Nhận biết Ý Chúa

VRNs (28.11.2014) – Sài Gòn – Nhận biết Ý Chúa là điều không dễ. Mà nhận biết rồi có vui vẻ chấp nhận hay không là việc khó, vì chúng ta thường không bằng lòng với những gì không hợp ý mình. Lời “xin vâng” của Đức Maria xem chừng dễ dàng quá, nhưng thực ra không phải vậy. Đức Mẹ mau mắn “xin vâng” vì Đức Mẹ yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Vậy Thiên Chúa có cách chọn lựa đúng trong điều tôi quyết định?

141126005Khi chúng ta xin ơn khôn ngoan để nhận biết Ý Chúa để chọn người bạn đời, nghề nghiệp, công việc, trường học, bạn bè,… hoặc bất kỳ điều gì, dù lớn hay nhỏ, khi đó có hai con đường khác nhau trước mắt chúng ta và chúng ta phải chọn lựa, Thiên Chúa có luôn là một con đường cho chúng ta? Nếu vậy, làm sao nhận biết?

Nhiều Kitô hữu “vật lộn” với vấn đề này vì không biết rằng các Kitô hữu ngày xưa có thể giúp chúng ta bằng kinh nghiệm của họ. Sự khôn ngoan Kitô giáo thể hiện qua đời sống và giáo huấn của các thánh cho chúng ta biết hai điều thích hợp với vấn đề này.

Thứ nhất, họ cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa không chỉ biết và yêu thương chúng ta mà còn quan tâm từng chi tiết trong cuộc đời chúng ta, và chúng ta tìm theo Ý Chúa trong mọi sự, dù lớn hay nhỏ. Thứ hai, họ cho chúng ta biết rằng Ngài ban cho chúng ta sự tự do và lý luận vì Ngài muốn chúng ta dùng để quyết định. Truyền thống này được minh họa qua câu châm ngôn nổi tiếng của Thánh Augustinô: “Hãy yêu mến Chúa, rồi cứ làm những gì bạn muốn”. Nói cách khác, nếu bạn thực sự yêu mến Ngài và theo ý Ngài, bạn có thể làm bất cứ điều gì, vì đó là làm theo Ý Chúa.

Làm theo hai lời khuyên này sẽ đưa mình vào hai hướng trái chiều hoặc chỉ có vẻ như thế? Có sự thật trong cả hai, điều mà chúng ta nhấn mạnh để giải quyết vấn đề xem Chúa có muốn cho chúng ta hay không?

Tôi nghĩ về cách thứ nhất và câu trả lời rõ ràng cho vấn đề này là còn tùy vào người yêu cầu. Chúng ta có xu hướng nhấn mạnh một nửa sự thật, và chúng ta có thể làm điều đó trong hai cách. Mọi tà thuyết trong lịch sử thần học đều hợp với kiểu này. Chẳng hạn, nhấn mạnh thần tính của Đức Kitô hơn nhân tính hoặc ngược lại; hoặc nhấn mạnh quyền tối cao của Chúa hơn ý muốn tự do hoặc ngược lại.

Đây là 5 nguyên tắc chung để nhận biết Ý Chúa về mọi vấn đề:

   1. Luôn bắt đầu với các dữ liệu, những gì chúng ta biết chắc. Nhờ cái đã biết mà đoán cái chưa biết, nhờ cái chắc chắn mà đoán cái không chắc. Ađam và Eva đã coi thường nguyên tắc này ở Vườn Địa Đàng, làm ngơ lệnh truyền của Thiên Chúa và lời cảnh báo về lời hứa hảo huyền của ma quỷ.

   2. Hãy để con tim điều khiển cái đầu. Hãy để lòng yêu mến Thiên Chúa hướng dẫn lý lẽ trong việc tìm Ý Ngài. Chúa Giêsu đã dạy người Pharisêu về nguyên tắc này: Họ hỏi Chúa Giêsu về cách hiểu lời Ngài, và Ngài đưa ra nguyên tắc đầu tiên về khoa chú giải (hermeneutics): “Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi. Ai muốn làm theo ý của Người thì sẽ biết rằng đạo lý ấy là bởi Thiên Chúa hay do tôi tự mình giảng dạy. Ai tự mình giảng dạy thì tìm vinh quang cho chính mình. Còn ai tìm vinh quang cho Đấng đã sai mình, thì là người chân thật, và nơi người ấy không có gì là bất chính” (Ga 7:16-18). Các thánh hiểu Kinh Thánh hơn các thần học gia, vì họ biết tác giả Kinh Thánh là chính Thiên Chúa, bằng cách yêu mến Ngài bằng cả linh hồn và trí khôn.

   3. Hãy mềm lòng chứ đừng cứng lòng. Chúng ta nên “khôn ngoan như con rắn và hiền lành như bồ câu”, tinh thông như con cáo về tư tưởng trung thành như con chó trong ý muốn và hành động. Mềm lòng không có nghĩa là nhẹ dạ, và cứng đầu không có nghĩa là cứng lòng. Lòng chúng ta nên sẵn sàng “rỉ máu” và đầu chúng ta nên “giữ vững lập trường”.

   4. Các dấu chỉ của Chúa theo dạng lượng giác học (trigonometry). Có ít là bảy dấu chỉ: (1) Kinh Thánh, (2) Giáo huấn của Giáo hội, (3) Lý lẽ của con người (do Thiên Chúa tạo nên), (4) Tình huống thích hợp (mà Ngài kiểm soát bằng sự quan phòng), (5) Lương tâm, biết đúng hay sai, (6) Ước muốn, bản năng hoặc xu hướng cá nhân, và (7) cầu nguyện.

Hãy trắc nghiệm sự chọn lựa bằng cách đặt mình trước mặt Chúa. Nếu một trong bảy điều nói KHÔNG thì đừng làm, nếu không điều nào nói KHÔNG thì cứ làm theo.

   5. Hãy tìm kiếm hoa trái của Thánh Thần, nhất là ba điều này: Yêu thích, vui mừng, và bình an. Nếu chúng ta bực tức và lo lắng, không thích, không vui và không bình an, chúng ta không có quyền nói rằng chúng ta chắc chắn an toàn theo Ý Chúa. Sự nhận thức không nên cứng ngắc (nhắc), nông nổi, nóng vội, nhưng phải cảm thấy yêu thích, vui mừng và bình an – vì đó là một phần Ý Chúa đối với chúng ta, giống như trò chơi hơn là cuộc chiến, giống như viết thư tình hơn là thi tốt nghiệp.

Bây giờ đối với vấn đề của chúng ta. Thiên Chúa có chọn lựa đúng cho tôi? Nếu đúng, tôi phải tìm kiếm. Nếu không, tôi nên thoải mái hơn và chịu thiệt một chút.

Đây là 5 gợi ý trả lời: Câu trả lời tùy theo bạn là loại người nào. Tôi cho rằng nhiều dạng: (1) Công giáo, (2) những người chính thống và trung tín với các giáo huấn của Giáo hội, (3) những người bảo thủ, và (4) những người bị lôi cuốn. Tôi có nhiều người bạn – bạn tình cờ, bạn thân, và bạn rất thân – về dạng này trong nhiều năm. Thật vậy, tôi hợp với cách của tôi. Vì thế tôi nói theo kinh nghiệm khi tôi cho rằng những người thuộc dạng này có xu hướng mạnh về dạng tính cách nào đó – không tốt cũng không xấu – cần được nuôi dưỡng bằng một cách nhấn mạnh hơn cách khác. Dạng tính cách đối lập cần sự nhấn mạnh đối lập.

Dựa vào việc quan sát riêng về loại người này, gợi ý đầu tiên của tôi là chúng ta thường có xu hướng định hình theo ước muốn tốt để tìm Ý Chúa dành cho chúng ta. Chúng ta đưa ra chứng cớ khủng khiếp đối với người không là Kitô hữu; chúng ta có vẻ không thoải mái để dừng lại ngửi những bông hồng của Chúa, để tận hưởng cuộc sống theo như Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta thường sợ hãi, bực bội, quan trọng hóa, thiếu khôi hài, và dễ tức giận. Tóm lại, đó là dạng “tiếp thị” không tốt cho Đức Tin của chúng ta.

Tôi không đề nghị chúng ta thỏa hiệp một chút đức tin để hấp dẫn những người không có đức tin. Tôi chỉ đề nghị chúng ta làm người. Cứ đi xem bóng đá. Cứ nhậu một chút, nếu biết uống. Đôi khi cũng cứ ngớ ngẩn một chút. Cứ thọc lét con cái và cùng vui vẻ. Hãy kể chuyện cười. Nói chung là cứ sống bình thường.

Đây là gợi ý thứ hai. Đa số các Kitô hữu, kể cả những người đạo đức, không biết những gì cần biết, đó là biết Ý Chúa qua từng cách chọn lựa của chúng ta. Hiếm lắm. Có thể điều gì đó quan trọng hơn là hiếm chăng? Có thể Thiên Chúa đã bỏ mặc chúng ta mà không gợi ý chăng?

Gợi ý thứ ba là Kinh Thánh. Trong đó có mọi tấm gương – đa số kỳ diệu, nhiều gương ngoạn mục – về việc Thiên Chúa mặc khải Thánh Ý Ngài. Nhưng các điều này được kể là mầu nhiệm: điều gì đó phi thường, chứ không chung chung.

Bóng tối và sự không chắc chắn thường xảy ra trong cuộc đời các thánh, kể cả đau khổ và nghèo nàn. Điều duy nhất phổ biến đối với nhân loại là Phúc Âm bảo đảm giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi (hậu quả của tội lỗi là chết chóc, sai lầm, sợ hãi), khỏi đau khổ và khỏi sự bất trắc. Nếu Thiên Chúa muốn chúng ta biết rõ ràng và không sai lầm, chắc chắn Ngài sẽ nói với chúng ta một cách rõ ràng và dứt khoát.

Gợi ý thứ tư là điều Thiên Chúa ban cho chúng ta: Sự tự do. Tại sao? Có một số lý do chính đáng. Chẳng hạn, để tình yêu của chúng ta có thể có giá trị hơn so với tình yêu theo bản năng, cảm xúc động vật không tự do. Nhưng tôi nghĩ có lý do khác. Là một giáo viên, tôi biết thi thoảng tôi cũng nên từ chối trả lời học sinh để chúng cố gắng tự tìm đáp án, như vậy chúng mới có thể ghi nhớ và tự đánh giá tốt hơn, đồng thời chúng cũng biết cách tập phán đoán khi tìm câu trả lời. Cho ai con cá thì rồi bạn phải nuôi họ suốt đời, cho ai cần câu và dạy họ câu cá là bạn nuôi họ cả đời rồi. Thiên Chúa ban cho chúng ta một số cá lớn, nhưng Ngài cũng ban cho chúng ta quyền tự do bắt cá nhiều hoặc ít.

Lý lẽ và tự do luôn đi đôi với nhau. Thiên Chúa tạo dựng cả hai giống như Ngài. Ngài mặc khải cho cả hai: dự đoán đối với lý lẽ và mệnh lệnh đối với ý chí. Nhưng khi Ngài không cho chúng ta câu trả lời, dù chỉ là lý thuyết, khi áp dụng cách dự đoán hoặc suy luận, như vậy Ngài cũng không cho chúng ta câu trả lời về luân lý hoặc hướng dẫn cụ thể, khi áp dụng mệnh lệnh hoặc kết luận. Ngài ban cho chúng ta lý trí và luân lý để thực hiện, và chắc chắn Ngài không vui khi chúng ta chôn giấu “nén tài năng” mà không “đầu tư” để Ngài thấy chúng ta sinh lời khi Ngài trở lại.

Về giáo dục, tôi biết luôn có hai thái cực. Bạn có thể quá tân thời, quá thực nghiệm, quá triết lý, quá nguyên tắc hoặc quá dễ dãi. Nhưng bạn cũng có thể quá cổ hoặc quá cứng rắn. Học sinh cũng cần sáng kiến, sáng tạo và nền bản. Luật Chúa rất ngắn gọn. Ngài ban cho chúng ta Mười Điều Răn, chứ không trăm hoặc ngàn điều răn. Tại sao? Vì Ngài muốn sự tự do và sự biến đổi. Tại sao bạn nghĩ Ngài tạo dựng quá nhiều người? Tại sao không dựng một vài người? Vì Ngài thích các tính cách khác nhau. Ngài muốn ca đoàn của Ngài đồng ca chứ không hợp xướng (but not in unison).

Tôi biết các Kitô hữu muốn tự biết mình nhiều để có thể quyết định xem cái nào chính xác là Ý Chúa muốn đối với họ. Tôi nghĩ như vậy tốt hơn là nghĩ về Thiên Chúa và người lân cận nhiều, còn chỉ ít nghĩ hoặc không nghĩ về mình, theo bản năng mà không muốn biết gì thêm. Nếu bạn yêu mến Chúa và hành động theo Luật Chúa, tôi nghĩ Ngài muốn chúng ta thư giãn một chút đấy.

Tôi rất ấn tượng với hình ảnh hàng rào quanh sân chơi của Chesterton ở trên núi, trẻ em trong đó có thể chơi đùa mà không sợ rơi xuống vực thẳm. Đó là lý do Thiên Chúa ban Lề Luật cho chúng ta: Không làm chúng ta âu lo nhưng giữ an toàn cho chúng ta để chúng ta có thể thoải mái với những trò-chơi-cuộc-đời, vui vẻ và yêu thương.

Mỗi chúng ta đều có những năng khiếu và ước muốn khác nhau, nhưng đã bị nhiễm tội – nhiễm cả vào lý luận và cơ thể của chúng ta. Chúng ta thường theo bản năng thể lý (như sự đói khát và phản xạ tự vệ) và bản năng trí tuệ (như tính tò mò và lý luận). Tôi nghĩ Ngài muốn chúng ta theo con tim. Chắc chắn là vậy, nếu Thành yêu Tâm hơn yêu Mai, anh ta có lý để nghĩ rằng Thiên Chúa đang muốn anh ta kết hôn với Tâm hơn là với Mai. Tại sao chúng ta không xử lý các chọn lựa khác theo quy luật tương tự?

