: 0906.342.908) 
• Pastor Nguyễn Mạnh Hùng (Tel: 0906.342.908) 
• Pastor Lê Quang Du (Tel: 0121.2002.001) 

Cao Dai: 
• First Master Hứa Phi (Tel: 0163.3273.240) 
• First Master Nguyễn Kim Lân (Tel: 0988.971.117) 
• First Master Nguyễn Bạch Phụng (Tel: 0988.477.719) 

Hoa Hao Buddhist: 
• Mr. Lê Quang Liêm, Chairman (Tel: 0199.2432.593) 
• Mr. Phan Tấn Hòa (Tel: 0162.6301.082) 
• Mr. Tống Văn Chính (Tel: 0163.5745.430) 
• Mr. Lê Văn Sóc (Tel: 096.4199.039)

Please: https://www.change.org/p/h%C3%A3y-c%C3%B9ng-l%C3%AAn-ti%E1%BA%BFng-%E1%BB%A7ng-h%E1%BB%99-h%E1%BB%99i-%C4%91%E1%BB%93ng-li%C3%AAn-t%C3%B4n-ng%C4%83n-c%E1%BA%A3n-nh%C3%A0-c%E1%BA%A7m-quy%E1%BB%81n-csvn-tri%E1%BB%87t-h%E1%BA%A1-c%C3%A1c-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-t%C3%B4n-gi%C3%A1o-t%E1%BA%A1i-th%E1%BB%A7-thi%C3%AAm#

Read more

NV Nguyễn Xuân Nghĩa kể chuyện nhà tù

VRNs (15.09.2014) – Sài Gòn – “Khi tôi bị biệt giam trong một căn phòng nhỏ hẹp và trong một thời gian dài như vậy thì lúc đầu tôi bị stress. Tôi đã có những giây phút bị lung lay tinh thần bằng cách phải làm đơn cầu xin ban giám thị giải tỏa cho tôi, để tôi được trở về với mọi người trong buồng giam chung, nhưng tôi đã trấn tĩnh và suy nghĩ rằng, nếu tôi làm như vậy, tinh thần của tôi sẽ yếu kém đi mãi mãi, một lần yếu kém thì nó chính là cái đà cho những sự yếu kém tinh thần của tôi về sau này. Bởi vậy, tôi kiên quyết không làm đơn, không nhận tội, và một con người như tôi đã không nhận tội [trước tòa án] mà lại phải nhận tội [trong trại giam] để van xin họ cho thoát khỏi phòng biệt giam, thì chính bản thân tôi cảm thấy xấu hổ. Và sau này, khi tôi ra khỏi tù, tôi gặp những bạn bè của tôi thì sự xấu hổ đó còn tăng lên gấp bội, nên tôi kiên quyết chịu đựng. Thời điểm biệt giam là thời điểm tôi có thể kết thúc số phận một cách tốt nhất, vì làm như thế tiếng vang rất lớn, nhưng tôi nghĩ rằng tiếng vang ấy dù lớn đến đâu cũng không lớn bằng tôi sẽ cố gắng sống để trả xong cái án tù, để trở về, để tiếp tục công việc cao quý của tôi, đó là cùng với tất cả anh em đấu tranh cho tự do cho dân tộc.” Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa chia sẻ sau khi ông được mãn hạn tù sáu năm vào ngày 12.09 vừa qua.

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa quả quyết: “con người không thể vượt qua được nó, mà chắc chắn vượt qua được nó bằng ý chí và nghị lực của bản thân. Anh có thể bị khủng hoảng trong một hai tháng đầu, nhưng nếu vượt qua được ngưỡng đó, thì anh sẽ vượt qua được mãi. Anh phải tin vào cuộc đấu tranh của anh. Anh phải nghĩ rằng, anh phải sống để đấu tranh cho dân tộc.”

Sau đây xin mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn của Pv. VRNs với Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa:

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa lúc vừa về đến tư gia ở Hải Phòng

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa lúc vừa về đến tư gia ở Hải Phòng

Huyền Trang, VRNs: Thưa Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, trước hết, xin chúc mừng ông đã được đoàn tụ với gia đình sau sáu năm bị giam cầm. Vậy xin ông có thể cho biết những suy nghĩ của ông vừa khi ra khỏi tù là gì ạ?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa: Khi tôi ra khỏi nhà tù có một luồng suy nghĩ lạc quan bởi vì có nhiều tổ chức [nhân quyền] hình thành và nhiều người tham gia vào công cuộc đấu tranh dân chủ cho đất nước. Lạc quan đó được bổ sung bởi những con người mà tôi đã gặp, cũng như vợ con tôi đã tạo cho tôi một không khí lạc quan rằng công việc của chúng tôi là chính đáng và chúng tôi sẽ thắng lợi.

