70 năm quân đội – mấy mươi năm sợ Tàu?

VRNs (19.12.2014) – Washington DC, USA – Đảng Cộng sản Việt Nam đang lên cơn sốt  về chuyện phải kiên định Chủ nghĩa lỗi thời Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh để bảo vệ Đảng cầm quyền, nhưng lại coi nhẹ hành động đang ngày đêm chiếm biển đảo Việt Nam của Trung Cộng ở Biển Đông.

Chuyện này được thể hiện rõ nét qua hành động phối hợp giữa hai Bộ Công an và Quốc phòng vào dịp tổ chức  các cuộc thảo luận về công tác bảo vệ chính trị nội bộ và chống lại ý kiến Quân đội đứng ngòai chính trị nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân (22/12/1944 – 22/12/2014).

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

BẢO VỆ MÁC ĐỂ LÙI TIẾP ?

“Bảo vệ chính trị nội bộ là bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối, Điều lệ, nguyên tắc tổ chức của đảng; bảo vệ tổ chức Đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên, nhằm làm cho Đảng CSVN thực sự là một đảng cách mạng chân chính, trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu cho đạo đức, trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân tộc Việt Nam. Bảo vệ chính trị nội bộ là bộ phận của công tác xây dựng Đảng, là quy luật trong quá trình tồn tại và phát triển của Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ là nhiệm vụ quan trọng, quan hệ đến sự sống còn của Đảng và của chế độ.” (Trích Tạp chí Xây dựng đảng (XDĐ) năm 2010)

Đó là mục tiêu của chiến dịch học tập để xây dựng đảng được thi hành ở Việt Nam từ năm 2007, sau khi có Quy định 57-QĐ/TW, ngày 3-5-2007 của Bộ Chính trị về  “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng“.

Công tác này được lập lại vào tháng 12/2014 trên cả nước để chuẩn bị tổ chức Đại hội đảng lần thứ XII diễn ra vào đầu năm 2016.

Nhưng tại sao phải làm quyết liệt hơn vào thời điểm này ? Những việc xẩy ra đã chứng minh đảng đã mất định hướng khi thấy một số không nhỏ cán bộ, đảng viên tiếp tục suy thoái đạo đức, coi thường kỷ luật đảng và không còn mặn mà với Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh nữa.

Từ  năm 2010, cán bộ tuyên truyền đã viết trên báo Xây dựng đảng rằng : “ Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ chính trị nội bộ vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Công tác tuyên truyền phổ biến các quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn hạn chế, một số cấp ủy đảng chưa hiểu rõ yêu cầu, nhiệm vụ và trách nhiệm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, một số cán bộ còn thiếu gương mẫu trong chấp hành các chủ trưởng, nghị quyết của đảng, pháp luật của nhà nước, vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật.

Vẫn còn tình trạng đảng viên đi nước ngoài không báo cáo với tổ chức; phát hiện có vấn đề về chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên nhưng không báo cáo….”

Sau đó, trong Diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương lần 9 ngày 14/05/2014, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trong vẫn phải nhắc nhở cấp lãnh đạo: “Cần phân tích, đánh giá đúng thực trạng và đề ra các giải pháp cụ thể để tiếp tục xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và phương thức lãnh đạo, quản lý. Đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phòng chống sự suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; công tác bảo vệ chính trị nội bộ…”

Ba tháng sau, ngày 18/08/2014, Bộ Chính trị lại  bổ sung với Chỉ thị số 39-CT/TW để gọi là “ tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay.”

Những biện pháp dồn dập này chỉ phản ảnh công tác cần phải làm tốt hơn việc qủan lý cán bộ, ngăn chặn quốc nạn tham nhũng và chận đứng tình trạng  đã chán Chủ nghĩa Cộng sản đến tận cổ trong  đảng viên đang nẩy sinh những biến chứng báo nguy  trước thềm Đại hội đảng XII, dự trù đầu năm 2016.

Do đó mà chuyện “tự diễn biến” và “tự chuyển hoá” , hay lung lay tư tưởng trong đảng lại được thảo luận tại  kỳ Hội nghị cán bộ tòan quốc ngày 22/10/2014, tại Hà Nội, khi Ban Tổ chức Trung ương lại đem vấn đề “chính trị nội bộ” ra thảo luận.

Theo lời khoe của Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa thì : “ Công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Đảng, làm thất bại các âm mưu chia rẽ, chống phá nội bộ Đảng của các thế lực thù địch; giữ vững sự đoàn kết và vai trò lãnh đạo của Đảng, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này, đến thắng lợi khác.”

Nhưng ngay sau đó ông ta lại : “Yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần tổ chức tốt việc phổ biến, quán triệt những nội dung, quan điểm, nhiệm vụ về công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay; từ đó xác định rõ trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong quản lý cán bộ, đảng viên; trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên trước những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cán bộ đảng viên viết, nói và làm trái Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết của Đảng, tham ô, tham nhũng, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, gây mất đoàn kết nội bộ…”  (Theo Việt Nam Thông tấn xã,VNTTX)

Như vậy có nghĩa từ năm 2007, dưới thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh của Khoá đảng X, khi Quy định về “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” của Bộ Chính trị có hiệu lực thì mọi chuyện vẫn không nhúc nhích, mọi cấp đều ì ra để  cho tình trạng “cha chung không ai khóc” tồn tại, hay là không ai bảo được ai ?

Do đó không có gì lạ khi ông Tô Huy Rưá lại nhắc nhở : “Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị rà soát, bổ sung các quy chế, quy định về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên…, quy định chặt chẽ hơn về quy trình xem xét, tuyển chọn, quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ, bảo đảm cán bộ được tuyển chọn đề bạt, bổ nhiệm nhất thiết phải được thẩm định kỹ về tiêu chuẩn chính trị.”