Dĩ nhiên tôi không nói rằng chúng ta hoàn toàn không sai lầm. Tôi cũng không nói rằng chúng ta chỉ có thể theo lý lẽ của con tim. Trên đây tôi đã đưa ra 7 hướng dẫn. Nhưng chắc rằng chính Thiên Chúa đã “thiết kế” trái tim chúng ta – trái tim tinh thần với ước muốn và ý hướng nhiều hơn trái tim thể lý với động mạch chủ và các van bơm. Cha mẹ chúng ta phạm tội và hướng dẫn sai lầm, nhưng Thiên Chúa ban họ cho chúng ta để chúng ta theo. Như vậy, trái tim cũng đáng theo mặc dù nó cũng đầy tội lỗi và sai lầm. Nếu trái tim chúng ta yêu mến Chúa thì đáng theo lắm. Nếu nó không yêu mến Chúa thì bạn đừng quan tâm vấn đề nhận biết Ý Chúa.

Đây là gợi ý thứ năm. Khi chúng ta theo lời khuyên của Thánh tiến sĩ Augustinô là “cứ yêu mến Chúa đi, rồi cứ làm những gì bạn muốn”, chúng ta thường có kinh nghiệm về nỗi buồn và sự bình an. Bình an là dấu ấn của Chúa Thánh Thần.

Tôi biết có vài người rời bỏ Kitô giáo vì họ thiếu sự bình an. Họ cố gắng trở thành “siêu Kitô hữu” về mọi thứ, và họ phải chịu áp lực. Họ nên đọc thư của Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Ga-lát.

Đây là gợi ý thứ sáu. Nếu Thiên Chúa có cách chọn đúng trong mọi điều bạn làm, bạn có thể rút kinh nghiệm. Nghĩa là Thiên Chúa muốn bạn biết căn phòng nào sạch nhất, phòng bếp hay phòng ngủ, và nên lấy cái dĩa nào trước, dĩa thịt hay dĩa nước chấm. Bạn thấy đó, nếu bạn thực hiện ẩn ý hợp lý của nguyên tắc này, điều đó sẽ buồn cười, không ổn, và không biết Chúa muốn chúng ta sống cách nào – cách được diễn tả trong Kinh Thánh và cuộc đời của các thánh.

Gợi ý thứ sáu là nguyên tắc có nhiều điều tốt. Nhưng đối với người nào đó, vẫn thường có vài cách chọn lựa đều tốt. Cái tốt là kính vạn hoa (kaleidoscopic), đa sắc biến đổi. Có nhiều con đường đúng. Con đường dẫn tới biển là đúng và con đường dẫn tới núi cũng đúng, vì Thiên Chúa vẫn đang chờ đợi chúng ta ở cả hai nơi. Sự thiện có nhiều màu sắc. Chỉ có điều ác mới thiếu màu sắc và biến ảo. Trong Hỏa ngục không có màu sắc, không có tính cách cá nhân. Các linh hồn tan chảy như chì, hoặc bị nhai nghiến trong miệng của Quỷ vương. Hai nơi giống nhau trên thế gian là nhà tù và nơi thù hận, không như nhà thờ.

Có những cách chọn lựa đều tốt như nhau. Ví dụ, tình dục trong hôn nhân. Khi bạn sống trong Luật Chúa – không ngoại tình, không độc ác, không ích kỷ, không hành động bất thường (kế hoạch, dùng biện pháp ngừa thai) – thì mọi thứ đều “suôn sẻ”. Bạn thử tưởng tượng đi. Có phải Chúa muốn bạn ân ái với người bạn đời không? Đúng là một câu hỏi ngớ ngẩn! Thế nhưng ân ái với người bạn đời là điều tuyệt vời, là Ý Chúa đấy. Ngài muốn bạn làm những gì bạn muốn để người bạn đời biết đó là bạn chứ không phải ai khác.

Gợi ý thứ bảy là chính kinh nghiệm của tôi. Lần đầu tiên tôi viết tiểu thuyết, tôi biết cách viết. Đầu tiên, tôi trao phó cho Chúa, tôi nói với Ngài rằng tôi muốn viết về Nước Trời, và tôi tin Ngài hướng dẫn tôi. Sau đó, tôi theo sự hứng thú của tôi, cả bản năng và tiềm thức. Tôi cứ để mạch truyện chảy đi và các nhân vật cứ là chính họ. Thiên Chúa không khởi đầu hoặc kết thúc cho tôi. Ngài không làm gì cho tôi. Nhưng Ngài vẫn ở đó, giống như người cha hoặc người mẹ tốt.

Tôi nghĩ rằng cuộc đời chúng ta như một cuốn truyện. Chúng ta viết truyện về chính cuộc đời mình và chính mình (vì chúng ta tự định hình bằng cách chọn lựa, giống như bức tượng là chủ của điêu khắc gia vậy). Dĩ nhiên, Thiên Chúa là tác giả thứ nhất, là điêu khắc gia thứ nhất. Nhưng Ngài dùng những con người khác nhau để có những tác phẩm khác nhau. Ngài là tác giả từng cuốn trong bộ Kinh Thánh, nhưng tính cách của mỗi tác giả phàm nhân diễn tả theo văn chương phàm tục.

Thiên Chúa là người kể chuyện hoàn vũ. Ngài muốn các câu chuyện khác nhau. Ngài muốn bạn biết ơn Ngài về câu chuyện duy nhất từ ý muốn tự do và sự quyết định của bạn. Vì ý muốn tự do của bạn và kế hoạch đời đời của Ngài không là hai điều cạnh tranh, mà là hai phương diện của một vấn đề. Chúng ta không thể hiểu hết mầu nhiệm này trong cuộc đời mình, vì chúng ta chỉ thấy mặt dưới của tấm thảm. Nhưng tôi nghĩ rằng, một trong những điều ở trên trời là chúng ta sẽ chúc tụng và cảm tạ Chúa vì Ngài đã không để chúng ta nắm vô-lăng cuộc đời của mình – giống như cha mẹ dạy con cái lái xe vậy. Nếu không thì…! Thì sao? Bạn thấy Ý Chúa tuyệt vời không nào?

Khi cho chúng ta tự do, Thiên Chúa nói: “Mong ý con được trọn vẹn”. Một số người trong chúng ta quay lại và nói với Ngài: “Con muốn ý con sẽ được trọn vẹn”. Đó là vâng lời lệnh truyền thứ nhất và là lệnh truyền quan trọng. Rồi khi chúng ta làm vậy, Ngài nói với chúng ta: “Bây giờ, ý con được trọn vẹn”. Rồi Ngài viết câu chuyện về cuộc đời chúng ta bằng những nét tự do của chúng ta.

TRẦM THIÊN THU (Viết theo IntegratedCatholicLife.org)

Read more

Mùa Vọng: Tỉnh thức và Cầu nguyện

VRNs (28.11.2014) – Sài Gòn – Cộng đoàn Taizé (Pháp) nổi tiếng về cách cầu nguyện, khuyến khích suy niệm Kinh Thánh, với các bài thánh ca diễn tả lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong Vườn Dầu trước khi chịu khổ nạn. Ca từ lặp đi lặp lại: “Hãy ở lại với Thầy, hãy ở lại đây với Thầy, hãy tỉnh thức và cầu nguyện, hãy tỉnh thức và cầu nguyện…”.

141126004Lời động viên này của Chúa Giêsu cũng giống như Mùa Vọng bắt đầu bằng lời cảnh báo của Chúa Giêsu: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào Chúa của anh em đến” (Mt 24:42; Mc 13:33).

Mùa Vọng là thời gian mong đợi Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần – và ngày Ngài tái lâm. Chúng ta hát nguyện: “Trời cao hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Đấng chuộc tội. Maranatha! Lạy Chúa, xin hãy đến! Lạy Đấng Emmanuel, xin mau đến!”. Đấng mà chúng ta mong đợi là Thiên Chúa, là Đấng Mêsia. Ngài đến để bảo vệ chân lý, bảo vệ công lý, chứ Ngài không làm chính trị hoặc quân sự. Ngài khiêm nhường, tự hạ đến nỗi sinh làm một Hài Nhi nơi hang chiên lừa ngoài đồng hoang. Ngài vô gia cư! Còn chúng ta? Bạn làm gì trong Mùa Vọng này để chuẩn bị đón mừng Chúa giáng sinh? Đây là vài gợi ý:

TUẦN CẦU NGUYỆN GIÁNG SINH

Chúa Nhật I Mùa Vọng năm nay nhằm ngày 30 tháng Mười Một, lễ Thánh Anrê Tông Đồ. Nhiều người làm Tuần Cầu Nguyện từ ngày lễ Thánh Anrê, và cứ tiếp tục làm Tuần Cầu Nguyện vài lần cho tới lễ Giáng Sinh.

Việc cầu nguyện này giúp chúng ta chuẩn bị và hiểu biết về lễ Giáng Sinh. Mùa Vọng có lời cầu nguyện này: “Thật là hồng phúc trong giây phút Đức Trinh Nữ Maria sinh Con Thiên Chúa tại Belem vào nửa đêm, trong tiết trời giá lạnh. Lạy Thiên Chúa, xin chiếu cố chúng con, xin lắng nghe lời chúng con cầu nguyện, và ban cho chúng con trọn niềm mơ ước. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ, Con Thánh Mẫu Đồng Trinh Maria. Amen”.

KINH TRUYỀN TIN

Mỗi lần đọc Kinh Truyền Tin là chúng ta sống trong Mùa Vọng, giúp chúng ta tỉnh thức và mong chờ Con Chúa giáng sinh. Khi đọc Kinh Truyền Tin, chúng ta lặp lại lời Sứ thần Gáp-ri-en chào mừng Đức Maria, và đắm chìm vào Mầu nhiệp Nhập thể.

“Chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người, và ở cùng chúng ta…”. Trong phụng vụ lễ Giáng Sinh, chúng ta quỳ gối khi đọc đến câu: “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần…”. Việc quỳ gối để thể hiện lòng tôn thờ Ngôi Hai trong Mầu nhiệm Nhập thể. Đức Mẹ đã chịu cực khổ khi mong đợi Con Thiên Chúa ra đời suốt hơn 9 tháng. Cùng với Đức Mẹ, chúng ta đọc Kinh Truyền Tin để tỉnh thức với Đức Mẹ để hạnh phúc thấy Bình Minh Cứu Độ.

KINH MÂN CÔI

Đọc Kinh Mân Côi để mong đợi Chúa giáng sinh, đặc biệt là Mùa Vui: “Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu nơi hang đá. Xin cho con biết sống khó nghèo”. Kinh Mân Côi là kinh truyền thống lâu đời, mỗi khi suy niệm mầu nhiệm thứ Nhất và thứ Hai của Mùa Vui, chúng ta sống trong Mùa Vọng. Mỗi khi suy niệm mầu nhiệm thứ Ba của Mùa Vui, chúng ta sống trong lễ Giáng Sinh.

XƯNG TỘI

Xưng tội là việc cần thiết, không thể thiếu trong Mùa Vọng, vì đó là cách chúng ta giao hòa với Thiên Chúa, dọn lường cho Chúa Giêsu đến. Linh hồn sạch tội mới xứng đáng là “hang đá” cho Con Thiên Chúa ngự vào: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2:14). Đồng thời chúng ta cùng Đức Mẹ tôn vinh Thiên Chúa qua bài Magnificat: “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người…” (Lc 1:46-55). Ngoài ra, chúng ta nên có một cuốn sách để đọc trong Mùa Vọng, gọi là đọc sách thiêng liêng.

Lạy Chúa, xin Ngài nhớ đến con bởi lòng thương dân Ngài, xin ngự đến viếng thăm mà ban ơn cứu độ. Xin cho con được thấy tỏ tường phần phúc lộc dành cho những người được Chúa chọn, để chúng con được vui niềm vui dân Chúa và cùng hiên ngang với gia nghiệp của Ngài” (Tv 106:4-5).

TRẦM THIÊN THU (Viết theo IgnitumToday.com)

Read more

Huyền thoại đu dây

VRNs (28.11.2014) – Sài Gòn – Khi người ta nói Việt Nam đang đu dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ thì sự ví von ấy hàm ý liều lĩnh, bắt cá hai tay, muốn chơi với cả hai bên mà lại không thật lòng với bên nào. Có nghĩa là cà chớn. Và như thế thì rốt cuộc chẳng được gì. Sẽ trơ trọi, sẽ đơn độc. Và trò “đu dây” ấy sẽ rất nguy hiểm.

141126003Nhưng trên thực tế Việt Nam có đu dây không?

Người đu dây là một người tự tin, dũng cảm, mạnh mẽ và tài năng. Nhưng đứng trước Trung Quốc và Mỹ thì chính quyền Việt Nam không hề có các tố chất ấy.

-Không tự tin vì mặc cảm nước nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu. Trước đây Việt Nam huênh hoang là “đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ”. Nay thì tự ti đến nỗi một ông bộ trưởng Tàu sang Việt Nam để “kêu gọi đứa con hoang trở về” mà chính quyền cứ im thin thít.

-Không dũng cảm vì nó giết ngư dân mình mà mình còn sợ phạm huý, chỉ dám gọi nó là “tàu lạ”. Nó đổ quân chiếm đảo của mình mà mình lại ra lệnh không được kháng cự để đến nỗi bị nó bắn tan xác 65 chiến sĩ hải quân ở Gạc Ma chỉ trong vòng mấy phút.