Huyền Trang, VRNs: Trong nhà tù, công an đã đối xử với ông thế nào và ông đã phản ứng lại với họ ra sao?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi bị giam cầm 6 năm, 2 lần bị biệt giam mỗi lần 3 tháng, bị chuyển trại 4 lần, bịt miệng 1 lần và bị đánh 1 lần do tôi bảo vệ quan điểm đấu tranh, chống lại những áp bức, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người tù nhân, cho nên tôi được đối xử một cách khá đặc biệt.

Tôi ấn tượng nhất là nhà tù Nam Hà, những người cai tù ở đó là những con quỷ chứ không phải là con người.

Về con người, trong Trại giam Số 6, tôi ấn tượng anh Nguyễn Văn Hải, tức Blogger Điếu Cày. Anh đã tuyệt thực 33 ngày để phản đối việc khủng bố của giám thị trại giam đối với cá nhân anh, [sau đó] anh đã thắng lợi và giám thị trại giam phải xin lỗi anh, giải tỏa cho anh và không giam riêng anh, và anh trở về buồng giam chung với chúng tôi. Tinh thần của anh đã lan tỏa đến chúng tôi là sẵn sàng hy sinh cho quê hương đất nước.

Tại trại giam An Điềm, Quảng Nam, tôi có dịp sát cánh với Ls Lê Quốc Quân, mặc dù tôi chỉ ở với anh có bốn tháng là tôi mãn hạn tù, nhưng nếu tôi có đi tù một lần nữa thì tôi muốn ở cùng với Ls Lê Quốc Quân, bởi vì anh có một tinh thần chống cực khá quyết liệt với sự khéo léo nên anh đã thắng lợi trong cuộc đấu tranh [trong trại giam]. Ví dụ như, anh phản đối việc mặc áo tù. Khi tù nhân thăm gặp gia đình bắt buộc phải mặc áo tù nhưng anh kiên quyết không mặc, nên cán bộ trại giam đã sử dụng hình thức khủng bố tinh thần bằng cách biệt giam, nhưng anh vẫn kiên quyết trả lời thà bị biệt giam chứ không mặc áo tù vì anh ấy là vô tội. Cuối cùng người ta phải chấp nhận cho anh không mặc áo tù hằng ngày và mỗi lần thăm gặp gia đình cũng vậy. Một người tù không mặc áo tù mà đi giữa đám tù nhân mặc áo tù, thì người ấy cực kỳ nổi bật và gây một cảm xúc mãnh liệt. Tinh thần của anh đã lan tỏa đến các tù nhân khác. Chúng tôi nhìn hình ảnh của anh để tự hào, đó là một tù nhân chính trị kiên giang nhất trong những người mà tôi đã quen biết.

Tôi luôn cảm phục tinh thần đấu tranh của họ cho dân chủ hóa đất nước bằng những hành vi rất cụ thể ở ngay trong nhà tù.

Huyền Trang, VRNs: Thưa ông, ông nói rằng, ông đã hai lần bị giam riêng vậy ông có thể mô tả cụ thể hơn những lần giam riêng này là như thế nào ạ?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa: Giam riêng là cách gọi của ban giám thị trại giam. Cấu tạo buồng biệt giam cho tù nhân chính trị rộng khoảng 6m2 cho một người, không có nhà vệ sinh. Chúng tôi phải ăn, ngủ và đi vệ sinh cùng một nơi. Đi vệ sinh trong một cái bô. Một ngày có 15 phút viên cai ngục mở cửa [buồng giam], để tôi mang cái bô ra đầu cống đổ những đồ xú uế đã thải ra. Đặc biệt, chúng tôi bị giam 24/24 trong một căn phòng nhỏ hẹp như vậy ròng rã suốt ba tháng trời, thì con người ta rất dễ tìm đến cái chết, bởi vì con người cần có sự giao lưu. Tất nhiên cái hành vi này của ban giám thị trại giam đã không khuất phục được [tinh thần] tôi [trong suốt 2 lần bị biệt giam mà mỗi lần ba tháng ấy], nên họ thả tôi ra và họ chuyển tôi sang một nhà tù khác là trại giam An Điềm – Quảng Nam.

Từ Hải Phòng [quê hương của tôi] vào đến đất Quảng Nam, theo ước tính của tôi là khoảng 900 cây số, việc đưa một tù nhân giam ở một trại giam xa xôi như vậy là cố tình tước bỏ quyền thăm gặp của gia đình tù nhân. Theo Luật nói rằng, mỗi một tù nhân một tháng được gặp thân nhân một lần, nên việc giam tôi xa như vậy là tước bỏ quyền thăm gặp của tôi và của gia đình tôi.