“ Bên cạnh đó”, ông nói tiếp, “cần rà soát, bổ sung các quy chế, quy định về bảo mật thông tin, tài liệu trong mọi hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; tăng cường các biện pháp quản lý cán bộ, đảng viên công tác ở nước ngoài, đi công tác nước ngoài, lưu học sinh ở nước ngoài hoặc cán bộ có quan hệ công tác với các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp trên đối với cấp dưới về việc chấp hành các quy định bảo vệ chính trị nội bộ.”

Như vậy có phải là một cuộc thanh lọc hàng ngũ, điều tra tư tưởng, phân chia thành phần  tranh chấp giữa các nhóm lợi ích trong đảng đã bắt đầu một cuộc thư hùng để xem phe nào, địa phương nào chiếm đa số trong Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ?

Bởi vì khi Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa ra lệnh cho “Các cấp ủy, tổ chức Đảng cần kịp thời triển khai hoàn tất các công việc trên trước khi tiến hành công tác chuẩn bị nhân sự cấp ủy và tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XII của Đảng” không phải là chuyện ngẫu nhiên hay tình cờ trên sân khấu chính trị ở Việt Nam vào thời kỳ tranh tối tranh sáng này.

Ông Rứa còn phân công rành rọt : “Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tiến hành đợt rà soát chính trị nội bộ từ nay đến Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội XII của Đảng. Công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ Đảng với các cơ quan chính quyền, tư pháp, các cơ quan chuyên môn nghiệp vụ về an ninh trật tự cần được tăng cường; kết hợp làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ với bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, kịp thời ngăn chặn các âm mưu phá hoại nội bộ Đảng của các thế lực thù địch và làm trong sạch về chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên; khôi phục niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

 

CÔNG AN VÀO CUỘC

Song song với Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Công an cũng tổ chức Hội nghị tại Hà Nội ngày 2/12/2014 để thảo luận công tác “bảo vệ chính trị nội bộ”.

Bộ trưởng Trần Đại Quang cũng khoe: “Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, đa dạng và khó dự báo, tình hình trong nước tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định về an ninh, trật tự, lực lượng Công an đã chủ động nắm chắc tình hình, làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước về chủ trương, chính sách bảo vệ chính trị nội bộ; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo các ban, ngành thực hiện nghiêm túc các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng công tác quản lý cán bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao cảnh giác cách mạng, khả năng “tự đề kháng”, “tự bảo vệ” của cán bộ, đảng viên, chủ động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tiêu cực, vi phạm pháp luật.” (báo Công an Nhân dân)

Trước tình hình tổ chức Đại hội Đảng bộ để tiến tới Đại hội Đảng tòasn quốc lần thứ XII, ông  Trần Đại Quang lưu ý: “Trong công tác bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, phải quán triệt phương châm “chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính”, giữ vững bên trong sẽ tạo nên sức mạnh thống nhất của tổ chức, làm cho tổ chức ổn định, vững mạnh. Do vậy, cần nhận thức rõ “giữ vững bên trong” là một nội dung cốt lõi của công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của từng cơ quan, tổ chức, khả năng “tự đề kháng” của từng cán bộ, đảng viên trước tác động “diễn biến hòa bình” cũng như mặt trái của cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế.”

Trong hai diễn văn của ông Tô Huy Rứa và Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, những cụm từ “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, “diễn biến hòa bình” hay cần cảnh giác trước “các âm mưu phá hoại nội bộ Đảng của các thế lực thù địch”  đã được nói đi nói lại nhiều lần.

Hiện tượng này nói lên điều gì, nếu không chỉ để lộ ra những rối ren mất đòan kết trong đảng, tình trạng mất định hướng của cán bộ đảng viên nên phải  tự vẽ ra kẻ thù bằng ảo giác để hù họa nhau và dọa nạt dân trước Đại hội đảng XII.

Do đó, ông Quang mới bảo “giữ vững bên trong”,“tự bảo vệ” “tự đề kháng”  vừa là “mục tiêu, vừa là động lực của công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ trong tình hình mới.”

Ông nói: “Mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch, phản động sẽ bị vô hiệu hóa, nếu nội bộ các cơ quan, tổ chức, đoàn thể đoàn kết thống nhất, thực sự trong sạch, vững mạnh.”

Nhưng nội bộ đảng hiện nay có thống nhất, trong sạch và vững mạnh không ?

Hãy nghe 61 Tướng lãnh, Trí thức và  cựu đàng viên cao cấp trong đảng viết trong Kiến nghị gửi Ban Chấp hành Trung ương và tòan thể đảng viên đề ngày 28 tháng 07 năm 2014: “Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc. Đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh.”

 

QUÂN ĐỘI CỦA AI ?

Như thế đã đủ chưa mà nhiều Dư luận viên của đảng và Quân đội đã đua nhau thi thố tài năng chống ý kiến nói Quân đội phải tách ra khỏi đảng để bảo vệ dân chống quân xâm lược Trung Quốc đang lấn chiếm biển đảo Việt Nam ở Biển Đông.

Những bài viết này tập trung vào  dịp  kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân (22/12/1944 – 22/12/2014).

Hãy trích ra đây bài viết “Không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội” của Tráng A Lâm đăng trên báo Quân đội Nhân dân ngày 15/12/2014 để thấy những sai trái trong quan niệm Quân đội phải bảo vệ ai ?