-Không mạnh mẽ vì vũ khí thời chiến tranh để lại thì đã rỉ sét, vũ khí mới mua thì lèo tèo vài ba cái làm kiểng, và nạn tham nhũng tràn lan, quanh năm lo vơ vét ăn chặn, cắt xén, rút rỉa ngân sách, còn chí khí đâu mà đánh giặc?

Thử hỏi một kẻ nhu nhược, tự ti mặc cảm và nghèo rớt mồng tơi như Việt Nam thì nhìn thẳng vào mặt người ta còn không dám, nói chi tới chuyện đu dây. Vì đu dây là “giỡn mặt tử thần”. Việt Nam có bản lãnh gì mà dám đu dây?

Và điều quan trọng nhất là từ khi ông Hồ tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp đã khẳng định chỗ đứng của mình là trong vòng tay Trung Quốc rồi. Thắng trận Điện Biên Phủ cũng là nhờ vũ khí Trung Quốc, thắng Mỹ cũng nhờ vũ khí Trung Quốc.

Cho nên miệng thì nói “không có gì quý hơn độc lập tự do” nhưng trong lòng thì đã quyết “đổi độc lập tự do đề nắm cho được chính quyền”.

Từ chọn lựa đó mới đẻ ra “Cải Cách Ruộng Đất”. Trong chiến dịch này nhà cầm quyền Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc đến nỗi vì muốn lấy lòng họ mà phải bắn bỏ nhiều nhân sĩ yêu nước từng đem cả tài sản mình ra giúp đỡ kháng chiến.

Năm 1990 ông Linh cùng các đồng chí của ông tại hội nghị Thành Đô đã làm một việc mà bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gọi là: “Bắt đầu một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm”.

Năm 2010 liên tiếp nhiều phái đoàn quân sự cấp cao của Việt Nam sang học tập ở Trung Quốc, dấn thêm những bước quan trọng vào sự lệ thuộc quân sự.

Rõ ràng là ngay từ những ngày đầu thành lập chế độ, thì Việt Nam đã hành xử như một tỉnh lẻ của Trung Quốc -trừ một giai đoạn ngắn từ năm 1975 đến 1979 có ý muốn thoát Trung và lập tức bị TQ “cho một bài học” bằng cuộc chiến tranh biên giới 1979 –  còn lại, từ trước 1945 đến nay, chính quyền Việt Nam đã một lòng theo Trung Quốc, đã chọn Trung Quốc làm ông chủ, đã nguyện nâng khăn sửa túi cho Trung Quốc, đã khép nép làm “con nuôi” của các vị cha già dân tộc: Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và ngày nay là Tập Cận Bình.

Với một “thân phận” như vậy, liệu Việt Nam có tư cách để “đu dây” qua phía Mỹ không?

*

Chuyện Việt Nam đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ xem ra chỉ là bịa đặt.

Nhưng sao lại có chuyện các vị lãnh đạo cao cấp Việt Nam thăm viếng Hoa Kỳ?

Tôi cho rằng các cuộc thăm viếng ấy cũng nằm trong kịch bản của Trung Quốc. Việt Nam muốn vào TPP, muốn mua vũ khí của Mỹ. Cả hai việc ấy cũng chỉ có lợi cho Trung Quốc.

Xưa nay phần lớn các hàng xuất khẩu của “Việt Nam” sang Mỹ chỉ là trên giấy tờ, chỉ là nói cho oai, thực ra đó là hàng của Trung Quốc sản xuất tại Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu – tiếng là của Việt Nam – thực ra cũng là kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc.

Việt Nam mua của Nga 2 tàu ngầm Kilo, nhưng Trung Quốc đã mua 20 tàu ngầm kilo giống như vậy. Liệu 2 chiếc có gãi ngứa được 20 chiếc nếu xảy ra chiến tranh không? Nếu câu trả lới là KHÔNG thì mua tàu ngầm để làm gì?

Đối với một kẻ nhu nhược, mặc cảm và run rẩy thì có con dao trên tay hay không, cũng giống hệt nhau. Bởi vì vấn đề là anh có dám đâm hay không. Nếu anh không dám đâm thì cầm dao để làm gì? Mua dao để làm gì?

*

Vậy thì những dư luận cho rằng:

-Việt Nam đang đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ.

-Mỹ bỏ cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam vì vấn đề nhân quyền

-Việt Nam mua vũ khi của Nga và Mỹ để đương đầu với Trung Quốc… tất cả đều xạo, vì:

1/ Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Việt Nam luôn khẳng định mối quan hệ trước sau như một với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Trung Quốc; thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển theo phương châm “16 chữ vàng” và tinh thần “4 tốt”.

2/ Mớ vũ khí Việt Nam mua được quá ít ỏi (tiền đâu mua nhiều?), đối với Trung Quốc chỉ là những đồ chơi. Chưa kể việc Trung Quốc đã xây xong một sân bay quân sự trên đảo Hoàng Sa rồi. Cái sân bay ấy còn lợi hại hơn cả một hàng không mẫu hạm vì nó “đậu” sát bờ biển Việt Nam (chỉ cách Đà Nẵng hơn 300 km) và không thể bị đánh chìm!

3/ Mỹ cũng rất muốn bán vũ khí cho Việt Nam (chế tạo vũ khí là một trong những nền công nghiệp quan trọng của Mỹ). Mỹ đưa vấn đề “nhân quyền” ra để mặc cả với Việt Nam cũng chỉ là màu mè, ra vẻ ta đây quan tâm tới nhân quyền, còn phía Việt Nam thì giữ thể diện cho Mỹ bằng cách thả tượng trưng vài người nổi tiếng. Trên thực tế nếu Việt Nam đếch thả người nào thì Mỹ vẫn bán vũ khí như thường (ngu sao không bán?)

4/ Việt Nam mua vũ khí của Nga, của Mỹ nhưng không xài (vì có dám đánh nhau với Trung Quốc đâu mà xài?). Vậy mua để làm gì?

Câu hỏi này làm người ta nghĩ ngay tới vụ Vinashin mua cái “ụ nổi”. Và vô số vụ “mua về đắp mền” khác nữa.

*

Chúng ta đang sống trong một thời đại XẠO HẾT CHỖ NÓI. Nga cũng xạo, Mỹ cũng xạo, Trung Cộng cũng xạo và Việt Nam cũng… rứa.

“Mười Sáu Chữ Vàng”, “Bốn Tốt” cũng xạo, Mỹ “quan ngại sâu sắc” cũng xạo, Mỹ “bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí” cũng xạo, mà “đu dây” cũng xạo nốt.

ĐÀO HIẾU

Nguồn: https://daohieu.wordpress.com

Read more

Nhiều tiểu bang Hoa Kỳ biểu tình vụ cảnh sát bắn người ở Ferguson

VRNs (27.11.2014) – Manila, Philippines – Hãng tin AP cho biết, sau khi bồi thẩm đòan Missouri tuyên bố miễn truy tố cảnh sát Darren Wilson, người đã bắn chết thiếu niên da đen không vũ khí Michael Brown, 18 tuổi hồi tháng Tám, đã dẫn đến các cuộc biểu tình tại rất nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ.

Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, ông Ban Ki-moon thông qua phát ngôn nhân Stéphane Dujarric, đã kêu gọi người biểu tình tránh tình trạng bạo lực. Ông cũng kêu gọi giới thi hành luật của Hoa Kỳ phải bảo vệ quyền bày tỏ quan điểm cách ôn hòa của người dân.

Trong khi đó, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama kêu gọi công dân Mỹ nên tiến đến một sự thay đổi tích cực. Obama cũng cho rằng thái độ giận dữ của người biểu tình là chính đáng nhưng đồng thời ông cũng lên án các hành vi bạo lực. Obama cho biết “Thất vọng của người dân không không chỉ vì sự kiện này nhưng nó đã bắt  rễ từ rất lâu trong các cộng động da màu. Tại một số nơi, họ cho rằng luật pháp đã không được áp dụng một cách công bằng.”

Vụ bắn chết Michael Brown, 18 tuổi ở Missouri, đã làm bùng ra những mối căng thẳng sắc tộc và bộc lộ những sự lo ngại về sự thô bạo của cảnh sát và nạn kỳ thị chủng tộc ở ngoại ô thành phố St. Louis, nơi đa số cư dân là người da den, và ở những nơi khác trên cả nước.

Trước đó, vị cảnh sát trưởng Sam Dotson nói, cảnh sát đã bắn chết Michael Brown khi người này vung một con dao về phía họ ở St Louis.

Các nhân chứng cho biết ông Brown bị bắn khi ông giơ hai tay để đầu hàng, trong khi cảnh sát và những người ủng hộ sĩ quan Darren Wilson cho biết ông này đã bắn trong lúc giằng co với Brown.

Khám nghiệm tử thi được ủy quyền bởi gia đình ông Brown kết luận, ông bị bắn sáu phát, hai phát vào đầu.

141126002

NEW YORK

Hàng ngàn đã xuống đường tuần hành 2 đêm vừa qua tại Manhattan. Tại quảng trường Hòa Hợp, người biểu tình chia thành các nhóm nhỏ và hô vang điệp khúc “Không có công lý, không có hòa bình” khi một số khác giơ cao biểu ngữ “Bắt giam những tay cảnh sát giết người”, và “Công lý cho Mike Brown.”

Giao thông bị gián đọan giao thông tại một số khu vực vì số lượng người biểu tình tăng cao vào ban đêm.

Ủy viên William Bratton cho biết : “Miễn đây họ giữ tình trạng bất bạo động, không gây sợ hãi và không phá hoại, chúng tôi sẽ hợp tác để họ đựơc phép bày tỏ quan điểm.”

CALIFORNIA

Người biểu tình tràn xuống đường cao tốc, mang theo rào chắn và phong tỏa tuyến đường Freeway 101. Một nhóm khác diễu hành qua các tuyến đường trong thành phố tiến về phía đồn cảnh sát. Một nhóm khác đã tấn công phá hoại  một số xe cảnh sát, đập vỡ cửa sổ ở các đại lý xe hơi, nhà hàng, cửa tại trung tâm thành phố Oakland.

MINNEAPOLIS

Tại Minneapolis, một phụ nữ bị thương nhẹ khi 1 xe hơi bất ngờ lao vào một nhóm người biểu tình. Cảnh sát hịên vẫn đang điều tra tài xế của chiếc xe hơi trên. Hàng trăm người khác đã tụ họp gần tru sở cảnh sát để bày tỏ quan điểm của họ về quyết định của tòa án về rường hợp của em Michael Brown.

CLEVELAND

Hàng trăm người đã tuần hành trên một đoạn đường cao tốc, ngăn cản giao thông vào giờ cao điểm nhằm  phản đối việc cảnh sát bắn chết em Tamir Rice 12 tuổi, cư dân Cleveland khi em này mang một khẩu súng giả giống hệt như một khẩu súng thật. Một người biểu tình cho biết “Hệ thống này đã không bảo vệ chúng tôi. Để có được công lý, bản thân người dân phải thực hành công lý.”

ST. LOUIS

Người biểu tình đã làm gián đoạn giao thông trung tâm thành phố trong vài giờ. Họ khống chế các nút giao thông chính trên xa lộ liên tiểu bang và Cầu Mississippi kết nối thành phố St. Louis với Illinois. Cảnh sát cơ động đã xịt hơi cay và bắt giữ một số người đã tọa kháng giữa lòng đường. Một nhóm khác cũng tụ tập trước thềm tòa án liên bang và hô vang khẩu ngữ ” Các ông không truy tố! Chúng tôi sẽ chiến đấu!”

Tại các nơi khác

Hàng trăm người từ các trường Đại Học đã tổ chức các cuộc biểu tình ôn hòa. Vào ban đêm, một số nhóm đã tách ra và ngăn cãn lưu thông. Cảnh sát cho biết một số cửa sổ đã bi đập vỡ. 21 người đã bị bắt vì đã không chịu giải tán, 1 người khác bị cáo buộc về tội mang vũ khí.

Tại Portland, Oregon, khỏang 1.000 đã tham gia biểu tình. Sau một bài phát biểu, họ đã diễu hành qua trung tâm thành phố.

Bách Hợp

Read more

Người dân và nhà đương cục cần biết cơ chế bảo vệ người bảo vệ nhân quyền

VRNs (27.11.2014) – Sài Gòn – Sáng hôm qua, vào lúc 8 giờ 30 ngày 26.11.2014, tại nhà thờ giáo xứ Thái Hà, DCCT Hà Nội, Diễn đàn xã hội Dân sự và Nhóm làm việc UPR Việt Nam tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề: “Cơ chế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ Người bảo vệ nhân quyền”.

Diễn giả thuyết trình gồm Ts Nguyễn Quang A, Blogger Phạm Lê Vương Các và Blogger Nguyễn Hồ Nhật Thành cho hơn khoảng 60 người tham dự, trong đó có sự hiện diện của Đại sứ quán đến từ các sứ quán như Úc, Mỹ, Thụy Điển, Liên minh EU và những người đấu tranh dân chủ đến từ các tổ chức Xã hội Dân sự [XHDS].

Ngay từ sang sớm, lúc 5 giờ,  Ts Nguyễn Quang A đã rời khỏi nhà và ông phải mất 5 tiếng đồng hồ đi bộ 10 cây số để đến buổi tọa đàm, do an ninh mặc thường phục và công an mặc sắc phục đã gây khó khăn và cản trở không cho ông đến buổi Tọa đàm.