Huyền Trang, VRNs: Qua câu chuyện ông chia sẻ cho thấy, ông đã từng bị biệt giam một mình trong một căn phòng kín, nhỏ hẹp chỉ khoảng 6m2 và ông đã bị biệt giam 2 lần mà mỗi lần ba tháng, vậy động lực nào đã giúp ông vượt qua những nghịch cảnh như thế này ạ?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa: Khi tôi bị biệt giam trong một căn phòng nhỏ hẹp và trong một thời gian dài như vậy thì lúc đầu tôi bị stress. Tôi đã có những giây phút bị lung lay tinh thần bằng cách phải làm đơn cầu xin ban giám thị giải tỏa cho tôi, để tôi được trở về với mọi người trong buồng giam chung, nhưng tôi đã trấn tĩnh và suy nghĩ rằng, nếu tôi làm như vậy, tinh thần của tôi sẽ yếu kém đi mãi mãi, một lần yếu kém thì nó chính là cái đà cho những sự yếu kém tinh thần của tôi về sau này. Bởi vậy, tôi kiên quyết không làm đơn, không nhận tội, và một con người như tôi đã không nhận tội [trước tòa án] mà lại phải nhận tội [trong trại giam] để van xin họ cho thoát khỏi phòng biệt giam, thì chính bản thân tôi cảm thấy xấu hổ. Và sau này, khi tôi ra khỏi tù, tôi gặp những bạn bè của tôi thì sự xấu hổ đó còn tăng lên gấp bội, nên tôi kiên quyết chịu đựng. Thời điểm biệt giam là thời điểm tôi có thể kết thúc số phận một cách tốt nhất, vì làm như thế tiếng vang rất lớn, nhưng tôi nghĩ rằng tiếng vang ấy dù lớn đến đâu cũng không lớn bằng tôi sẽ cố gắng sống để trả xong cái án tù, để trở về, để tiếp tục công việc cao quý của tôi, đó là cùng với tất cả anh em đấu tranh cho tự do cho dân tộc.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, trong câu chuyện vừa rồi, ông khẳng định tại trại giam Nam Hà không xem người tù chính trị và các tù nhân khác là một con người, thì ông có thể nói rõ điều này hơn và xin ông cho một minh chứng ạ?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa: Trong thời gian tôi bị giam ở trong trại giam Nam Hà là thời gian tôi phải chịu đựng cực khổ nhất về cách hành xử của những nhân viên cai tù. Khi chúng tôi vào [trại giam], chúng tôi bị tẩy não bằng cách họ triệu tập các tù nhân chính trị lên văn phòng, họ nói chuyện, đưa giấy bút bắt làm những bản kiểm điểm, nhận các tội của mình và cầu mong được sự quan tâm của ban giám thị trại, để được giảm án. [Cai tù] không đánh đập, không dùng những lời lẽ mạt sát chúng tôi, nhưng những hành vi đó còn đau đớn hơn và sỉ nhục hơn là đánh đập, bởi vì tất cả các tù nhân chính trị [lương tâm] chúng tôi đều là trí thức, không nhận tội vì họ biết việc họ làm là chính nghĩa. Cho nên, một số tù nhân chính trị khác đã làm theo yêu cầu của ban giám thị trại tố cáo các tù nhân chính trị [lương tâm]. Ví dụ như tôi bị giam riêng bởi một sự tố cáo của hai người tù làm gián điệp cho Trung Quốc, họ tố cáo tôi “tuyên truyền chống nhà nước” trong nhà tù.

Cán bộ giám thị trại giam lợi dụng các tù nhân chính trị khác để tố cáo chúng tôi [tù nhân chính trị lương tâm] đã sỉ vả đảng CS. Thí dụ, chúng tôi đã đấu tranh yêu cầu trại giam phải cải thiện môi trường sống, đây là một việc làm rất chính đáng, nên ban giám thị phải chấp nhận các yêu sách của chúng tôi. Nhưng họ lại trả tù chúng tôi bằng cách cho rằng, chúng tôi làm đơn tập thể để xúi giục anh em chống lại lệnh của cán bộ trại giam và có sự xác nhận của những người tù khác, cụ thể là những người tù làm giám điệp cho Trung Quốc. Cuối cùng chúng tôi một lần nữa lại bị biệt giam. Số phận này không chỉ riêng tôi mà anh Phạm Văn Trội, cùng giam chung với tôi cũng bị như vậy. Tôi và anh Trội mỗi người bị biệt giam một nơi vì bị kết tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” trong trại giam. Tôi và anh Trội đã trải qua nhiều uất ức, nhưng tôi và anh Trội đã vượt qua được với mong muốn trở về với mọi người, cùng đấu tranh cho dân chủ ở VN trong đó đòi quyền tự do tín ngưỡng [cho người tù].