Tác gỉa viết : “Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là một thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội ta của các thế lực thù địch. Càng gần đến dịp kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, thì thủ đoạn đó càng rộ lên, với những chiêu trò mới nguy hiểm hơn. Điều đó cần phải lên án, bác bỏ…

Trong xã hội hiện đại, mỗi quốc gia đều có một hay đa đảng lãnh đạo và quân đội của quốc gia đó luôn gắn và phục tùng sự lãnh đạo của đảng chính trị cầm quyền. Vì thế, luận điệu đòi “phi chính trị hóa” quân đội là sự xuyên tạc, bịa đặt, hòng mưu đồ chính trị. Quan điểm quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc là phi lý và chưa bao giờ thực tiễn xác nhận. Những gì đã trải qua trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ nước nào, trong quá trình xuất hiện và trưởng thành, cũng luôn là một lực lượng chính trị quan trọng được nhà nước, giai cấp cầm quyền quan tâm lãnh đạo, xây dựng.”

Lập luận này sai lầm vì Quân đội từ dân mà ra. Nhiệm vụ duy nhất và trên hết của Quân đội mỗi Quốc gia là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Dân không phải để bảo vệ đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền có thể thay đổi nhưng Quân đội của Quốc gia thì mãi mãi là của dân để giữ nước, không phải để tham vọng quyền bính.

Ở các nước tự do và dân chủ, chính phủ xây dựng và nuôi dưỡng quân đội là để bảo vệ độc lập và sự vẹn tòan lãnh thổ và bảo vệ dân. Nếu những kẻ lãnh đạo đi ngược lại quyền lợi của dân hay không bảo vệ được lãnh thổ thì quân đội  ra tay đứng về phiá dân để áp lực đòi thay đổi để bảo vệ quyền lợi tối thượng của Tổ Quốc.

Trường hợp Việt Nam Cộng sản thì khác. Đảng lập ra Quân đội nhưng lại sử dụng Quân đội để bảo vệ chế độ theo ý muốn của kẻ cầm quyền nên Quân đội đã để mình biến thành tay sai cho đảng.

Sự biến thể vai trò quốc phòng của Quân đội thành kẻ thỏa hiệp bảo vệ chế độ cho đội ngũ lãnh đạo chưa bao giờ được dân bầu ra, hay được ủy thác lãnh đạo Quốc gia là Quân đội ấy đã đi ngược lại quyền lợi của dân.

Càng ngụy biện hơn khi đề cao vai trò lãnh đạo của đảng đối với Quân đội khi Quân đội ấy phải phải theo lệnh đảng để bảo vệ cái chủ nghĩa Cộng sản ngọai lai không do dân chọn và đang làm cho dân nghèo nước mạt thì sự đồng lõa này chỉ hại dân và hại nước mà thôi.

Tác gỉa Tráng A Lâm đã  đưa ra lập luận cho rằng “các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, hòng xóa bỏ những nước XHCN còn lại và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, trong đó có Việt Nam”.

Vì vậy , theo lời người viết, các thế lực này đã: “Xác định Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là mục tiêu tập trung chống phá; trước mắt là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” quân đội, làm rệu rã tinh thần, mất sức chiến đấu, tiến tới vô hiệu hóa lực lượng trung thành, chủ lực, nòng cốt bảo vệ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam.”

Dư luận viên Tráng A Lâm cũng chỉ trích ý kiến muốn “quân đội trung lập về chính trị, đứng ngoài những biến động chính trị-xã hội, không chịu sự lãnh đạo của bất cứ đảng phái chính trị nào.”

Ông Lâm viết : “Lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là vì độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng cao đẹp không chỉ mang tính cách mạng, khoa học, mà còn thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại, mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử. Đồng thời, thể hiện tình cảm sâu nặng, trách nhiệm chính trị, đạo đức cao cả của quân đội đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.”

Nhưng nêu bảo “Chủ nghĩa Xã hội”, hay Cộng sản cũng vậy là lý tưởng chiến đấu của Quân đội thì chính cái Quân đội này đã đồng lõa với đảng để cướp đi quyền tự quyết của nhân dân.

Lịch sử đã chứng minh nhân dân yêu chuộng hòa bình và nhân bản Việt Nam chưa bao giờ bỏ phiếu hay tán thành việc đảng CSVN đem chủ nghĩa ngọai lai Cộng sản làm nền tảng để xây dựng đất nước.

Chính cái chủ nghĩa sắt máu này đã cướp đi mạng sống của hàng chục triệu người dân Việt Nam từ năm 1930 đến nay. Quyết định sai lầm theo chủ nghĩa Cộng sản là của riêng ông Hồ Chí Minh và của đảng CSVN.

PHẢI NGHE VÀ LÀM THEO TRUNG HOA ?

Nếu Quân đội còn tiếp tục mơ sảng lấy Chủ nghĩa Cộng sản được nói hoa mỹ là Chủ nghĩa Xã hội làm lý tưởng chiến đấu như  cuộc chiến Việt Nam đã chứng minh thì không chỉ là thảm kịch của lịch sử mà là thảm họa của dân tộc.

Phải chăng đó là lý do tại sao trong chuyến thăm Trung Hoa trong 2 ngày 16 và 17/10/2014 của phái đòan 13 tướng lãnh Việt Nam do Bộ trưởng Quốn phòng Phùng Quang Thanh cầm đầu, phía Viêt Nam đã thoả thuận với Bộ trưởng Quốc Phòng Trung Hoa Thường Vạn Tòan cùng  : “Tăng cường đoàn kết giữa hai quân đội, cung cấp sự bảo đảm vững chắc cho củng cố vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản ở hai nước, bảo vệ sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội.”