Chiều tối hôm trước ngày tổ chức Tọa đàm, Ts Nguyễn Quang A cho VRNs biết những nội dung chính được bàn luận: “Như trong giấy mời chúng tôi gửi cho Bộ Công An, Công an Tp. Hà Nội, cho các Sứ quán, các Tổ chức XHDS và các cá nhân khác thì nội dung chủ yếu xoay quanh Tuyên ngôn của LHQ về việc bảo vệ  ‘Người bảo vệ nhân quyền’. Tuyên ngôn này ra đời theo một Nghị quyết của Đại hội đồng LHQ vào năm 1999, có 20 điều nói về ‘Người bảo vệ nhân quyền’ là ai, công việc họ làm là gì, họ nên làm như thế nào… Chủ đề chỉ xoay quanh bản Tuyên ngôn này, để cho công chúng VN cũng như các nhân viên công quyền hiểu rõ về những ‘Người bảo vệ nhân quyền’ và góp sức cho họ hoạt động một cách hiệu quả ở đất nước VN này.”

Toàn cảnh Tọa đàm, sáng 26.11, tại Thái Hà - Hà Nội

Toàn cảnh Tọa đàm, sáng 26.11, tại Thái Hà – Hà Nội

Huyền Trang, VRNs: Thưa Tiến sĩ Nguyễn Quang A, tiến trình của buổi tọa đàm này diễn ra như thế nào ạ?

Ts Nguyễn Quang A: Tiến trình hội thảo có một phần giới thiệu buổi tọa đàm do Blogger Nguyễn Hồ Nhật Thành trình bày. Một phần trình bày ngắn gọn của tôi về những ‘Người bảo vệ nhân quyền’ là ai. Blogger Phạm Lê Vương Các sẽ trình bày chi tiết hơn về Tuyên ngôn bảo vệ ‘Người bảo vệ nhân quyền’ của LHQ. Tiếp đến, Blogger Nguyễn Hồ Nhật Thành trình bày về thực trạng của những ‘Người bảo nhân quyền’ ở VN gặp khó khăn như thế nào, cách đối xử của nhà nước đối với họ ra sao. Sau đó, tôi nói về cơ chế kiểm định nhân quyền phổ quát liên quan như thế nào đến vấn đề bảo vệ những ‘Người bảo vệ nhân quyền’.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Tiến sĩ, trong thư thông báo có đề cập rằng, “trong nhiều năm qua, người bảo vệ nhân quyền tại VN đã không được thừa nhận đúng mức vai trò cao cả của họ…” Theo ông, nguyên nhân vì sao dẫn đến tình trạng này ạ?

Ts Nguyễn Quang A: Nguyên nhân là do sự hiểu biết của chúng ta còn quá kém. Người dân không biết ‘Người bảo vệ nhân quyền’ là như thế nào. Chính quyền thì càng không muốn cho người dân biết về chuyện này, bởi vì chính quyền xem những người này là thế lực thù địch, thậm chí là phản động. Lẽ ra chính quyền phải tạo điều kiện giúp cho những người đó thực hiện theo đúng công việc của họ, theo đúng tinh thần của Tuyên ngôn bảo vệ ‘Những người bảo vệ nhân quyền’ của LHQ -đã ra đời cách đây 16 năm. Tôi tin chắc, VN với tư cách là một thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ [HĐNQ LHQ] cũng đã thông qua bản tuyên ngôn này. Chính trong tình trạng mọi người không hiểu rõ vai trò, trách nhiệm của ‘Người bảo vệ nhân quyền’ và với sự bưng bít thông tin của nhà cầm quyền, cho nên người dân có thể bị hiểu lầm và chính quyền có cách đổ lỗi cho họ ['Người bảo vệ nhân quyền'], không tôn trọng họ, tuy họ là những người làm việc tốt cho xã hội.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Ts Nguyễn Quang A, có người cho rằng, “các hoạt động của các tổ chức XHDS chưa đến được nhiều người dân, những người ở vùng xa, hẻo lánh nên chưa tác động được sự nhận thức của người dân để họ có thể biết và hiểu hơn về các hoạt động và vai trò của các tổ chức XHDS cũng như ‘Người bảo vệ nhân quyền’ “. Ông, bình luận như thế nào về điều này?

Ts Nguyễn Quang A: Ý kiến này là một ý kiến có lý, bởi vì các hoạt động của các Tổ chức XHDS nhất là các tổ chức XHDS độc lập phải hoạt động trong một khuôn khổ pháp lý rất nghiệt ngã, các phương tiện truyền thông của họ rất eo hẹp, các báo chí của Nhà nước thì ghẻ lạnh họ, chính vì vậy, tiếng nói của họ đến với dân chúng không được như mong muốn. Tuy vậy, các hoạt động của các trang mạng và truyền hình của Dòng Chúa Cứu Thế có một vai trò rất lớn, dần dần nhiều người hiểu rõ hơn về vai trò của các tổ chức XHDS. Tôi hy vọng, với việc làm trên tinh thần xây dựng xã hội và góp phần xây dựng đất nước thì các tổ chức XHDS ngày càng được cộng đồng tôn trọng, và sẽ phải đến một lúc nào đó các cơ quan công quyền phải chấp nhận cho hoạt động trong một môi trường cởi mở hơn. Chỉ trong trường hợp như vậy, tiếng nói của ‘Người bảo vệ nhân quyền’ mới thực sự vươn xa đến từng người dân. Lúc đó, họ mới có thể phát huy hết vai trò và chức năng của mình.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Tiến sĩ, theo ông, giải pháp nào giúp người dân VN hiểu rõ hơn về vai trò của ‘người bảo vệ nhân quyền’, cũng như công việc họ đang làm?

Ts Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ, thông qua các phương tiện truyền thông trên mạng hiện nay và qua cuộc tọa đàm này, chúng tôi hy vọng có thêm 50 người hiểu rõ hơn về những ‘Người bảo vệ nhân quyền’ là ai. Mỗi người lại cố gắng thuyết phục, trình bày cho ba người thân của họ, thì trong một thời gian ngắn chúng ta có được 150 người, những người này tiếp tục thuyết phục với cách như vậy thì số lượng người hiểu về ‘Người bảo vệ nhân quyền’ rất là nhiều. Tôi lạc quan về điều này. Cũng như, các trang mạng có các bài viết phân tích để cho mọi người thấy được rõ hơn về ‘Người bảo vệ nhân quyền’.

Tôi thấy việc hiểu biết của người dân về những ‘Người bảo vệ nhân quyền’ sau cuộc tọa đàm này có thể tăng lên, vì mục tiêu chính của chúng tôi là khởi động một quá trình tìm hiểu và học tập của người dân, kể cả những nhân viên công quyền. Chính vì vậy, chúng tôi đã chính thức mời đại diện của Bộ Công an và đại diện của Công an Tp. Hà Nội đến dự, họ đã nhận được giấy mời, nhưng rất là tiếc khi họ nói rằng, họ là nhân viên viên công quyền nên phải tuân theo các luật lệ hiện hành, cho nên họ không thể đến được bởi vì đối với họ buổi tọa đàm này không hợp pháp”.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Tiến sĩ, cũng trong thông báo cho hay, nhà cầm quyền VN đã chấp nhận một số khuyến nghị về việc công nhận, bảo vệ, và đảm bảo môi trường hoạt động cho những ‘người bảo vệ nhân quyền’ tại Việt Nam, trong Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về Nhân quyền (UPR) tại Thụy Sỹ vào tháng 6/ 2014 vừa qua. Thế nhưng, gần đây nhất vào ngày 02.11, Ký giả Trương Minh Đức bị lực lượng côn đồ -mà ông khẳng định có sự chỉ đạo của nhà cầm quyền Bình Dương- đã hành hung tính mạng ông, hoặc trường hợp của ông Phạm Bá Hải cũng bị côn đồ hành hung… Vậy ông bình luận như thế nào về những lời cam kết của nhà cầm quyền trước LHQ? Tại sao nhà cầm quyền lại không thực hiện những cam kết này ạ?

Ts Nguyễn Quang A: Chính quyền VN đã hứa rất nhiều điều, nhưng trong thực tế họ không thực hiện hoặc thực hiện ngược lại. Đây là một điều mà chúng ta đã biết từ lâu. Liên quan đến những cam kết hay khuyến nghị trong số 182 khuyến nghị mà Nhà nước VN đã đồng ý trong phiên kiểm định kỳ phổ quát tháng 6 vừa qua, thì có 1 – 2 khuyến nghị liên quan đến việc tạo điều kiện bảo vệ ‘Người bảo vệ nhân quyền’. Tuy nhiên, như hai trường hợp thực tế đã được nêu trong câu hỏi, thì tôi có thể kể ra nhiều trường hợp khác nữa, thì đây là một điều mà chúng ta phải nói rõ cho nhân dân VN và thế giới biết. Chính vì thế, những cuộc bàn luận, cuộc tọa đàm phải lên tiếng, phải gây sức ép và đòi nhà đương cục phải thực hiện các cam kết mà VN đã cam kết từ năm 1999 khi LHQ ra tuyên bố này, cũng như những cam kết mà VN đã chấp nhận trong các khuyến nghị UPR vào tháng 6 vừa qua.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Tiến sĩ, theo ông, thì các tổ chức xã hội nên làm gì để nhà cầm quyền dừng ngay việc ‘bạo hành tra tấn’ đối với những ‘người bảo vệ nhân quyền’?

Ts Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ các tổ chức XHDS có thể làm được rất nhiều việc: Thứ nhất, lên tiếng. Thứ hai, phải làm cho chính những người thi hành công vụ của Nhà nước hiểu rằng, họ đã vi phạm trắng trợn Luật pháp VN và vi phạm những cam kết mà VN đã cam kết với quốc tế. Chúng ta có thể tập hợp, giúp đỡ, bảo vệ những người bị bạc đãi như vậy. Chúng ta có thể dùng những cơ chế của HĐNQ LHQ để thu thập chứng cứ, bằng chứng vạch rõ những việc mà nhà chức chắc đã vi phạm. Chúng ta có thể yêu cầu các tổ chức quốc tế có những biện pháp lên tiếng, gây áp lực đối với chính quyền VN.

Tôi nghĩ bản thân những ‘Người bảo vệ nhân quyền’ ở VN, các tổ chức XHDS độc lập ở VN có thể hợp tác với nhau, ví dụ khi một người đi làm một công việc gì đấy thì có một vài người cùng đi để bảo vệ. Tất nhiên việc này không dễ thực hiện, nhưng kinh nghiệm cho thấy, nếu chúng ta hoạt động đơn lẻ thì dễ bị hành hung, và những biện pháp người ta [nhà cầm quyền] dùng côn đồ để chối bay những chuyện này. Nếu có hai ba người cùng đi để ghi lại hình ảnh, tiếng nói… làm bằng chứng, ghi lại bộ mặt của những người hành hung và tìm hiểu họ là ai, họ ở đâu… nếu họ là người của an ninh thì chúng ta vạch ra ông ấy không phải côn đồ mà ông ấy là công an. Tôi nghĩ, có rất nhiều biện pháp như thế ngăn chặn những người hành hung đối với những ‘Người bảo vệ nhân quyền’ ở VN.”

Huyền Trang, VRNs: Xin chân thành cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Quang A

Huyền Trang, VRNs

Read more

Thông báo ghi danh Giáo lý Hôn nhân khóa 92

VRNs (27.11.2014) – Sài Gòn – Lớp Giáo Lý Hôn nhân của Trung tâm gia đình mục vụ trực thuộc Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp sẽ khai giảng Khóa 92, ngày 04.01.2015.

—-

 141126002

THÔNG BÁO GHI DANH VÀ KHAI GIẢNG

LỚP GIÁO LÝ HÔN NHÂN KHÓA 92

1. Lớp Giáo lý Hôn nhân khóa 92 sẽ khai giảng vào Chúa Nhật, ngày 04 tháng 01 năm 2015 và sẽ kết thúc vào Chúa Nhật, ngày 31 tháng 5 năm 2015.

2. Chương trình Giáo Lý dành cho những người trưởng thành quan tâm đến đời sống Hôn nhân và Gia đình, không phân biệt trình độ văn hóa, tôn giáo, đã lập gia đình hay chưa lập gia đình, cách riêng cho các bạn trẻ đang chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân-gia đình.

3. Giảng viên của chương trình: Các Linh mục, Mục sư, Quý Sơ, Bác sĩ, Luật sư, chuyên viên Giáo luật, thạc sĩ Tâm Lý, các giảng viên tư vấn Nhi khoa và các giảng viên là những người có kinh nghiệm trong đời sống Hôn nhân – gia đình. Tham dự lớp, các học viên sẽ được chuẩn bị những kiến thức và sự hiểu biết cần thiết để xây dựng hạnh phúc gia đình.

4. Thời gian học: các chiều Chúa Nhật từ 15g30 đến 17g50.

5. Ghi danh: bắt đầu từ Chúa Nhật 30/11/2014 vào các ngày trong tuần (thứ hai:nghỉ) tại Văn phòng Giáo xứ trong giờ hành chánh. Các buổi tối tại văn phòng Lớp Giáo lý Hôn nhân, tầng trệt, sân Hiệp Nhất, phòng A0.1

GX. ĐMHCG, ngày 26 tháng 11 năm 2014

Lm Đặc trách

Thom.A Phạm Phú Lộc

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO LÝ HÔN NHÂN

Khóa 92 (04/01 – 31/5/2015)

Ngày ĐỀ TÀI GIẢNG VIÊN GHI CHÚ
04/01 1.Giải  mã tình yêu – những ngộ nhận trong TY – TY, Tự do v trch nhiệm Thầy Gak.