Huyền Trang, VRNs: Thưa Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, điều quan trọng nhất mà ông học được trong suốt 6 năm tù qua là gì?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa: Điều thứ nhất, chế độ giam giữ của nhà tù của chính quyền độc tài là hoàn toàn không có giá trị nhân văn và rất tàn khốc. Điều thứ hai, con người không thể vượt qua được nó, mà chắc chắn vượt qua được nó bằng ý chí và nghị lực của bản thân. Anh có thể bị khủng hoảng trong một hai tháng đầu, nhưng nếu vượt qua được ngưỡng đó, thì anh sẽ vượt qua được mãi. Anh phải tin vào cuộc đấu tranh của anh. Anh phải nghĩ rằng, anh phải sống để đấu tranh cho dân tộc.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ông đã từng trải qua nhiều trại giam và khẳng định, các quản giáo xem người tù như là một con súc vật. Vậy thưa ông, nay ông đã trở về với gia đình và đang hội nhập với xã hội thì ông có ý tưởng nào lên tiếng cho các tù nhân được đối xử như một con người ạ?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi đã trải qua nhiều trại giam nên tôi rất hiểu các điều khiện giam giữ khắc khổ, tàn khốc mà các tù nhân phải chịu đựng. Tôi nghĩ rằng không chỉ dư luận trong nước mà dự luận quốc tế, các tổ chức nhân quyền, các tổ chức theo dõi tù nhân lương tâm nên quan tâm đến chế độ giam giữ của nhà tù VN nhiều hơn nữa. Đặc biệt là quan tâm đến nhóm tù nhân lương tâm của chúng tôi, phải có một sức ép to lớn hơn, hiệu quả hơn để những người tù nhân lương tâm này được trở về với cuộc sống bình thường bên ngoài xã hội.

Huyền Trang, VRNs: Thưa ông, trong trại giam Nghệ An ông đã gặp Tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Hải và qua trại giam An Điềm ông đã có dịp tiếp xúc với Ls Lê Quốc Quân thì nhân ngày trở về với gia đình ông có điều gì chia sẻ đến gia đình tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Hải cũng như Luật sư Lê Quốc Quân ạ?

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa: Sau khi ra khỏi trại giam, tôi đã liên lạc với gia đình anh Hải và nói với gia đình hãy yên tâm, nếu có một sự bất bình hay một hành vi dã man của cai tù thì anh Hải sẽ đấu tranh, có thể anh tuyệt thực, nhưng bao giờ anh cũng thắng lợi. Cho nên, việc đấu tranh của anh Hải là việc làm chính nghĩa, xứng đáng nên lấy làm tự hào. Điều thứ hai ở anh Hải là sự thông minh, anh rất hiểu luật pháp. Có nhiều cán bộ cảm phục anh, luôn luôn tìm cách nói chuyện với anh, mặc dầu không được phép.

Ở trại giam An Điềm, Đà Nẵng, tôi được gặp Luật sư Lê Quốc Quân, tôi nhận thấy đây là một con người rất dũng cảm, một người có lý luận. Anh có thể sử dụng ngôn ngữ để đấu tranh giành thắng lợi. Trước khi tôi trở về với gia đình, anh Quân đã nhắn với tôi cho anh gửi lời hỏi thăm tất cả anh em ở bên ngoài, đồng bào giáo dân… Anh sẽ trở về vào tháng 6 tới, sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh và xin mọi người cùng tin tưởng.

Huyền Trang, VRNs: Xin chân thành cám ơn Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa.

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa là một trong những người đầu tiên lên tiếng việc Hoa Lục xâm chiếm lãnh hải VN.

Blogger Phạm Thanh Nghiên cho biết thêm, cô cùng với Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, người lính già Vũ Cao Quận viết “đơn xin phép biểu tình”, yêu cầu chính phủ đầy lùi lạm phát.

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa bị Tòa án Nhân dân Hải Phòng kết án 6 năm tù giam và 3 năm quản chế vào ngày 09.10.2009. Ông Nghĩa bị buộc tội đã “lưu trữ, phát tán những tài liệu vu khống chế độ, sau đó chụp hình và phát tán lên mạng Internet” theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự.

Vào năm 2011, ông được Tổ chức theo dõi Nhân quyền trao giải thưởng uy tín Hellman/Hammett để ghi nhận lòng dũng cảm và kiên định trước sức ép đàn áp chính trị.

Huyền Trang, VRNs

Read more

Tập đánh hổ con để diệt hổ mẹ

VRNs (15.09.2014) – California, USA – Chiến thuật lâu năm của Mao Trạch Đông – chặt đứt các rễ phụ trước khi tấn công các cây cổ thụ trong chính trường – nay lại đang được Tập Cận Bình áp dụng, với tên mới: Đánh Hổ Diệt Ruồi, hay Đánh Hổ Con Để Diệt Hổ Mẹ. Ai cũng biết Hổ Mẹ hiện nay chính là cựu Chủ Tịch Giang Trạch Dân.