Tại sao Quân đội của nhà nước Việt Nam độc lập có chủ quyền, không phải là một Tỉnh hay Huyện của Trung Hoa mà  phải đồng ý với Tướng Thường Vạn Tòan  để bảo vệ “vị thế cầm quyền của đảng Cộng sản hai nước” ?

Nói cách khác, nếu Quân đội Trung Hoa chưa thay đổi nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối Đảng phải cầm quyền, dù phải chống lại đòi dân chủ hóa chế độ của nhân dân,  thì Quân đội Việt Nam cũng không dám làm trái ý phương Bắc ?

Hèn chi mà Bộ Quốc phòng Việt Nam  đã không dám tổ chức hàng năm để tưởng nhớ khỏang 45 ngàn đồng đội và đồng bào đã gục ngã trong chiến tranh chống quân Tầu xâm lược ở biên giới từ năm 1979 đến 1989.

Bộ Quốc phòng và Chính phủ Việt Nam cũng ngăn chặn mọi hình thức tổ chức ở tầm mức Quốc gia để ghi công 64 chiến sỹ Hải quân đã hy sinh trong cuộc chiến quân Trung Cộng xâm lược Trường Sa tháng 3/1988. Họ cũng ngỏanh mặt làm ngơ công lao bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của 74 chiến sỹ của Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ mình khi chống quân Trung Cộng xâm lăng chiếm  Hòang Sa tháng 01 năm 1974.

Và Quân đội này, đến cuối năm 2014 cũng không dám có phản ứng, dù chỉ tối thiểu, trước việc Trung Cộng  mở rộng, xây dựng và thiết lập các căn cứ quân sự, sân bay, bến cảng trên 8 đảo và đá, đặc biệt tại hai đảo chiến lược Gạc Ma và Chữ Thập, mà Trung Cộng đã chiếm bất hợp pháp ở Trường Sa năm 1988.

LÃNH ĐẠO SAI LẦM

Vậy mà, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người mà nguyên Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nhận xét có tư tưởng  thân Trung Hoa, vẫn có thể tiếp tục sai lầm trong bài viết “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định phát triển Quân đội”, do Thông tấn xã Việt Nam phổ biến ngày 18/12/2014 để kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân (22/12)

Ông Trọng ca ngợi sai lầm rằng Quân đội Nhân dân : “Đã chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chiến lược quân sự quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đánh giá, dự báo, xử lý đúng đắn các tình huống, không để bị động, bất ngờ, nhất là trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên biển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.”

Nếu nhìn vào thực trạng ở Hòang Sa và Trường Sa thì Quân đội Nhân dân chưa có bất cứ hành động cụ thể  nào để chận đứng các hoạt động bành trướng lãnh thổ và chủ quyền biển của Bắc Kinh, nói chi đến giấc mơ chiếm lại Hoàng Sa và 8 đảo và bãi đá ở Trường Sa ?

Ông Trọng còn bảo : “Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sự lãnh đạo quân đội không thể phân chia cho bất kỳ một cá nhân nào, một lực lượng chính trị nào khác. Nhà nước quản lý quân đội thống nhất chặt chẽ trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật. Vì vậy, tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với quân đội đặt trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt đối với quân đội.”

Nói như thế liệu ông Trọng có qúa tham lam không và quên rằng Quân đội là của dân, do dân mà có và vì dân mà chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc trên hết, không phải là đội quân riêng của đảng cầm quyền và chỉ biết phục vụ quyền lợi của Lãnh đạo, thay vì của dân ?

Hơn nữa khi ông Trọng nói “Sự lãnh đạo quân đội không thể phân chia cho bất kỳ một cá nhân nào, một lực lượng chính trị nào khác” là ông Trọng đã tiếm quyền của dân là người chủ của đất nước. Đảng CSVN, hay bất cứ phe nhóm nào không có quyền và không ai cho phép coi nước Việt Nam là của riêng mình bởi vì Đảng chỉ có trên 3 triệu đảng viên, trong tổng số hơn 90 triệu dân.

Nguyên lý cơ bản là thiểu số phải phục tùng đa số, không có chuyện ngược lại. Ông Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng độc tài cầm quyền để dùng Quân đội bảo vệ quyền lợi của đảng mà ông  mạo nhận là quyền lợi của cả dân tộc.

Càng sai lầm trong bài viết là khi Tổng Bí thư đã nhân danh đảng duy nhất cầm quyền để dùng Quân đội chống lại nhu cầu và đòi hỏi dân chủ tự do đang ngày một lên cao ở Việt Nam.

Nghiêm trọng hơn, ông còn lấy Quân đội để bảo vệ cái Chủ nghĩa ngọai lai đã bị nhân dân Nga và nhiều dân tộc Đông Âu nguyền rủa và ruồng bỏ (từ 1989 đến 1991) là Chủ nghĩa Mác-Lênin để ép buộc nhân dân Việt Nam phải tiếp tục chấp nhận cho đảng lãnh đạo.

Hành động của ông  Trọng đã  tái khẳng cam kết của Đại tướng Phùng Quang Thanh ở Bắc Kinh hồi giữa tháng 10/2014 với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Hoa Thường Vạn Tòan rằng Quân đội phải bảo vệ “vị thế cầm quyền của đảng Cộng sản hai nước” !

Do đó không còn ngạc nhiên khi thấy ông Trọng bảo Quân đội là: “ Lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống những quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.” 

Tổng Bí thư đảng CSVN còn  không ngần ngại đe dọa : “Phải đẩy mạnh đấu tranh, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nói chung và “phi chính trị hóa” quân đội nói riêng của các thế lực thù địch. Thực chất, “phi chính trị hóa” quân đội là thủ đoạn cực kỳ nham hiểm của thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta, tách rời quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho quân đội không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước. Bài học từ Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với chúng ta.”