Trương Đình Giai

 
11/01 2. Tính dục và hôn nhân dưới nhãn quan Kitô giáo Thầy Thom.A Đào Nguyễn Cung Fa  
18/01 3 . Hôn nhân trong ý định của Thiên Chúa- đặc tính, mục đích Hơn Nhn Cơng Gio Cha Thom.A Lộc
25/01 4. Sự hòa hợp trong đời sống hôn nhân: một số điểm đặc trưng trong tâm lý giới Sr  Đinh Thu Hà Đề ti 1
01/02 5. Ý nghĩa của hôn nhân trong đời sống tm lý người trưởng thnh Ths Giuse

Cao Văn Quang

 
08/02 6. Sự hòa hợp trong đời sống hôn nhân: gìn giữ và nuôi dưỡng tình yêu Ms Đoàn Trung Tín
15-22/2 Nghỉ tết
01/3 7. Sự hòa hợp trong đời sống hôn nhân: những xung đột trong gia đình và cách giải quyết. Sr Hồng Quế Đề ti 2
08/3 8. Sinh con có trách nhiệm: Mầu nhiệm sự sống Bs Lan Hải
15/3 Sinh hoạt d ngoại PSV Hội thảo
22/3 9. Sinh con có trách nhiệm: Điều hòa sinh sản theo phương php tự nhin Bs Lan Hải  
29/3 10. Sinh con có trách nhiệm: Mặt trái của phương pháp trnh thai nhân tạo Bs Lan Hải
05/4 11. Lương tâm CG và vấn đề ĐHSS Cha Lộc Đề ti 3
12/4 12. Dưỡng nhi Bs Phạm NgọcOanh  
19/4 13. Giáo dục con cái Bs Teresa

Phạm Ngọc Thanh

 
26/4 14.Vai trị của Đức tin trong đời sống gia đình Cha Lộc
03/5 15. Giáo luật về Bí tích hôn nhân Cha Giuse

Nguyễn Ngọc Bích

Nộp bi 3
10/5 16. Luật dân sự về hôn nhân gia đình Ls Teresa

V Thị T Trinh

17/5 17. Chuẩn bị – tổ chức đời sống gia đình. Thầy Giuse

Phạm Quang Thy

Bi trắc nghiệm

cuối khĩa

24/5 18. Chữ HIẾU trong gia đình Thầy Cung Fa  
31/5 Lễ bế giảng khóa 92  

 

Read more

Câu chuyện cảnh giác

VRNs (27.11.2014) – Đồng Nai – Cuộc sống hôm nay chỉ cần mất cảnh giác một chút là có thể thiệt thân. Bởi vì chúng ta phải đối mặt với nhiều yếu tố có thể xâm hại đến sức khỏe, an toàn và tài sản của bản thân, như vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn giao thông, các vấn đề an ninh, trộm cướp….

14112600Có một người kể rằng: một hôm ông ta đang ở nhà thì có một người trung tuổi lạ mặt đến gõ cửa, nói là xe ô tô của ông ta hết xăng rồi. Nhưng mà trạm xăng cách đây quá xa, xe nặng quá không thể đẩy được, nên hỏi mượn  tôi một cái chai không để đi mua xăng. Rồi nói sẽ trả tiền cho cái chai không đó. Tôi liền vào nhà tìm một cái chai không đưa cho ông ta. Ông ta liền rút từ trong túi ra tờ 500 nghìn, nói là không có tiền lẻ rồi bảo  tôi thối lại.  Tôi có chút nghi ngờ nên bảo ông ta thôi không cần trả tiền dù sao cũng chỉ là một cái chai không. Ông ta thấy  tôi không cắn câu nên lủi mất.

Điều này tôi đã làm vì cảnh giác, vì có thể tiền này là tiền giả, có thể sẽ bị lừa đổi tờ tiền giả lấy một tờ tiền thật! Hoặc có thể thuốc gây mê đã được ướp vào đồng tiền!

Xem ra cuộc đời thật đáng sợ. Đáng sợ vì chẳng biết tin ai, vì ai cũng có thể làm hại đến mình. Cho dù là người thân vẫn có thể sát hại lẫn nhau chỉ vì một quyền lợi nho nhỏ hay hiểu lầm một chút cũng dẫn đến tàn nhẫn với nhau. Có biết bao lời ta thán buồn cho cuộc đời khi phải thốt lên: “thật không ngờ!”. Không ngờ tại sao sự dữ lại hoành hành tàn bạo, mạnh mẽ như ngày hôm nay? Không ngờ bạn bè chí thân lại phản bội chúng ta?

Chúa Giê-su luôn nhắc nhở chúng ta phải tỉnh thức. Tỉnh thức với thái độ của người làm công luôn tận tụy trong công việc, bổn phận của mình. Tỉnh thức với thái độ làm việc có trách nhiệm với bản thân, với gia đình và xã hội. Mỗi người chúng ta sinh ra đều có một bổn phận trong cuộc đời. Thiên Chúa như ông chủ đã giao cho chúng ta một công việc phải thi hành. Công việc kết thúc khi nào không tùy thuộc vào bản thân chúng ta mà tùy thuộc vào việc ông chủ muốn tính sổ với chúng ta. Thiên Chúa như ông chủ giao việc rồi trẩy đi phương xa và Ngài sẽ trở về một cách đột ngột, bất ngờ. Ông chủ sẽ đòi chúng ta tính sổ cuộc đời để xem chúng ta có thực sự dùng thời giờ, khả năng cho công việc của ông chủ hay mải mê chạy theo những dục vọng mà bê tha bổn phận. Ông chủ sẽ vui khi thấy chúng ta đang làm việc có trách nhiệm. Và ông cũng rất buồn nếu thấy đầy tớ đang mải mê chạy theo những ảo ảnh trần gian.

Thế nên, điều quan yếu là  chúng ta phải luôn cảnh giác. Sự cảnh giác không theo kiểu sợ hãi ông chủ trở về đột ngột, mà cảnh giác để chúng ta đừng chạy theo những cám dỗ của danh lợi thú mà sao lãng bổn phận với Thiên Chúa. Ma qủy luôn rình rập chúng ta. Ma quỷ luôn gieo vào chúng ta thái độ ú lì trong công việc. Nó khuyến dụ chúng ta đi vào đam mê trần gian. Nó bảo với chúng ta cứ vui chơi vì thời gian còn dài, đường đời còn dài nên hãy “cứ vui xuân kẻo xuân hết rồi”. Nhiều người đã sa vào vòng xoáy của đam mê do ma qủy bày ra. Nhiều người đã chết vì mất cảnh giác mà tin vào lời dụ ngọt của ma quỷ.

Mùa vọng là mùa của hy vọng, của đợi chờ ông chủ sẽ trở về. Thiên Chúa là ông chủ đã giao cho chúng ta vô số công việc ở trần gian này. Ngài đòi chúng ta phải tận tụy trong công việc. Ngài đòi chúng ta phải làm việc hết mình và đầy đủ trách nhiệm. Điều mà chúng ta cần lưu ý là không biết bao giờ chủ về, ông chủ sẽ đòi chúng ta tất toán cuộc đời vào lứa tuổi nào trong cuộc đời chúng ta. Thế nên, sự khôn ngoan nhắc nhở chúng ta luôn tỉnh thức để khỏi sa vào cám dỗ của lười biếng, của hưởng thụ mà quên bổn phận Chúa trao.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn canh phòng tỉnh thức trước những sức lôi cuốn, hấp dẫn của danh lợi thú mà ma quỷ bày ra hòng làm hại cuộc đời chúng ta. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Read more

Hòa giải dân tộc và Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải

VRNs (27.11.2014) – Washington DC, USA – Vấn đề làm sao mà người Việt Nam có thể quên đi qúa khứ, xóa bỏ hận thù do chiến tranh gây ra để đòan kết xây dựng đất nước đã được viết  trong  “Hiệp định chấm dứt Chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ” do 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973.”

141126003Từ đó đến nay (2014) đã 41 năm mà  người Việt Nam ở hai bờ chiến tuyến vẫn còn xa cách như khi chiến tranh chưa kết thúc ngày 30/04/1975 phải có nguyên nhân.

Lỗi này, trước hết và duy nhất phải quy kết vào trách nhiệm của đảng và nhà nước Cộng sản mang danh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và những người Việt miền Nam đi theo Cộng sản được đại diện bởi Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hay Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam.

Tại sao ?

Bởi vì Hiệp định Paris đã nói rõ trong Chương IV về “ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM” gồm những Điều rất rõ nhự sau:

Điều 9:

Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam dưới đây:

a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng.

b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông quan tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.

c) Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoăc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam.

Điều 10:

Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hòa bình ở miền Nam Việt Nam; giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực.

Điều 11:

Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ:

– Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;

– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.

Điều 12:

a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau  (các bên ký kết  hiểu với nhau gồm  có: Chính phủ Việt Nam cộng hòa, Lực lượng thứ ba –hay phe Dương Văn Minh–, Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương để thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt, và sẽ làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hòa bình, độc lập và dân chủ.

b) Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong Điều 9(b) và quy định thủ tục và thể thức của cuộc tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thuơng mà thỏa thuận. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phuơng theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận.

Điều 13:

Vấn đề lực luợng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có các biện pháp giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành việc đó càng sớm càng tốt.

Điều 14:

Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam nói trong Điều 9(b).

SỰ THẬT PHŨ PHÀNG

Trên giấy trắng mực đen là như thế với  chữ ký cam kết của 4 bên gồm: Bộ trưởng Ngọai giao William P. Rogers (Hoa Kỳ), Trần Văn Lắm (Việt Nam Cộng hòa), Bộ trường Ngọai giao Nguyễn Duy Trinh (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và Bộ trường Ngọai giao Nguyễn Thị Bình (Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miến Nam Việt Nam).

Nhưng trong thực tế trên chiến trường vào thời điểm này,  ngót 300,000 quân đội miền Bắc vẫn hành quân trên lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa trong khi Quân đội Hoa Kỳ và đồng minh phải  rút hết khỏi miền Nam Việt Nam.

Từ đó Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải tiếp tục chiến đấu một mình với sự viện trợ rất hạn chế  về vũ khí  và lương thực của Hoa Kỳ.

Theo các tài liệu của Quốc tế phổ biến trên Internet  thì vào năm 1973, Việt Nam Cộng hòa có 450.000 quân chủ lực và hơn 700.000 quân địa phương và dân vệ. Quân Đội Cộng sản Nhân Dân Việt Nam có 525.000 quân (Hoa Kỳ ước đoán 500.000-600.000), kể cả lối  220.000 trong số đó đang có mặt ở miền Nam.

Tuy nhiên về hỏa lực thì quân đội Cộng sản có số lượng gấp 3 lần hơn vũ khí và đạn được của quân đội miền Nam vì Liên bang Sô viết do Nga cầm đầu và Trung Cộng vẫn tiếp tục đổ súng đạn và lương thực vào miến Bắc để vuợt Trường Sơn vào tiếp tế cho chiến trường miền Nam.

Ngược lại vì ràng buộc bởi Hiệp định Paris 1973, chính phủ Hoa Kỳ đã bị Quốc hội  hạn chế viện trợ cho miền Nam Việt Nam từ 2 tỷ mỗi năm xuống còn 600 triệu, sau ngày ký Hiệp định Paris 1973.

Sau đó  số tiền này bị chận lại ở Quốc hội  khi phía Mỹ  thấy tình hình mất Việt Nam Cộng hòa vào tay quân đội miền Bắc không còn cưu vãn được nữa, sau cuộc tấn công của lực lượng miền Bắc vào thành phổ Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3/1975, mở đầu cho Chiến dịch Tây Nguyên mang “mật danh Chiến dịch 275”.

Hành động tiếp tục chiến tranh xâm lăng miền Nam ngay trong lúc đàm phán để sau này miền Bắc chà đạp lên quyền tự quyết của nhân dân hai bên miền Nam ghi trong  Hiệp định Paris 1973, đã được Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hà thuộc Viện Lịch sử Đảng xác nhận trong bài viết  “Hoạt động quân sự trên chiến trường miền Nam 1968-1973” vào dịp Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam của Tạp chí Thế giới-Việt Nam (The World & Vietnam report) thuộc  Bộ Ngọai giao Hà Nội ngày 31/01/2013.

Ông viết: “Ngày 23/3/1972, Bộ Chính trị thông qua phương án của Quân ủy Trung ương, quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, lấy Trị Thiên làm hướng tiến công chủ yếu. Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hướng phối hợp.

Ngày 30/3/1972, quân ta nổ súng ở Trị Thiên, mở màn cho cuộc tiến công chiến lược 1972. Ngày 2/5/1972, ta giải phóng tỉnh Quảng Trị. Đây là thắng lợi quân sự rất quan trọng, có ý nghĩa trong năm bản lề 1972 có nhiều sự kiện quân sự, ngoại giao lớn đan xen. Đó là hai chuyến thăm Trung Quốc (2/1972), Liên Xô (5/1972) của Tổng thống Mỹ Nixon gây chia rẽ và bất lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đó là việc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, thả mìn, thủy lôi phong tỏa các cảng, cửa sông, cửa biển của miền Bắc từ 6/4/1972 với quy mô và cường độ ác liệt hơn trước, gây khó khăn cho vận chuyển tiếp tế cho miền Nam cả đường bộ và đường thủy.

Cuộc tiến công chiến lược ở Trị Thiên và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đã giành được những thắng lợi rất quan trọng song cũng chịu nhiều tổn thất hy sinh (đặc biệt là trận chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm, từ 25/6 đến 16/9/1972), đã tạo điều kiện cho đấu tranh ngoại giao thu được kết quả. Đoàn đàm phán Việt Nam tại Hội nghị Pari đã chủ động có bước đột phá, đưa ra bản dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (10/1972), đẩy Mỹ vào thế bị động, lúng túng, phải đi vào đàm phán thực chất.

Đặc biệt, quân và dân miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội, Hải Phòng, đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 của Mỹ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”. Đây là thắng lợi quân sự lớn nhất, góp phần quyết định buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973, rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ về nước, mở ra thời cơ chiến lược để quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” vào mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.”

HỆ LỤY CỦA CHIẾN THẮNG

Nhưng nhóm chữ “giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước”  đã nói lên được  điều gì ?

Thứ nhất, đó là hành động tự nhổ bọt vào chữ ký của hai Bộ trưởng Ngọai giao Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Thị Bình.

Thứ hai, nó đã gây ra tình trạng chia rẽ và hận thù dân tộc do đảng CSVN gây ra cho nhân dân miền Nam Việt Nam.