14091500Mặc dù tuổi già sức yếu và còn mắc thêm chứng bịnh ung thư bàng quang nhưng ông Giang Trạch Dân vẫn thường hay tham dự các buổi họp nội bộ của nhóm quyền lực chính trị Thượng Hải. Nhóm này đã thua cuộc trong việc cứu Bạc Hy Lai và tướng Từ Tài Hậu, nay họ đang ráo riết tìm cách cứu vãn cho ông Chu Vĩnh Khang vì đã tiến đến quá gần Giang Trạch Dân. Và một khi họ Giang bị triệt hạ thì toàn nhóm Thượng Hải gần như đương nhiên sẽ bật gốc, bị tù tội, và có thể có cả án tử hình.

Hiện nay, ông Chu Vĩnh Khang, có thời nắm tất cả công an, mật vụ, và tòa án trên toàn quốc, đang bị ông Tập Cận Bình và phe Thái Tử Đảng ra tay thanh trừng nhân danh bài trừ tham nhũng. Theo giới quan sát quốc tế thì khó mà chối tội tham nhũng của ông Chu Vĩnh Khang. Đây là điều khá hiển nhiên so với mức lương cán bộ và lý lịch suốt đời phục vụ đảng của ông. Tuy nhiên, ông Chu không phải là người duy nhất ở thượng tầng đảng CSTQ có khối tài sản lớn mức đó. Công luận quốc tế và Trung Quốc đều đương nhiên tin rằng tất cả mọi thành viên Bộ Chính Trị đảng CSTQ, kể cả những kẻ đang kết tội ông Chu, đều có số gia sản (không thể giải thích xuất xứ) ở mức bằng hoặc lớn hơn ông ta.

Chính vì vậy, ông Giang Trạch Dân cho đến nay không cần chứng minh đàn em của mình trong sạch (mà có chứng minh cũng chẳng ích gì vì phe ông Tập Cận Bình nắm mọi khâu từ điều tra, truy tố, đến xử án, và thi hành án). Ông Giang Trạch Dân, qua các đường dây gián tiếp, chỉ nhắc khéo ông Tập rằng bất kỳ ai đã từng là Ủy viên Bộ Chính trị đều được miễn truy tố về tội hình sự. Đó là một quy luật bất thành văn từ thời ông Đặng Tiểu Bình. Lời nhắc này cũng là câu cảnh cáo: nếu đem ra xử ông Chu tức là ông Tập đã phá vỡ tiền lệ này và chính ông Tập sẽ bị đem ra xử như vậy khi bước xuống khỏi ghế quyền lực. Có lẽ nghĩ rằng ngày đó còn xa nên ông Tập không có vẻ nao núng gì trước lời cảnh cáo của ông Giang mà còn đang tung ra các đòn mới nhanh hơn và mạnh hơn, như tịch thu hàng loạt hộ chiếu của các quan chức lớn.

Ngoài việc tịch thu gấp rút hộ chiếu của các đại cán trong nước, những cán bộ đang đi công tác ở nước ngoài cũng đã được yêu cầu nộp ngay hộ chiếu khi về nước. Danh sách các cán bộ có vợ, chồng, con cái định cư ở nước ngoài đã được chính thức thiết lập ở từng cơ quan. Nhân viên trong mọi ban ngành chính phủ cũng đã được chỉ thị theo dõi lẫn nhau và phải báo cáo nếu thấy chỉ dấu đáng nghi ngờ có người muốn chạy ra nước ngoài. Để biện minh cho biện pháp mới này, hàng loạt các cơ quan nhà nước cấp trung ương và cấp tỉnh tung ra đủ loại thống kê về con số về cán bộ trốn ra nước ngoài mang theo khối tiền lên đến nhiều tỉ mỹ kim hàng năm. Các con số từ những cơ quan trên nhiều khi mâu thuẫn lẫn nhau. Các cơ quan tại trung ương như Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao công bố con số cán bộ bỏ trốn trên cả nước ở mức dưới 1000 người mỗi năm, nhưng chỉ riêng tỉnh Quảng Đông (một trong những tỉnh làm ăn khấm khá nhất nước) lại công bố con số trên 2000 người mỗi năm. Tình trạng căng thẳng trong giới quan chức cao cấp đang ở mức rúng động.

Một hiện tượng đáng chú ý là cả 2 phe đều tận dụng mạng Internet để tung ra những dữ kiện mà trước đây được xem là bí mật quốc gia, đặc biệt là tình trạng sức khỏe của các quan chức ở thượng tầng. Các tin tức rò rỉ này thường đi kèm với nhiều dữ kiện rất cụ thể và chi tiết khiến phe đối phương khó lòng phủ nhận được.