Lập luận chụp mũ và hù họa nhân dân như vậy thì ông Nguyễn Phú Trọng có còn bĩnh tĩnh để biết rằng Quân đội là con đẻ của dân, do dân và vì dân , không phải là “công cụ bạo lực sắc bén” để nuôi dưỡng những kẻ độc tài chỉ biết “bảo vệ chủ nghĩa Marx-Lenin” để thỏa mãn tham vọng chính trị, thay vì giữ nước và dựng nước ?

Phạm Trần

Read more

TT Obama giải thích lý do bình thường hóa quan hệ với Cuba

VRNs (19.12.2014) – Washington DC, USA – Chiều hôm qua, theo giờ Mỹ, hộp thư của VRNs nhận được một thư điện tử từ Nhà Trắng gởi đến, trong đó là toàn văn lời giải thích của TT Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ về việc Mỹ và Cuba bình thường hóa quan hệ.

VRNs xin giới thiệu nội dung lá thư này.

—–

14121900

Hôm qua, sau hơn 50 năm, chúng ta bắt đầu thay đổi quan hệ của Mỹ với người dân Cuba.

Chúng ta đang nhận ra những cuộc đấu tranh và hy sinh của nhân dân Cuba, ở cả đất Mỹ và Cuba, đưa đến một kết thúc lỗi thời và đã thất bại trong việc thúc đẩy lợi ích của Mỹ trong nhiều thập kỷ qua. Do vậy, chúng ta sẽ bắt đầu bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Tôi được sinh ra vào năm 1961, chỉ trước hơn hai năm, ngày ông Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, và cũng giống như các mối quan hệ ngoại giao Mỹ bị cắt đứt với nước đó.

Mối quan hệ phức tạp của chúng ta với quốc gia này diễn ra trong suốt cuộc đời của tôi – trong bối cảnh của cuộc Chiến tranh Lạnh, với sự phản đối kiên định của chúng ta nhắm vào cộng sản. Năm này qua năm khác, tạo ra một rào cản ý thức hệ và kinh tế cứng giữa hai nước.

Đó là cách tiếp cận thất bại trong việc thúc đẩy sự thay đổi, và nó đã không trao quyền hoặc cho phép nhân dân Cuba tham gia. Đó là thời gian để cắt rời các xiềng xích của quá khứ và đạt cho một tương lai mới tốt hơn với đất nước này.

Tôi muốn bạn biết chính xác ý nghĩa của những phương pháp tiếp cận mới do chúng tôi sẽ làm.

Trước tiên, tôi đã chỉ thị cho Ngoại trưởng John Kerry ngay lập tức bắt đầu các cuộc thảo luận với Cuba để tái thiết lập quan hệ ngoại giao đã bị cắt đứt từ năm 1961. Trong tương lai, chúng tôi sẽ thiết lập lại sứ quán tại Havana, và các quan chức cấp cao sẽ một lần nữa thăm Cuba.

Thứ hai, tôi cũng đã chỉ thị cho Bộ trưởng Kerry xem xét lại chỉ định Cuba như một nhà nước tài trợ cho khủng bố – Xem xét hướng dẫn bởi các sự kiện và pháp luật vào thời điểm khi chúng tôi đang tập trung vào các mối đe dọa từ ISIl và Al Qaeda, một quốc gia phải đáp ứng với của chúng ta điều kiện từ bỏ chủ nghĩa khủng bố, để không phải đối mặt với một hình phạt như vậy.

Thứ ba, chúng tôi sẽ tiến hành các bước để gia tăng du lịch, thương mại, và các dòng chảy của thông tin qua lại với Cuba. Các bước này sẽ tạo thuận lợi hơn cho người Mỹ đi du lịch tới Cuba. Nó sẽ làm cho người Mỹ dễ dàng hơn để tiến hành thương mại chính thức với Cuba, trong đó xuất khẩu lương thực, thuốc men, và các sản phẩm y tế cho Cuba. Sẽ có chính sách tạo điều kiện tăng các kết nối viễn thông giữa hai nước chúng ta: các doanh nghiệp Mỹ sẽ có thể được phép bán hàng cho người dân Cuba như Hoa Kỳ với các nước khác.

Tìm hiểu thêm về các bước mà chúng ta đang dùng để thay đổi chính sách này.

Những thay đổi này không phải là một phần thưởng hoặc một thỏa hiệp với Cuba. Chúng ta đang làm cho chúng ta, vì nó sẽ thúc đẩy sự thay đổi trong nhân dân Cuba, và đó là mục tiêu chính của chúng ta.

Thay đổi là khó khăn – đặc biệt là khi chúng ta mang theo sức nặng của lịch sử trên vai của mình.

Đất nước chúng ta đang cắt giảm gánh nặng lỏng để đạt cho một tương lai tốt hơn.

Cảm ơn bạn,

Tổng thống Barack Obama

Read more

Ánh sáng Giáng Sinh

VRNs (19.12.2014) – Sài Gòn – Bóng tối không thể ở nơi nào có ánh sáng. Đêm đen phải lùi xa khi ánh bình minh sáng ngời. Bóng đen tội lỗi phải biến mất khi Ánh Sáng Giáng Sinh xuất hiện. Vâng, thật hạnh phúc vì hôm nay sự sáng chiếu giãi trên chúng ta, và Chúa đã giáng sinh cho chúng ta.