Hàng loạt những chủ trương trả thù quân nhân Việt Nam Cộng hòa, công chức, các chính đảng Quốc gia và Văn nghệ sỹ miền Nam đã được thi hành để đem hàng trăm ngàn con người vào các trại tập trung tù đầy khổ cực được mệnh danh “Cảo tạo” gỉa đạo đức. Nhiều ngàn người đã chết mất xác tại các trại tập trung lao động khổ sai này.

Thứ ba, khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt  nói vào năm 2005 rằng: “Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và nhiều mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn” thì ông đã nghỉ hưu, không còn tác động gì đến lớp người cầm quyền nữa.

Bởi vì lời nói, tuy tâm huyết, có suy tư của một người Lãnh đạo gốc miền Nam đã từng mất vợ và con trong cuộc oanh kích của máy bay trên một nhánh sông gần Bình Dương đã qúa muộn, không sao hàn gắn được vết thương chiến tranh mà người miền Nam là nạn nhân.

Thứ bốn, danh từ “giải phóng” miền Nam của bộ đội Cộng sản miền Bắc Cộng sản, vì vậy sẽ không bao giờ có thế trả hết nợ đối với hàng chục ngàn phụ nữ Việt Nam đã bị Hải tặc cưỡng hiếp rồi quăng xác xuống biển hay bắt đi bán cho các động Mãi Dâm trong vùng Đông Nam Á.  Ngàn người dân bình thường khác, trong đó có vô số trẻ em, người gìa cũng đã chết chìm trên Biển Đông trên đường trốn Cộng sản tìm tự do sau ngày ngày 30/04/1975.

Tuy nhiên người dân ở miền Bắc và ngay cả trong các vùng được gọi là “giải phóng” trong Nam khi còn chiến tranh cũng chẳng may mắn gì hơn đồng bào miền Nam. Họ cũng  đã phải gánh chịu những mất mát khôn lường trong cuộc chiến 20 năm huynh đệ tương tàn bi thảm này.

Có ai biết được đã có bao nhiêu triệu bà mẹ mất con, người vợ mất chồng, hay thanh niên-thiếu nữ tuấn tú đã bỏ xác tại các chiến trường hay dọc đường Trường Sơn trên đường  vào Nam ?

Những nấm mồ hoang hay nắm xương  khô  của người dân Việt Nam-Bắc đã tan nát vào lòng đất Việt Nam đã nói lên được điều gì đối với những người còn sống hôm nay ?

Vì vậy, ta không ngạc nhiên khi thấy ông Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói vào năm 2005 rằng: “Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu. Cho nên tinh thần hòa hợp dân tộc phải được coi trọng. Chúng ta còn nhớ, sau ngày 30-4-1975, khi đồng chí Lê Duẩn vào Sài Gòn, vừa xuống thang máy bay, đồng chí nắm tay đưa lên cao, giọng đầy cảm xúc: “Đây là thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai!”

Nhưng trong suốt 40 năm qua những người lãnh đạo CSVN từ thời Trường Chinh Đặng Xuân Khu đến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là 6 người, thử hỏi họ đã làm gì để hàn gắn vết thương dân tộc, cải thiện đời sống cho dân  hay vẫn tạo ra những bất công trong đời sống hàng ngày, kỳ thị kẻ thắng người thua và nuôi dưỡng hận thù để  bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho đàng CSVN ?

Bằng chứng trong đời sống hiện nay, sau  gần 30 năm được gọi là “đổi mới” (1986-2014), hai tầng lớp công nhân và nông dân là thành trì của “cách mạng vô sản” đã hy sinh xuơng máu giúp cho đảng CSVN tồn tại và độc quyền cai trị đất nước lại vẫn là tầng lớp phải chịu thiệt thòi và kém may mắn nhất trong xã hội Việt Nam ngày nay.

TƯƠNG LAI Ở ĐÂU ?

Vậy tương lai của con cháu họ sẽ đi về đâu trong vũng bùn đói, nghèo, lạc hậu, chậm tiến và kéo dài xung đột địa phương  trong khi  Việt Nam đang mất dần  biển đảo vào tay Trung Quốc ở Biển Đông ?

Tình hình bế tắc này chỉ có thể mở ra bằng  con đường duy nhất là Việt Nam phải có dân chủ và tự do và đòan kết, hòa hợp, hòa giải dân tộc để xây dựng đất nước.

Những hành động bóp ngẹt tự do dân chủ, không cho dân được quyền nói lên suy nghĩ của mình và hạn chế những quyền cơ bản con người chỉ làm kiệt quệ sinh lực dân tộc và làm mồi cho ngọai bang cai trị bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp qua tay sai và bởi những lãnh đạo  nhu nhược.

Lãnh đạo CSVN cần phải chui ra khỏi “vỏ sò của trí tuệ” lạc hậu chủ nghĩa để thấy đất nước và nhân dang đang đòi hỏi một cuộc Cách mạng xã hội để  tự chủ, tự cường và bảo vệ  sự vẹn tòan lãnh thổ và tài nguyên của đất nước.

Nhà nước phải biết lắng nghe  tiếng nói thiện chí và chấp nhận những đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân để xây dựng đất nước. Đảng CSVN không thế cứ nói “nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân” mà lại tước đọat quyền làm chủ đất nước của người dân như đã diễn ra trong qúa khứ và đang xẩy ra trên mọi lĩnh vực trong hiện tại.

Lãnh đạo đảng CSVN cũng phải biết không có gì trên cõi đời này tồn tại mãi mãi. Cuộc đời có sinh thì phải có tử như đã xẩy đến cho Thế giới Cộng sản do Nga lãnh đạo trong thời gian từ 1989 đến 1991 ở Mạc Tư Khoa và tại các nước theo Xã hội Chủ nghĩa Cộng sản Đông Âu.

Hai văn kiện “Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lện Xã hội Chủ nghĩa” (bổ sung và phát triển năm 2011) và Hiến pháp sửa đồi năm 2013 vẫn kiên định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng (Cộng sản) của Hồ Chí Minh làm nền tảng xây dựng đất nước đang kéo đất nước lùi lại và ngăn chặn bước tiến của dân tộc.

Lãnh đạo đảng và nhà nước chắn phải biết rõ tại sao nhân dân Nga và hàng triệu người dân khác ở Đông Âu đã vùng lên lật đổ bạo quyền, phi dân chủ và độc tài để tự cởi trói và dân chủ hóa đất nước ?

Bằng chứng của tư duy lạc hậu, tiếp tục cù nhầy để “cố đấm ăn xôi Trung Quốc” và  tự trói mình chỉ tiếp tục tác hại đến tiền đồ của Tổ quốc mà thôi.

Đó chính là lý do mà mấy năm gần đây, các Tổ chức dân sự tự nguyện thành lập của nhiều tầng lớp nhân dân đã ra đời ở Việt Nam để dành lại quyền làm chủ đất nước.

Nếu năm 1975, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói ngày 30/4/1975 là “ thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai”  thì có lẽ không ai nghĩ ông đã nói dối vì  sau đó cũng chính ông và Bộ Chính trị đã đưa ra quyết định đầy đọa dân-quân Việt Nam Cộng hòa xuống tận bùn đen để cho “vượn nhảy lên bàn thờ” , xoá bỏ hệ thống kinh tế phồn thịnh của miền Nam và phá sạch nếp văn hoá nhân bản của 25 triệu người dân miền Nam.

Những nỗi đau oan nghiệt của đại đa số người dân hai miền Nam-Bắc nói mãi cũng không hết, nhưng làm gì để thay đổi mới là vấn đề của tất cả con dân Việt Nam trong và ngòai nước bây giờ.

Bởi lẽ nếu mọi người  cứ ngồi nguyền rủa bóng tối mà không mỗi người đốt lên một ngọn nến hay ngọn đèn dầu thì biết đến bao giờ mới tìm ra ánh sáng ở cuối đường hầm ?

Thông điệp đòi tự do và một chế độ dân chủ  từ mấy năm qua đã bung ra ở Việt Nam bởi các Nhà báo độc lập, các nhà trí thức, cựu đảng viên, và một số tướng lĩnh trong Quân đội CSVN  hoạt động Dân chủ, đấu tranh đòi quyền sống con người và  bảo vệ  nhân quyền.

Tuy kết qủa vẫn còn hạn chế nhưng những người can đảm thành lập các tổ chức dân sự xã hội vẫn không nản chí và tiếp tục dấn thân, bất chấp bị công an, côn đồ khống chế, tấn công, xuyên tạc hay bị phạt tù bất công trong nhiều năm.

Họ rất cần sự tiếp tay của mọi người Việt Nam trong và ngoài nước để tạo thành một phong trào quần chúng đòi lại quyền làm chủ đất nước và xóa bỏ độc tài Cộng sản.

TRƯỜNG HỢP ĐIẾU CẦY NGUYỄN VĂN HẢI

Một trong những người tù lương tâm này là Nhà báo tự do Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải. Ông mới bị trục xuất ra khỏi Việt Nam ngày 20/10/2014 sau 6 năm 6 tháng bị hành hạ, đầy đọa qua  11 nhà tù từ Nam ra Bắc.

Một số đông đồng hương người Việt đã tự ý ra phi trường Los Angeles tối 21/10/2014 đón Ông trong không khí nồng ấm đầy tình người với nhiều Cờ Vàng 3 Sọc đỏ mang theo. Nhưng chỉ ít ngày sau, một làn sóng dữ của dư luận đã cáo buộc ông đã từ chối nhận lá cờ Vàng 3 Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng hòa, và coi ông đã “không muốn đứng vào hàng ngũ những người đã đấu tranh cho ông và những người tù lương tâm khác.”

Tuy nhiên, câu chuyện đã không được nói đúng như những gì đã xẩy ra khiến cho vấn đề “hòa hợp, hòa giải dân tộc” giữa người Việt ở 2 bờ chiến tuyến gặp nhiều khó khăn.

Trong cuộc phỏng vấn của Thông tín viên Mặc Lâm đài Á Châu Tự do (RFA) ngày 29/10/20134, Ông Ngô Chí Thiềng, người chứng kiến sự việc ngay từ đầu cho biết những gì ông thấy:

“Hôm đó tôi cũng có mặt ở đó để đi đón anh Điếu Cày. Nói thực ra là đồng bào rất háo hức rất nhiều người mang theo cờ. Cá nhân tôi không biết là có nên mang cờ theo hay không vả lại mình cũng nghĩ nhiều khi tế nhị nhưng khi tới nơi thì tôi thấy rất nhiều cờ. Trước khi anh Điếu Cày xuất hiện thì chúng tôi nói chuyện gặp gỡ nhau, đi tới đi lui vòng vòng.

Đùng một cái ông Điếu Cày và hai người Hoa kỳ trong Bộ ngoại giao đi theo với ông Điều Cày đi ra bằng một cổng khác, đi bọc hậu đàng sau lưng mình. Tất cả mọi người bu vô rất đông, người thì sờ anh Điếu Cày, người thì cầm bao thư đưa tiền, tôi biết chắc là tiền mà anh Điếu Cày khi đó mệt mỏi lắm mà bà con người thì muốn sờ tay người thì muốn sờ lưng ổng, đập đập ổng muốn giúi cho ổng bao thư.

Người thì cầm cờ Mỹ người thì cầm cờ vàng….Người cầm cờ vàng thì đưa lên thôi chứ không thấy người nào đưa vào mặt bảo ảnh cầm cả. Tôi chỉ đứng cách anh Điếu Cày chừng 4 người thôi. Lúc đó anh Điếu Cày quay sang bên trái của tôi còn anh Truật đưng ngay bên phải của anh Điếu Cày mới đưa lá cờ lên. Anh Điếu Cày lúc ấy chưa nhìn thấy. Trước khi giơ lá cờ thì anh Truật vỗ vai anh Điếu Cày nhưng anh ấy vẫn không quay lại anh Truật lại đưa lá cờ lên nhưng ngay khi ấy anh chàng Mỹ đi theo bảo vệ anh Điếu Cày rất vất vả đề đẩy những cánh tay ra ngoài tại vì họ sợ nhỡ có ai làm gì bậy bạ thì sao? Tôi thấy anh ta đẩy lá cờ qua tay phải của anh Điếu Cày thì anh Truật ảnh thấy vậy ảnh chỉ rút là cờ lại và ảnh cười.”

Mặc Lâm viết tiếp: “Ông Đinh Quang Truật, người cầm lá cờ đưa cho ông Điếu Cày Nguyễn Văn Hải thuật lại sự việc cũng giống với những gì mà nhân chứng kể, ông Truật nói:

“Tên tôi là Đinh Quang Truật nguyên là cựu sĩ quan hải quân Quân lực VNCH. Tôi và một số anh em có mang theo một số cờ quốc gia và một ít cờ Mỹ, mục đích là tới có hình thức chào đón anh Điếu Cày cho nó được long trọng.

Chính tôi cầm một số cờ đó tôi phân phát cho đồng hương tới đón anh Điếu Cày. Khi anh xuất hiện có một số bà con bảo tôi anh cố gắng anh đưa lá cờ cho anh ấy…thành ra tôi cũng cố gắng tôi len lỏi đám đông đang vây anh Điếu Cày. Ngoài bà con vây anh Điếu Cày còn một số phóng viên của các đài và lúc đó anh đang tập trung trả lời phỏng vấn. Tôi vỗ vai anh ấy để anh chú ý và anh ấy hơi quay ngang về phía tôi một chút. Lúc ấy người nhân viên Bộ Ngoại giao bảo vệ cho anh ấy gạt tay tôi ra.