Một dẫn chứng điển hình là gần đây phe cánh Thái Tử Đảng của ông Tập Cận Bình tung lên mạng Internet cho biết ông Giang đang suy thoái tinh thần trầm trọng phải nhập viện khẩn. Không ngừng ở đó, người đưa tin còn cho biết 2 lý do khiến ông Giang đột quị. Lý do thứ nhất là vì không cứu được Chu Vĩnh Khang sau 2 thất bại liên tiếp đối với Bạc Hy Lai và Từ Tài Hậu. Lý do thứ nhì lớn hơn nữa là vì người con đầu của ông ta, Giang Miên Hằng, đã bị đưa vào danh sách điều tra của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Đảng về tội tham nhũng. Bản tin nói thẳng luôn Ủy ban Kiểm tra dư biết ông Hằng đứng đầu các nhóm lợi ích ở Thượng Hải trong các lãnh vực béo bở bao gồm điện tín, điện thoại, sản xuất xe ôtô, và hàng không. Bản tin viết như lời kết luận của Ủy Ban rằng dù ông Giang Miên Hằng nắm bằng đó bộ máy làm ra tiền, ông ta vẫn liên kết với đại gia Chu Chính Nghị cướp đoạt đất đai của dân, vay tiền ngân hàng không trả… Hiện nay số tiền ông Giang Miên Hằng đang gởi tại các ngân hàng nước ngoài không dưới 3 tỷ mỹ kim. Và ông Hằng chỉ mới là một trong những người con, người cháu trong đại gia đình Giang Trạch Dân.

Ông Giang Trạch Dân bủn rủn khi biết tin Ủy ban Quy luật Trung ương đảng đã giao hồ sơ tham nhũng của ông Giang Miên Hằng cho ông Vương Kì Sơn để điều tra. Ông Vương nổi tiếng trong vụ điều tra ông Chu Vĩnh Khang về tội tham nhũng và được ông Tập Cận Bình nhắc tên thường xuyên trong các buổi hội thảo cán bộ cấp cao. Khi nhận được hồ sơ tham nhũng của con trai ông Giang Trạch Dân, ông Vương tuyên bố rằng: “Khi đã điều tra, tôi không nương tay cho bất cứ ai”.

Một sự việc đáng kể khác là ông Tập Cận Bình gián tiếp cảnh cáo luôn cả cựu Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào để ông này không kéo về phe với Giang Trạch Dân. Ngày 03/09/2014, báo đài công cụ ở Hoa lục loan tin 1 trong 13 ủy viên của Tỉnh ủy Sơn Tây đã bị cách chức, 3 ủy viên khác đã bị bắt để điều tra về tội tham nhũng. Và đặc biệt nhấn mạnh cả 4 người này xuất thân từ đoàn Thanh niên Cộng sản mà lên. Đây là một dữ kiện chẳng liên hệ gì đến các tội trạng đang bị điều tra. Giới quan sát tin rằng việc đưa ra dữ kiện này là lời cảnh cáo cho ông Hồ Cẩm Đào, người mà dân chúng cả nước cũng như thế giới biết đã leo lên từ hệ thống Đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Ông Hồ trong những năm nắm quyền cũng dành nhiều ưu đãi cho Đoàn và đưa nhiều cựu cán bộ Đoàn vào các vị trí hệ trọng trong Đảng.

Trong khi đó, giới cộng đồng mạng chỉ ra Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Sơn Tây, ông Lý Tiểu Bằng, là một cán bộ khét tiếng tham nhũng, tệ hơn 4 người bị bắt rất nhiều, vẫn ung dung ngồi ghế cai trị. Lý do đơn giản là vì ông Lý thuộc cánh ông Tập Cận Bình. Đây là một trong những dẫn chứng lớn của các cư dân mạng khi đi đến kết luận: lý cớ “diệt tham nhũng” chỉ là vỏ bọc cho tham vọng thâu tóm toàn bộ quyền lực của phe ông Tập và loại bỏ hẳn 2 đối thủ lớn trong chính trường là ông Giang và ông Hồ.

Tóm lại, ông Tập Cận Bình đang phá bỏ nhiều tiền lệ, nhiều giao ước bất thành văn giữa giới lãnh đạo Trung Quốc suốt từ thời Đặng Tiểu Bình đến nay. Có người còn cho rằng ông Tập đã bắt đầu bước vào cơn xoáy có thể từng bước kéo Trung Quốc trở về tình trạng chính trị thời Mao Trạch Đông. Đó là sẵn sàng dùng biến động xã hội đến mức “long trời lở đất” để triệt hạ các đối thủ chính trị, bất kể các thiệt hại cực lớn và lâu dài cho đất nước.

Cũng có nhà phân tích cho rằng ông Tập không có chọn lựa nào khác. Ông ta đang ở cùng hoàn cảnh như ông Gorbachev khi lên nhậm chức Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên Xô. Và có vẻ như Hoa Lục đang bước vào giai đoạn “Perestroika với đặc tính Trung Quốc”.