Ngày xưa, giữa đêm đen thăm thẳm, trong hơi sương giá rét, Ánh Sao Lạ đã xuất hiện làm dấu chứng để các mục đồng nhận biết nơi sinh của Đấng Cứu Độ. Ngày nay, chúng ta cũng thực sự hạnh phúc vì có Ánh Sao Lạ dẫn đường: Ánh Sáng Đức Tin. Nhờ đó, chúng ta nhận biết Hài Nhi Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng hóa thành nhục thể để cứu độ chúng ta. Chính Ngài là Ánh Sáng Cứu Độ dẫn chúng ta về với Thiên Chúa Cha.

Hôm nay, niềm hạnh phúc đó đang tràn đầy thế giới, từ đất tới trời, và ngập cõi lòng những người thành tâm thiện chí. Niềm vui cứ ngồn ngộn!

141216010

Niềm vui sướng vỡ òa khắp nơi, như ngôn sứ Isaia đã nói: “Đây là lời Đức Chúa loan truyền cho khắp cùng cõi đất: Hãy nói với thiếu nữ Sion: Kìa ơn cứu độ ngươi đang tới. Kìa phần thưởng của Người theo sát một bên, và thành tích đi ngay trước mặt. Chúng sẽ được gọi là dân-thánh, là những-người-được-Đức-Chúa-cứu-chuộc. Còn ngươi sẽ được gọi là cô-gái-đắt-chồng, là thành-không-bị-bỏ” (Is 62:11-12). Những người hạnh phúc đó chẳng ai xa lạ, đó cũng là chính chúng ta ngày nay. Thế thì làm sao chúng ta lại không vui sướng cho được!

Hài Nhi Giêsu nơi hang đá Belem là Con Thiên Chúa, là Đấng Emmanuel, Đấng ở cùng chúng ta. Hãy chứng tỏ niềm vui đó và mời gọi muôn vật cùng đồng thanh tán dương: “Chúa là Vua hiển trị, hỡi địa cầu, hãy nhảy mừng lên, vui đi nào, ngàn muôn hải đảo!” (Tv 97:1). Chứng cớ không mơ hồ, vừa mặc nhiên vừa minh nhiên: “Trời xanh tuyên bố Người là Đấng chính trực, hết mọi dân được thấy vinh quang Người” (Tv 97:6). Không nhận ra Thiên Chúa qua vạn vật chỉ vì người ta cố chấp hoặc cố ý nhắm mắt làm ngơ mà thôi.

Niềm vui tăng dần, hạnh phúc trào dâng như triều cường: “Ánh sáng bừng lên chiếu rọi người công chính, niềm vui làm rạng rỡ kẻ lòng ngay. Trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng tưởng nhớ Thánh Danh mà dâng lời cảm tạ” (Tv 97:11-12). Vui mừng rồi phải biết tạ ơn. Rõ ràng tâm tình tạ ơn rất quan trọng, nhưng chúng ta lại thường quên điều này. Niềm vui đó rõ nét cả ở những người không tin Hài Nhi Giêsu là Con Thiên Chúa. Điều này thấy rõ ngay ở đời thường này.

Nhờ Ánh Sáng Đức Tin sáng soi từ khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, chúng ta trở thành tín hữu – những người “có niềm tin”. Là tín hữu thì cũng có những bổn phận chung và riêng, đơn giản nhất là sống đức tin. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại. Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới. Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta” (Tt 3:4-6).

Dù trước mặt người đời, chúng ta có làm được những việc mà người ta cho là tài giỏi, nhưng cũng chẳng là gì đối với Thiên Chúa. Do đó, chúng ta không có lý do gì để mà vênh vang tự đắc hoặc kiêu ngạo. Nếu chúng ta có làm được điều gì hơn người khác thì cũng là nhờ ơn Chúa, có tài năng gì thì cũng là để phục vụ tha nhân, và luôn phải nhớ kỹ rằng “được nhiều thì bị đòi lại nhiều” (x. Mt 25:14-30; Lc 19:12-27). Đừng tưởng được nhiều thì sướng đâu đấy! Thánh Phaolô kết luận: “Như vậy, một khi nên công chính nhờ ân sủng của Đức Kitô, chúng ta được thừa hưởng sự sống đời đời, như chúng ta vẫn hy vọng” (Tt 3:7).

Trình thuật Lc 2:15-20 là đoạn Kinh Thánh tiếp theo Tin Mừng lễ đêm Giáng Sinh. Trình thuật sáng nay đề cập các nhân chứng sống đầu tiên đối với việc Con Thiên Chúa giáng sinh làm người: Các mục đồng – những người nghèo khổ và hèn mọn trong xã hội.

Nửa đêm giá lạnh, chắc chắn con nhà nghèo thì quần áo không đủ ấm, thậm chí có thể cũng chẳng đủ no bụng chứ nói chi đồ ăn ngon, nhưng các mục đồng vẫn ngủ say sau một ngày chịu mệt mỏi vì phải chăn chiên, đường xa lại đồi núi hiểm trở, họ phải ngủ lại nơi hang động. Các mục đồng đang ngon giấc thì chợt tỉnh giấc vì đất trời khác thường, tiếng động và ánh sáng bao trùm, lại có các thiên thần xuất hiện, ngạc nhiên hơn là có tin lạ. Các mục đồng đơn sơ và thật thà nên dễ tin, nhưng không phải họ tin vô cớ.

Sau khi các thiên thần từ biệt họ để về trời, họ liền bảo nhau: “Nào chúng ta sang Belem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (Lc 2:15). Họ liền hối hả ra đi. Kinh Thánh dùng trạng từ “hối hả”, chứng tỏ họ đã tin nên mới đi ngay giữa đêm khuya, không so đo, không tính toán, không cần ngủ thêm nữa dù họ đang ngái ngủ vì dở giấc. Một bài học sống động về đức tin của các mục đồng khiến chúng ta phải tự xem lại đức tin của chính mình.