Trong lòng tôi nghĩ rất thành thật như thế này thái độ của anh Điếu Cày cũng như động tác của anh nhân viên Bộ ngoại giao thì tôi không coi đó là sự khước từ việc cầm lá cờ vì tôi nghĩ rằng lúc đó anh Điếu Cày được đồng bào vây kín như là nêm cối. Anh Điếu Cày có đưa tay lên để lấy lá cờ cũng khó vì lúc ấy anh đang tập trung trả lời phỏng vấn của các phóng viên.”

Câu chuyện giản dị chỉ có thế thôi, nhưng tiếng lành thì ít là tiếng dữ lại bay xa khiến cho có nhiều người Việt Nam ở Hoa Kỳ và một số nơi khác đã “tam quốc chí diễn nghĩa” với nhiều thêu vẽ làm cho vấn để nghiêm trọng và gây tranh cãi mất nhiều công sức của người tham gia.

Thậm chí có người còn đặt cả điều kiện tiên quyết “nếu không đứng chào cờ nghiêm chỉnh, không nhận lá cờ Vàng 3 Sọc Đỏ” thì sẽ không được tiếp xúc, dù anh Điếu Cầy chỉ muốn đến để cảm ơn !

Và tại cuộc gặp gỡ đồng hương tại Washington D.C, tối ngày 23/11/2014, có một số người đã chất vấn anh Hải như “tra khảo” quyết liệt không kém như anh bị lấy cung tại các nhà giam Việt Nam !

Tôi ngồi nghe mà trong lòng nghẹn ngào để  nhớ lại 4 trường hợp lịch sử đã xẩy ra trong chiến tranh Việt Nam cũng liên quan đến “là cờ và lòng con người”.

-Trường hợp thứ nhất ở ngay trong Dinh Độc Lập thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khi người Phụ tá Chính trị của Tổng thống là Vũ Ngọc Nhạ bị phát giác là “điệp viên của Cộng sản” gài vào Dinh để thu góp tin tức cho Hà Nội.

Chắc hẳn đã nhiều lần trong đời ở miền Nam thì Vũ Ngọc Nhạ, sau 1975 lên chức Thiếu tướng tình báo Cộng sản, đã đứng nghiêm chào lá Quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa !

-Trường hợp thứ hai là Nhà “siêu tình báo chiến lược” đội lốt Nhà báo Phạm Xuân Ẩn. Ông Ẩn cũng từng là Sỹ quan  Quân đội Quốc gia Việt Nam rồi Việt Nam Cộng hòa  đã  được gửi đi học tham mưu và báo chí ở Hoa Kỳ bằng tiền thuế của người dân miền Nam.

Nhà báo Phạm Xuân Ẩn làm cho nhiều báo ngọai quốc, nhưng lâu năm và được tín nhiệm nhất khi ông làm cho Tạp chí Times vì ông Ẩn có mối giao thiệp rộng rãi với Chính quyền VNCH và các Tòa Đại sứ ngọai quốc, quan trọng nhất là Hoa Kỳ tại Sài Gòn.

Cũng như trường hợp Vũ Ngọc Nhạ, ông Ẩn được phong hàm Thiếu tướng Tình báo CSVN sau 1975!

-Trường hợp thứ ba là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, sinh năm 1923 là phụ tá Tổng tham mưu trưởng cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi Đại tướng Dương Văn Minh nhận chức Tổng thống từ tay Cụ Trần Văn Hương ngày 28/4/1975. Ông mang bí danh S7 hay Sao Mai là cơ sở của Ban binh vận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

Chính tướng Hạnh là  người đã thúc đẩy Tổng thống Dương Văn Minh quyết định kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng Hòa buông vũ khí đầu hàng quân Cộng sản ngày 30/04/1975, khi lá Quốc kỳ Nền Vàng 3 Sọc Đỏ của VNCH vẫn còn bay trên Dinh Độc Lập.

-Người thứ bốn liên quan đến Thượng tá Tám Hà của Quân đội CSVN đã bỏ hàng ngũ ra hồi chánh với Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước Cuộc tấn công miền Nam Tết Mậu Thân của  Cộng sản.

Tài liệu của CSVN sau 30/4/1975 tiết lộ, những bí mật hành quân và tấn công vào đô thị miền Nam năm 1968  bị ông Tám Hà báo cáo với chính phủ VNCH đã gây thiệt hại to lớn cho quân CSVN trong thời kỳ ấy.

Hiển nhiên Thượng tá Tám Hà cũng đã rất nhiều lần đứng chào cả 2 lá cớ Mặt trận Giải phóng miền Nam và cờ Đỏ Sao Vàng.

Như vậy, thiết tưởng chuyện “trung thành với lý tưởng của lá cờ” của người cầm cờ hay chào cờ cũng chưa chắc ai đã trung thành hơn ai trong mặt trận đấu tranh tư tưởng.

Chỉ khi nào người ta phải đối diện với thực tế thì lương tâm mới hiện ra chăng, hay cũng có thể thay đổi tùy hòan cảnh ?

Tuy nhiên,  sự hòai nghi về lòng trung thành khi chưa  “có lửa để thử vàng” thì cũng có thể sai lầm. Vì vậy, nếu vấn đề hòa hợp và hòa giải dân tộc không được nghiêm chỉnh thảo luận giữa những người, tuy từng cầm súng bắn nhau trong chiến tranh nhưng biết tôn trọng giá trị của nhau thì dân tộc sẽ mãi mãi mắc mưu chia rẽ của  Cộng sản.

Do đó  vấn để khẩn trương và quan trọng của đất nước hiện nay là  làm thế nào đòan kết được  trong-ngoài gữa người Việt Nam cùng lý tưởng để đấu tranh loại đảng CSVN ra khỏi độc quyền lãnh đạo, để Việt Nam có dân chủ tự do và để  cứu được dân tộc ra khỏi đói nghèo, chậm tiến và lạc hậu chứ không phải là lúc  tranh luận về lòng yêu nước ai hơn ai./-

Phạm Trần

Read more

Trình diện

VRNs (26.11.2014) – Sài Gòn – Trình diện là ra mặt cho người ta biết, là gặp mặt trực tiếp một người nào đó, đặc biệt là gặp người lớn và có quyền thế. Trình diện có dạng tích cực và tiêu cực, có thể đáng buồn hoặc đáng vui. Trình diện khá đa dạng: Những người sắp kết hôn trình diện ông bà, cha mẹ, họ hàng đôi bên; phạm nhân trình diện cảnh sát hoặc tòa án; quân nhân trình diện cấp trên sau thời gian đi công tác hoặc nghỉ phép; tu sĩ trình diện bề trên khi đi đâu về; trò trình diện thầy… Đủ dạng và đủ cấp độ trình diện.

141124011Trong Kinh Thánh có nhiều dạng trình diện khác nhau. Cựu Ước cho biết: “Ông Giuse được ba mươi tuổi khi ra trình diện Pharaô, vua Ai-cập. Ông cáo biệt Pharaô và rảo qua khắp xứ Ai-cập. Trong bảy năm sung túc, đất đã sinh ra mùa màng dư dật” (St 41:46-47). Sau khi anh em hùa nhau giết “thằng chiêm bao” Giuse, nhưng rồi một người anh ngăn cản nên họ đem bán Giuse làm nô lệ. Nhưng Giuse được Thiên Chúa che chở và danh tiếng lẫy lừng. Khi biết tin, ông Ít-ra-en bảo các con đi gặp Giuse: “Những người này lấy những món quà đó, mang theo số bạc gấp đôi, và đem Ben-gia-min theo. Họ đứng lên, xuống Ai-cập và vào trình diện ông Giuse” (St 43:15). Giờ đây, các anh phải “trình diện” quan em là Giuse.

Trình diện cũng có luật rõ ràng và nghiêm túc: “Mỗi năm ba lần, tất cả đàn ông con trai của anh em phải đến trình diện Đức Chúa, ở nơi Người chọn: vào dịp lễ Bánh Không Men, lễ Ngũ Tuần và lễ Lều. Người ta sẽ không đến trình diện Đức Chúa tay không” (Đnl 16:16). Trong thời gian sống trong sa mạc, cố gắng nằm gai để chờ ngày nếm mật tại Đất Hứa, chính ông Mô-sê đã truyền luật cho dân: “Sau bảy năm, vào thời kỳ có năm tha nợ, trong dịp lễ Lều, khi toàn thể Ít-ra-en đến để ra trình diện Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, ở nơi Người chọn, anh em phải đọc luật này trước toàn thể Ít-ra-en, cho họ nghe” (Đnl 31:10-11). Sau khi chiến thắng, đích thân Đa-vít ra trình diện vua Sa-un (Đnl 17:55-58).

Trong thị kiến thứ tám về “chiến xa”, ngôn sứ Dacaria nghe thần sứ lên tiếng trả lời: “Đó là bốn luồng gió trời tiến đi sau khi đã trình diện Chúa Tể toàn cõi đất. Xe thắng ngựa ô tiến về đất bắc, ngựa bạch tiến theo sau; ngựa đốm tiến về đất nam” (Dcr 6:5-6). Đặc biệt nhất là chính Thiên Chúa đã tuyên phán rạch ròi: “Chính tay Ta đã thiết lập địa cầu, tay hữu Ta đã trải rộng trời cao. Ta gọi chúng, chúng cùng nhau trình diện” (Is 48:13).

Tân Ước cũng đề cập một số trường hợp trình diện. Chúa Giêsu chữa lành và bảo người phong cùi đi trình diện các tư tế (Mt 8:1-4; Mc 1:40-45; Lc 5:12-14), Ngài cũng bảo mười người phong cùi đi trình diện với các tư tế (Lc 17:14). Và rồi Thánh Phaolô cũng đã từng ra trình diện vua Ác-ríp-pa (Cv 25:13-27).

Con cái trình diện cha mẹ, bề dưới trình diện bề trên, người nhỏ trình diện người lớn,… Đó là chuyện bình thường. Nhưng thật là kỳ lạ, vì ngay cả ma quỷ cũng phải trình diện Thiên Chúa: “Một ngày kia, con cái Thiên Chúa đến trình diện Đức Chúa; Satan cũng đến trong đám họ để trình diện Đức Chúa” (G 2:1).

Đối với các Kitô hữu, hằng ngày mỗi người phải tự trình diện Thiên Chúa khi xét mình vào buổi tối trước khi đi ngủ. Và hằng tháng, chí ít là hằng năm, người Công giáo trình diện Thiên Chúa bằng cách lãnh nhận Bí tích Hòa giải. Ngay cả khi thức dậy vào buổi sáng, họ cũng phải trình diện Thiên Chúa, kể cả nhiều lúc khác trong ngày. Ai càng yêu mến Ngài thì càng muốn trình diện Ngài.

Cuối cùng, lần trình diện quan trọng và đáng sợ là lúc chết, quan trọng nhất và đáng sợ nhất chính là Ngày Phán Xét Chung – lúc này biết rõ ai là chiên và ai là dê (x. Mt 25:31-46). Trong các cuộc xét xử khác, người ta có thể kháng án, tự biện hộ hoặc có luật sư biện hộ, nhưng tại Cuộc Phán Xét Chung, không ai có thể tự biện minh và không có ai biện hộ. Cuốn-sách-cuộc-đời đã ghi đầy đủ từng chi tiết, cuốn-phim-cuộc-đời đã ghi đầy đủ mọi hình ảnh, và cuộn-băng-cuộc-đời cũng đã ghi rõ ràng từng âm thanh nhỏ nhất của nhịp thở. Không thể biện minh được chút gì. Tất cả là đời đời rồi!

Cuộc trình diện Thiên Chúa vừa đáng sợ hãi vừa đáng vui mừng. Còn tùy người. Cổ nhân đã nói: “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”. Người ta có thể biết trước thời điểm sinh một cách tương đối khá chính xác, nhưng không ai có thể biết trước lúc chết, ngay cả đối với những người xem chừng sắp chết đến nơi mà cũng chẳng ai đoán được tương đối chính xác. Có người tưởng chỉ vài giờ nữa sẽ tắt thở, nhưng rồi kẻ hấp hối đó vẫn sống thêm vài ngày nữa.

Sinh – tử là chuyện của Ông Trời, phàm nhân chỉ biết cúi đầu tuân lệnh. Vâng, dù là người vô tín ngưỡng hoặc vô thần, người ta cũng vẫn nói: “Trời kêu ai nấy dạ, trời gọi ai nấy đi”. Như vậy, dù không minh nhiên nhưng mặc nhiên họ vẫn có phần tâm linh đấy chứ! Quả thật, “chuyến đi xa” này bất ngờ hơn cả sự bất ngờ, và kẻ “ra đi” không bao giờ hẹn tái ngộ, một chuyến đi rất xa… rất xa…

Họ đi đâu vậy? Người ta thường nói rằng họ về nơi “chín suối” – nói văn hoa là “cửu tuyền”, về nơi “suối vàng” (hoàng tuyền), về Niết Bàn,… Nói là nói vậy chứ chẳng ai biết nơi đó là nơi nào hoặc ở đâu.

Nhưng với các tín hữu, những người có niềm tin vào Đức Kitô, Ngôi Hai mặc xác phàm, nơi đó rõ ràng và chính xác, nơi mà Đức Giêsu đã đến và cũng đã về lại nơi đó, nơi mà Ngài gọi là “về cùng Chúa Cha” (Ga 14:28). Vì thế, các tín hữu “ra đi” không hẹn gặp lại nơi trần gian nhưng hẹn gặp lại trên Thiên Quốc, họ ra đi để về với Thiên Chúa hằng sinh, Đấng từ bi nhân hậu và giàu lòng thương xót.

Tháng Mười Một lại về như một cuộc hẹn với các linh hồn nơi Luyện Hình, và cũng là dịp để chúng ta chuẩn bị cho cuộc trình diện với Thiên Chúa mà không ai không hẹn, càng phải chuẩn bị hơn vì cuộc trình diện này là cuộc-hẹn-bất-ngờ. Vâng, có thể lát nữa, ngày mai, tuần tới, tháng sau hoặc năm tới, chúng ta phải “trình diện” Thiên Chúa.