Ngô Quảng

Read more

UB Công lý & Hòa bình: Kêu gọi cầu nguyện cho thế giới và Việt Nam được hòa bình

VRNs (13.09.2014) – Sài Gòn – Hôm nay, kỷ niệm 98 năm Đức Maria hiện ra ở Fatima (1917), Người đã gởi đến thế giới một sứ điệp:

“Hãy ăn năn đền tội, cải thiện đời sống. Hãy lần chuỗi Mân Côi hằng ngày để đem hòa bình cho nhân loại và để chấm dứt chiến tranh (…). Nếu các con thi hành các điều Ta phán dạy thì rất nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và sẽcó hòa bình. (…)  Nếu các điều Mẹ mong ước được thực thi, nước Nga sẽ trở lại, và sẽ có Hòa Bình. Nếu không, nước Nga sẽ gieo rắc các tà thuyết trên khắp thế giới, chiến tranh sẽ xảy ra, Giáo Hội sẽ bị bách hại, người lành sẽ bị tử đạo…”

Ủy ban Công lý và Hòa bình trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam cho biết: “Cha ông chúng ta đã vâng lời Mẹ dạy, tin tưởng vào Chúa quan phòng và nhiệt tâm thực hiện sứ điệp của Mẹ. Vì vậy, nước Nga và toàn bộ Khối Đông Âu đã trở lại, từ bỏ thứ chủ nghĩa không tưởng để quay về với nẻo chính đường ngay. Đến lượt chúng ta, chúng ta phải tiếp tục thực hiện sứ điệp của Đức Mẹ để cầu nguyện cho hòa bình thế giới, cho nước Trung Hoa trở lại và cho Công lý hòa bình thực sự ngự trị trên đất Việt chúng ta”.

VRNs xin trân trọng giới thiệu toàn văn Thư hiệp thông cầu nguyện này.

140911004

—-

 

 

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam                                      

Ủy Ban Công Lý và Hoà Bình                                  

Số 72/12, Trần Quốc Toản, phường 7                             

Quận 3, TP.HCM, Việt Nam

Email: [email protected]

ĐT: (08) 36007651         

 

Sài Gòn, Ngày 13 tháng 9 năm 2014  

VĂN THƯ

V/v: Tiếp tục thực hiện sứ điệp Fatima cho Hòa bình và Công lý

 

Kính gửi: Đức Hồng Y, quý Đức Tổng, quý Đức Cha, quý Cha, quý Tu sĩ nam nữ, quý Chủng sinh và toàn thể cộng đồng Dân Chúa Việt Nam trong nước và ngoài nước

Hơn lúc nào hết, Thế giới và Việt Nam chúng ta đang trải qua một giai đoạn bất ổn, đầy thử thách và hiểm nguy. Là người công dân Việt Nam, chúng ta có bổn phận đối với vận mệnh của Tổ Quốc và hòa bình thịnh vượng của Nhân loại.

Trên bình diện quốc tế, hòa bình vẫn đang vắng bóng tại rất nhiều nơi trên thế giới. Chúng ta chứng kiến cảnh chiến tranh đẫm máu giữa Palestine và Israel tại giải Gaza, giữa Ukraine và phe ly khai thân Nga, giữa phiến quân Isis với các nước Syria và Iraq. Mâu thuẫn cũng đang leo thang giữa một bên là Mỹ với Liên minh Châu Âu và bên kia là Nga. Ngoài ra, những tranh chấp tại Đông Nam Á có nguy cơ dẫn đến hiểm họa chiến tranh như tranh chấp giữa Trung Quốc và Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tại hải đảo ở biển Hoa Bắc, nhất là tranh chấp giữa Trung Quốc với nhiều nước ASEAN tại Biển Đông.

Đối với Việt Nam, mặc dầu Trung Quốc đã rút giàn khoan HD-981, nhưng ý đồ xâm lược của Chính quyền Trung Quốc và “tham vọng Đại Hán” vẫn không thay đổi, thậm chí đang leo thang cách nguy hiểm hơn. Mới đây, Trung Quốc ngang nhiên quyết định xây dựng 5 ngọn hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa mà họ đã đánh chiếm của Việt Nam vào năm 1974 và đang biến bãi đá ngầm Gạc Ma của Việt Nam thành một đại công trường. Đây là một hành động thâm độc và nguy hiểm, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và tác hại đến hòa bình trên Biển Đông.