Khi đến nơi có Ánh Sao Lạ tỏa sáng trên cao, các mục đồng trực tiếp gặp Cô Maria, Chú Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Một gia đình quá nghèo, nói theo ngôn ngữ ngày nay là “nghèo rớt mồng tơi”. Te tua tơi tả thật! Nhưng họ vẫn tin, tin ngay, không một chút do dự. Thế mới lạ! Nếu là chúng ta, liệu chúng ta có đủ tin? Chưa chắc. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta yêu tha nhân, yêu cả kẻ thù, và làm điều gì cũng là làm cho Chúa, thế nhưng mấy ai thực sự nhìn thấy Chúa nơi những người nghèo khổ và hèn mọn mà hằng ngày chúng ta gặp? Đôi mắt Đức Tin của CP Mẹ Teresa Calcutta thật “sáng” khi Mẹ dặn các nữ tu: “Hãy phục vụ những người nghèo như phục vụ Đức Giêsu Kitô”. Còn chúng ta?

Các mục đồng không chỉ là chứng nhân về Con Thiên Chúa giáng sinh, là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo, mà có thể nói rằng họ là những “thầy dạy” về Đức Tin đối với chúng ta. Họ nhãn tiền thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Biết Chúa rồi, họ không giữ cho riêng mình, mà họ chia sẻ Chúa với người khác. Mà cũng thật lạ là khi nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên, nhưng họ tin. Những người này cũng có con mắt Đức Tin kỳ diệu, họ tin lời các mục đồng thuật lại chứ không cho rằng các mục đồng thế này hoặc thế nọ, họ không cần phải cân nhắc chi cả. Cả các mục đồng và những người nghe kể lại đều thấy lạ theo con mắt Đức Tin chứ không vì hiếu kỳ hoặc tò mò. Những bài học về Đức Tin thật đắt giá!

Thánh sử Luca cho biết thêm “sự lạ” khác: “Còn Cô Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Ghi nhớ và suy tư là hai động thái cần thiết, nhưng người ta lại thích hành động ngược lại. Im lặng và lắng nghe để Chúa Thánh Thần hành động, chứ không ba hoa chích chòe, nhiều chuyện như “bà Tám”.

Sự thật tỏ tường, các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ. Cuộc đời nghèo khổ của họ đã khiến Thiên Chúa động lòng trắc ẩn mà ban cho họ niềm hạnh phúc khôn tả, những người khác không thể có được. Nghèo khó là nhân đức, là con đường dẫn tới Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót.

Ánh Sáng Giáng Sinh đang chiếu tỏa khắp thế gian. Noel – Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, xin giúp chúng con biết sống đúng tinh thần nghèo khó, xin giúp chúng con nhận ra Chúa nơi những người bé mọn trong cuộc sống đời thường, đồng thời xin giúp chúng con biết mở rộng con tim và đôi tay đối với họ. Người là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Thiên Chúa Cha, hiệp nhất với Thiên Chúa Ngôi Ba, đến thiên thu vạn đại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Read more

Sự phản chiếu

VRNs (19.12.2014) – Đồng Nai – Một cậu bé đang đi bộ cùng người cha trên ngọn núi. Bỗng nhiên, cậu bé bị té, rất đau. Cậu bé thét lên: “Á… á… á!!!”

Nhưng ngay sau đó, cậu bé lại ngạc nhiên khi nghe chính giọng nói của mình lặp lại ở đâu đó trên ngọn núi: “Á… á…á!!!”.

Tò mò, cậu bé hét: “Ai đó?”, nhưng rồi cậu cũng chỉ nhận được câu trả lời: “Ai đó?”. Tức giận với câu trả lời vừa phát ra, cậu bé lại hét lên:”Kẻ nhát gan!” và cậu lại tiếp tục nhận được câu trả lời: “Kẻ nhát gan!”…

Cậu bé nhìn cha mình và hỏi:”Chuyện gì vậy hở cha?”.

Người cha mỉm cười và nói:”Con trai, chú ý đây nhé!”. Sau đó, người cha hét vang vào ngọn núi: “Ta rất ngưỡng mộ ngươi!”.

Giọng nói ấy lại trả lời: “Ta rất ngưỡng mộ ngươi!”. Người cha lại hét vang một lần nữa: “Ngươi là người chiến thắng!”, giọng nói ấy vẫn tiếp tục trả lời: “Ngươi là người chiến thắng!”.

Cậu bé ngạc nhiên, không hiểu gì cả. Người cha ôn tồn giải thích:”Người ta gọi đó là tiếng vang, nhưng thực sự đó là cuộc sống. Nó sẽ trả lại mọi thứ mà chúng ta đã làm hay đã nói. Cuộc sống là một sự phản chiếu hành động của chúng ta. Nếu con muốn có nhiều hơn tình yêu trong thế giới này, hãy tạo ra nhiều tình yêu hơn trong trái tim con. Cuộc sống sẽ đón nhận lại tất cả những gì mà chúng ta đã làm”.

Cuộc đời không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nó là sự phản chiếu của bạn! Cuộc đời ta hạnh phúc hay buồn đau. Sung sướng hay đắng cay phần nhiều là phản chiếu từ những điều chúng ta đã nói, đã làm. Nói những điều tốt lành sẽ nhận những lời yêu thương. Làm những việc thiện sẽ gặt hái rất nhiều niềm vui. Cuộc sống chúng ta sẽ vô vị nếu chúng ta vô cảm với cuộc đời và cũng sẽ bất hạnh nếu chúng ta gieo vào cuộc đời những điều nghịch với chân thiện mỹ.