Càng chuẩn bị kỹ, chúng ta càng an tâm và sẵn sàng “lên đường” bất cứ lúc nào. Thánh Phaolô nói: “Nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu” (1 Tx 4:14). Điều Thánh Phaolô nói liên quan cuộc-trình-diện-bất-ngờ mà chúng ta đang đề cập, dù ông không dùng hai chữ “trình diện”.

Trong các đám tang, một số nơi đọc Kinh Bảo Đàng, lời kinh hay lắm: “…Trái xanh trái chín cùng một chúa cây, Người muốn hái trái nào chẳng kỳ chín hay là xanh. Vậy dù già dù trẻ, chớ lấy sự chết là dễ làm chi. Sự chết là sự thật, giờ chết chẳng ai biết đâu…”. Đó là những từ ngữ nhắc chúng ta phải luôn nhớ tới thời điểm chúng ta ra trình diện Thiên Chúa – dù muốn hay không.

Chúng ta cùng đọc và suy lời Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Thời ông Nô-ê thế nào thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, một người được đem đi, một người bị bỏ lại” (Mt 24:37-41).

Đặc biệt là lưu ý và ghi nhớ câu quan trọng này: “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ thì Con Người sẽ đến (Mt 24:42-44).

Chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau và cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Hình. Ước gì mỗi chúng ta đều có thể hân hoan nói với nhau: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa” (Tv 122:1). Về Nhà Cha thì phải hân hoan chứ!

Lạy Thiên Chúa từ bi và nhân hậu, xin thương xót chúng con. Chúng con chân thành xin lỗi Chúa. Xin Chúa tha thứ hình phạt để các linh hồn mau được trình diện Ngài và được hưởng phúc trường sinh. Lạy Đức Mẹ Maria, lạy Đức Thánh Giuse, lạy các thánh, xin nguyện giúp cầu thay. Xin các linh hồn cũng nguyện giúp cầu thay cho chúng con đang trên đường lữ hành trần gian. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Tháng Mười Một – 2014

Suy niệm với bài thánh ca Trình Diện:

https://www.youtube.com/watch?v=jL8H2uJkxBA&feature=em-share_video_user.

Read more

Hội phụ nữ Nhân quyền VN kỷ niệm một năm thành lập

VRNs (26.11.2014) – Sài Gòn – Sáng ngày 25/11/2014, Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam chúng tôi tổ chức lễ Kỷ niệm một năm thành lập tại Nhà thờ Kỳ Đồng, Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

Chị em chúng tôi rất vui mừng được đón tiếp Đại diện các tôn giáo và các tổ chức xã hội dân sự đến chia sẻ niềm vui ngày họp mặt của chị em chúng tôi.

Sự tham dự của quý vị sau đây là niềm vinh dự lớn cho chị em chúng tôi: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Hòa thượng Thích Không Tánh, Thượng tọa Thích Thiện Minh, Mục sư Huỳnh Thúc Khải, Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, Mục sự Nguyễn Mạnh Hùng, Thạc sĩ Phạm Bá Hải, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, Ký giả Trương Minh Đức… cùng nhiều tín đồ Phật giáo Hòa Hảo từ miền Tây.

Nhiều thành viên Hội PNNQVN từ khắp ba miền đã đến họp mặt, trong đó có những người khách mời phụ nữ, mà đối với chúng tôi, rất đặc biệt như vợ và con gái mục sư Nguyễn Công Chính từ Gia Lai, cô Trần Thị Thu mẹ em Đỗ Văn Bình (em Bình bị công an Hòa Vang đánh đến chết đầu năm nay) từ Quảng Nam, dân oan Lê Thị Kim Thu từ Đồng Nai…

Đây cũng là dịp để các đại diện tổ chức xã hội dân sự họp mặt để chia sẻ kinh nghiệm đấu tranh và bước đầu phác thảo chương trình hành động cho năm 2015.

Chúng tôi rất vui mừng nhận được lời cổ cũ của bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Hòa thượng Thích Không Tánh, Thượng tọa Thích Thiện Minh, mục sư Huỳnh Thúc Khải và đại diện Phật giáo Hòa Hảo Nguyễn Văn Sóc từ Vĩnh Long.

Xin chân thành cám ơn quý bằng hữu đã có mặt để ngày kỷ niệm của chị em chúng tôi tràn đầy niềm vui.

141124007

Nhân dịp này, xin chia sẻ với quý vị Hành trình một năm nhìn lại của Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam trong năm 2014

Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam : Một năm nhìn lại

Ngày 25 tháng 11 hằng năm được Liên Hiệp quốc chọn làm ngày Quốc tế chống bạo hành phụ nữ. Đúng ngày đó năm 2013, một tổ chức xã hội dân sự mới ra đời tại Việt Nam: Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam. Đó có thể là một ngày bình thường với rất nhiều người, nhưng là một ngày đặc biệt với chị em chúng tôi – những người phụ nữ bảo vệ Nhân quyền đã tham gia sáng lập hội này.

​Thưa quý vị, mặc dù chúng tôi có một khởi đầu vô cùng khó khăn cả về nhân sự lãnh đạo, tài chính, kỹ thuật tổ chức lẫn sự đàn áp liên tục của chính quyền, nhưng từ ngày hôm ấy, chúng tôi có thể tự hào là Hội phụ nữ đầu tiên ở Việt Nam lấy việc bảo vệ nhân quyền và nhân phẩm làm tôn chỉ hoạt động của mình.

Sống trong xã hội độc tài nơi không có xã hội dân sự thực sự và nền luật pháp chỉ là đồ chơi trong tay giới cầm quyền và là cái còng số 8 trên cổ tay những người bất đồng chính kiến, chúng tôi không được dạy về xã hội dân sự, không có điều kiện để trải nghiệm môi trường của sự hợp tác tự do và tự nguyện. Chúng tôi, những người nữ bất đồng chính kiến, nữ blogger, vợ hoặc con gái của những tù nhân lương tâm… hoàn toàn không được trang bị những kiến thức và kinh nghiệm cơ bản để ngồi cùng nhau trong một tổ chức xã hội công dân bảo vệ Nhân quyền. Chúng tôi chẳng có ưu thắng gì ngoài một tấm lòng dành cho những nạn nhân bị chà đạp phẩm giá và tự do, những người yếu thế và dễ bị tổn thương trong xã hội, đặc biệt là những tù nhân lương tâm và gia đình họ.

Một năm là thời gian đủ dài để một tổ chức xã hội công dân nhiều kinh nghiệm đạt được những thành quả đáng chú ý, nhưng là quá ngắn để một tổ chức vừa mới ra đời, trong hoàn cảnh trù dập của chính quyền cộng sản Việt Nam, để lại một dấu ấn nào đó nổi bật. Khắp Việt Nam đầy rẫy tiếng oán than của những con người yếu đuối bị chà đạp, đầy rẫy những vụ án oan ức, đầy rẫy những tình cảnh bi thương của những người phụ nữ và trẻ em không có nổi một bữa cơm no. Và quả tình, chúng tôi cảm thấy xấu hổ vì một năm qua chúng tôi đã làm được rất ít, rất ít cho đồng bào của mình.

141124008

Khắp sáu tỉnh miền Tây, nơi nào cũng có những người Phật giáo Hòa Hảo bị chính quyền đàn áp quyền tự do tôn giáo. Họ không có nổi chút tự do làm những điều rất đỗi bình thường: tổ chức lễ giỗ cho người khai sáng nền đạo của họ. Có biết bao nhiều tín đồ Phật giáo Hòa Hảo bị kết án nặng nề vì sự dũng cảm kháng cự bất bạo động với nhà cầm quyền độc tài để giữ lấy cơ hội tự do thờ phượng cho bản thân và gia đình. Nhiều người trong số họ bị giam giữ hơn cả thập niên mà không có bản án cụ thể. Và thậm chí, khi họ được trả tự do khỏi nhà tù cũng không thể có được một tờ giấy ra trại như những tù nhân bình thường khác. Chúng tôi đã đến với vài người trong số họ, chỉ vài người thôi. Và còn biết bao nhiêu người khác phải chịu cảnh đánh đập, bắt giam thường xuyên mà không ai biết tới. Chúng tôi đã đến với gia đình bà Nguyễn Thị Thu tự thiêu năm 2001 và gia đình tu sĩ Út Hòa Lạc tự thiêu năm 2005 và gần chục gia đình khác… Nhưng vẫn còn bao nhiêu người khác nữa…

Chúng tôi đã theo dõi ngay từ đầu vụ án “gây rối trật tự công cộng” của hai dân oan Cần Thơ là bà Nguyễn Thị Tuyền và Nguyễn Thị Ánh Nguyệt; sát cánh cùng gia đình họ trong những ngày khó khăn nhất. Chúng tôi đã gặp gỡ và chia sẻ với dân oan Dương Nội và dân oan khắp ba miền Bắc Trung Nam. Những gì chúng tôi làm cũng không có gì hơn ngoài sự chia sẻ miếng cơm và cốc nước trong những ngày tháng dài bà con dân oan đi khiếu kiện chính quyền đã cướp đất của nông dân cả nước.

Chúng tôi đã tìm đến những làng xã xa xôi ở tỉnh Phú Yên, có những nơi nằm trong hóc núi, để thăm viếng gia đình các tù nhân tôn giáo trong vụ án Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn, một nhóm tôn giáo có hơn hai mươi người bị kết án nặng nề, người lãnh đạo là ông Phan Văn Thu bị kết án chung thân trong trong sự thờ ơ của công luận. Chúng tôi chia sẻ sự đồng cảm với nỗi oan ức thấu trời của họ: bị tịch thu tiền bạc do đạo hữu quyên góp, bị mất cơ sở du lịch Đá Bia mà họ phải mất nhiều thời gian, mồ hôi và nước mắt để xây dưng, và mất tất cả kinh sách trong đó có tác phẩm triết tôn giáo tự nghiên cứu dựa trên nền tảng Phật lý; không những thế, họ còn phải chịu các bản án tù hầu hết là trên mười năm. Chúng tôi đã viết báo cáo đưa trường hợp này đến bà Katherine Lawson, viên chức Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách tôn giáo, trong chuyến thăm Việt Nam của bà. Chúng tôi đã đến thăm tận nhà bà Võ Thị Thanh Thúy vợ của ông Phan Văn Thu để tìm hiểu tình hình. Nhưng cho đến lúc này, chúng tôi chỉ có thể làm được đến thế.

Chúng tôi đã đến thăm vợ và con nhỏ của mục sư Nguyễn Công Chính. Mục sư Chính là một trong người nhà hoạt động cho tự do tôn giáo và nhân quyền lâu năm trong cộng đồng những người theo các hệ phái Tin Lành tại gia, đặc biệt là những người sắc tộc thiểu số ở Gia Lai và Kon Tum. Ông từng bị trù dập nhiều năm trước khi bị bỏ tù và bị kết án 11 năm tù giam. Ở vùng xa xôi của Cao nguyên Trung phần này, người sắc tộc không được tổ chức ngay cả một lễ Giáng sinh đơn giản nhất, điều mà đối với nhiều người Kinh và người ở thành phố là chuyện bình thường. Họ bị theo dõi, xua đuổi, đánh đập, bắt bớ và bỏ tù trong sự thiếu thông tin hoàn toàn của công luận. Chúng tôi đã đến thăm nhà và tặng quà gia đình ông Rơ Châm Hm Rek, một thầy truyền đạo Tin Lành, người từng bị bắt cóc và bỏ tù trong chín năm mà gia đình không có tin tức; khi người ta thả ông về thì ông đã bị liệt nửa người, nói không thành tiếng; dù trước đây ông thông thạo cả tiếng mẹ đẻ của mình và tiếng Việt. Nhưng chúng tôi chưa làm được gì nhiều hơn thế.

Nhân quyền là giá trị phổ quát của nhân loại nhưng vẫn còn quá nhiều nơi trên thế giới, nó bị từ chối và chủ thể nắm giữ nó trở thành nạn nhân của sự sỉ nhục, dùi cui và ngục tù. Bởi vậy, mặc dầu con người đã văn minh và tiến bộ đến độ có thể lên vũ trụ để thám hiểm không gian và những hành tinh xa xôi, nhưng chính trên mặt đất này, con người vẫn còn dùng đủ mọi thủ đoạn để chà đạp nhau. Chừng nào con người còn rên rỉ vì đau khổ do những tập đoàn cai trị, những phe nhóm phiến quân, những hành xử tàn ác của gia tộc… mang lại; những tổ chức xã hội công dân bảo vệ nhân quyền vẫn tiếp tục nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm của mình. Và Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam chúng tôi hy vọng góp một tay trong sứ mạng toàn cầu này.

Con đường xây dựng xã hội dân sự và dân chủ cho đất nước là một con đường dài ở phía trước và tổ chức chúng tôi vẫn đang trong những ngày tháng chập chững làm việc và trưởng thành. Chúng tôi mong mỏi nhận được sự trợ giúp của quý bằng hữu người Việt khắp nơi trên thế giới và được cộng đồng đón nhận với thiện chí và sự tin tưởng. Một năm khó khăn đã trôi qua. Nhưng với tình hình đàn áp và bạo hành của nhà cầm quyền đối với các nhà hoạt động xã hội dân sự hiện nay tại Việt Nam, chúng tôi không muốn đưa ra bất cứ dự đoán nào về sự an toàn của các thành viên Hội chúng tôi, đặc biệt là các thành viên Ban điều hành Hội. Chúng tôi chỉ có thể tiếp tục nỗ lực trong tâm tình yêu thương dành cho những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ và các nhà hoạt động nữ của chúng ta.

Ban điều hành Hội PNNQVN

Huỳnh Thục Vy
Cell phone: 0905 154 708
Skype: vyhoang.jane

Read more