Đất nước chúng ta không những phải đối diện với nguy cơ chiến tranh, mà còn phải gánh chịu tình trạng suy thoái kinh tế, suy đồi luân lý đạo đức, xã hội bất ổn, bạo lực bất công gia tăng, nhân phẩm nhân quyền chưa được tôn trọng đúng mức, nhiều quyền tự do căn bản của con người vẫn bị tước bỏ… Thêm vào đó, nhà cầm quyền Việt Nam, một mặt chưa có quyết sách minh bạch và cứng rắn theo hào khí ngàn năm của dân tộc, mặt khác, xem ra vẫn tiếp tục “đi đêm” với Trung Quốc, phủ nhận ý kiến cảnh báo đất nước lâm nguy của nhân sĩ, trí thức và đồng bào yêu nước.

Trước tình hình này, Giáo Hội Công Giáo Việt nam phải sống và loan báo Tin Mừng như thế nào? Là công dân của đất nước, mỗi người công giáo không thể thờ ơ với tình trạng và vận mạng của đất nước, nhưng cần nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức sâu sa và can đảm thực thi tránh nhiệm bảo vệ và xây dựng đất nước trong công lý, sự thật, tự do và tình liên đới.

Từ viễn tượng đức tin, chúng ta tìm thấy câu trả lời cho bối cảnh hôm nay nơi chính sứ điệp Fatima (1917): “Hãy ăn năn đền tội, cải thiện đời sống. Hãy lần chuỗi Mân Côi hằng ngày để đem hòa bình cho nhân loại và để chấm dứt chiến tranh (…). Nếu các con thi hành các điều Ta phán dạy thì rất nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và sẽcó hòa bình. (…)  Nếu các điều Mẹ mong ước được thực thi, nước Nga sẽ trở lại, và sẽ có Hòa Bình. Nếu không, nước Nga sẽ gieo rắc các tà thuyết trên khắp thế giới, chiến tranh sẽ xảy ra, Giáo Hội sẽ bị bách hại, người lành sẽ bị tử đạo…”

Cha ông chúng ta đã vâng lời Mẹ dạy, tin tưởng vào Chúa quan phòng và nhiệt tâm thực hiện sứ điệp của Mẹ. Vì vậy, nước Nga và toàn bộ Khối Đông Âu đã trở lại, từ bỏ thứ chủ nghĩa không tưởng để quay về với nẻo chính đường ngay. Đến lượt chúng ta, chúng ta phải tiếp tục thực hiện sứ điệp của Đức Mẹ để cầu nguyện cho hòa bình thế giới, cho nước Trung Hoa trở lại và cho Công lý hòa bình thực sự ngự trị trên đất Việt chúng ta.

Như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã cảnh báo: “Chúng ta sẽ mắc phải sai lầm khi nghĩ rằng sứ mạng tiên tri của thông điệp Fatima đã được hoàn thành”. Chính vì vậy, để thực hiện lời nhắn nhủ đầy hy vọng của Đức Mẹ tại Fatima, trong ý hướng cầu nguyện của Đức Thánh Cha Phanxicô và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, “với ước muốn gần gũi với những người dân đau khổ, và sự liên đới của Hội Thánh với họ trong tình cảnh gian truân này”, Uỷ ban CLHB trực thuộc HĐGMVN tha thiết kính xin toàn thể công đồng dân Chúa: Tham dự thánh lễ, xưng tội, rước lễ, chầu Thánh Thể, lần hạt Mân Côi, sám hối cộng đồng, tự nguyện thực hành hy sinh như ăn chay, giúp đỡ người nghèo, người già, người cô đơn hoặc các việc bác ái khác tùy theo hoàn cảnh của mỗi người và sự sắp xếp của mỗi cộng đoàn, để cầu nguyện cho:

+ Các nhà lãnh đạo đất nước chúng ta biết “sớm thực hiện con đường lấy đạo lý truyền thống dân tộc vì dân vì nước, chứ không kiên định trong một ý thức hệ mà thực tế cho thấy không mang lại lợi ích nhiều cho dân nước mà còn đưa đất nước vào tình trạng lâm nguy”.

+ Nhà cầm quyền Trung Quốc biết tôn trọng công lý và hòa bình, sớm từ bỏ tư tưởng Đại Hán, dừng ngay âm mưu xâm lược, biết tôn trọng Công pháp quốc tế và sớm trở về với truyền thống “nhân nghĩa lế trí tín”.

+ Thế giới được hòa bình, nhất là tại những nơi đang xảy ra chiến tranh. Xin cho mỗi người biết dừng ngay mọi hành vi bạo lực, cho các bên biết đàm phán, thỏa thuận với nhau trong Tình yêu và Chân lý.

Xin mọi người cùng đồng tâm nhất trí kiên trì cầu nguyện. Nguyện xin Thiên Chúa là Cha chúng ta và xin Chúa Giêsu Kitô ban ân sủng và bình an trên toàn thế giới và trên đất nước của chúng ta.

Kỷ niệm ngày Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, 13.09.2014 

Uỷ Ban Công Lý Và Hoà Bình

Read more