Hôm nay Chúa nhật thứ 4 mùa vọng, Giáo hội cho chúng ta thấy chân dung của Mẹ Maria. Một chân dung toát lên vẻ thánh thiện. Một chân dung của con người khiêm nhu không cầu danh vọng, không mê tưởng những chuyện cao siêu. Một con người bình dị sống đơn sơ, khó nghèo, bác ái, vị tha. Một người Mẹ của Thiên Chúa và cũng là mẹ của nhân loại chúng ta. Cuộc đời Mẹ luôn phản chiếu vẻ đẹp của tâm hồn thanh khiết, yêu thương đến độ từ trời cao Thiên Chúa đã nhìn thấy Mẹ luôn làm đẹp lòng Chúa. Cuộc đời Mẹ nhận được rất nhiều phúc lành của Thiên Chúa vì Mẹ luôn gieo vào đời khúc hát yêu thương. Mẹ được gọi là người có phúc vì Mẹ đã luôn sống theo lề luật của Chúa. Cuộc đời Mẹ cũng tràn ngập niềm vui vì tâm hồn Mẹ luôn quảng đại dấn thân vì tha nhân. Mẹ đã hưởng trọn niềm vui khi đến với gia đình Gia-ca-ri-a. Nơi đây khúc hát ngợi khen đã vang lên trên môi miệng Mẹ: “linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa”.

141216009

Mỗi người chúng ta đều ao ước được phúc lành của Chúa. Xin hãy sống theo lề luật của Chúa. Mỗi người chúng ta đều ao ước được hạnh phúc. Xin hãy gieo những hạt giống của yêu thương cho trần thế. Nhưng đáng tiếc thay, chúng ta lại không đủ can đảm để gieo niềm vui và hạnh phúc cho tha nhân. Chúng ta vẫn nói xấu người khác nên chúng ta cũng chỉ nhận lại những lời chỉ trích của tha nhân. Chúng ta vẫn chơi xấu anh em nên chúng ta cũng chỉ nhận lại những tiếng chê trách của tha nhân. Chúng ta vẫn lỗi công bình bác ái nên chúng ta cũng chỉ nhận lại những sự khinh khi coi thường . . .

Xin cho chúng ta luôn hưởng trọn vẹn niềm vui như Mẹ Maria khi biết sống hết mình vì tha nhân.  Xin Chúa giúp chúng ta luôn làm những điều đẹp lòng Chúa như Mẹ để chúng ta nhận lại niềm vui ngập tràn, và nhất là luôn được Chúa chúc phúc như Mẹ. Xin cho cuộc đời chúng ta luôn được an bình, hạnh phúc vì đã hết mình gieo niềm vui và hạnh phúc vào trong thế gian. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Read more

Cái chết thương tâm vì khí đá?

VRNs (19.12.2014) – Bình Thuận – Chết trong tư thế đỡ đòn

Theo một nguồn tin từ bà B, là người đi xem vớt xác nạn nhân cho biết, ngày 16.12.2014 vừa qua, tại xã Hàm Phú đã xảy ra một án mạng có liên quan đến công an.

Cũng theo lời kể của người này, người chết nằm trong tư thế hai tay đưa lên đầu đỡ đòn. Bà B thuật lại câu chuyện được nghe từ một nhân chứng là bạn của nạn nhân như sau: hai đứa nó (nạn nhân và nhân chứng) đang đốt khí đá thì bị công an xã phát hiện. Hai đứa vứt ống khí đá xuống sông, một đứa nhảy xuống hồ và bơi qua bên kia hồ trốn, nên công an chỉ bắt được một đứa. Sau đó công an bắt người này phải nhảy xuống hồ lấy ống khí đá lên. Lúc người này ngốc đầu lên thở thì bị công an cầm ba trắc đánh lên đầu.

Ngày hôm sau, tức ngày 17.12.2014, gia đình theo lời nhân chứng đến công an xã Hàm Phú để tra hỏi, vì sao bắt con bà mà không báo về nhà. Tại đây công an cho biết là họ không bắt ai cả. Cũng từ nhân chứng, gia đình tìm thấy xác của nạn nhân và tiến hành vớt xác.

 141216008 141216007

Hàng loạt giải thích vô căn

Ngày 18.12.2014 chúng tôi đã tìm đến nhà nạn nhân để có dịp trao đổi với Mẹ của nạn nhân là bà Lê Thị Lộc. Nạn nhân là anh Nguyễn Lê Ngọc Tiến sinh năm 1991. Cùng đang cư ngụ tại thôn Phú Lập, xã Hàm Phú, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Anh được bà con chòm xóm đánh giá là người rất hiền lành, siêng năng, chỉ lo phụ giúp gia đình.

Mẹ anh cho biết biên bản ghi nhận khám nghiệm tử thi viết sai sự thật. Trong khi hai bên người Tiến bị các dấu chích được người dân dự đoán bởi do súng bắn đạn giả của công an gây ra, sống mũi bị gãy do bị đánh vào mặt, xương sọ nứt cùng các vết thương khác là do bị đánh vào đấu vào người, thì được cơ quan chức năng có sự giải thích không thể chấp nhận được. Theo đó, cơ quan này ghi nhận các dấu chích hai bên người nạn nhân do bởi ốc ăn, sống mũi bị gãy do cua kẹp… Đó là lý do vì sao gia đình bà Lộc không ký nhận vào biên bản.

Một người hàng xóm cung cấp thêm, khi mổ khám nghiệm tử thi anh Tiến, não của anh bị tụ máu bầm, trong não không có nước. Bà đặt giả định rằng anh Tiến bị công an đánh chết trước khi lăn xác xuống nước. Bà nói: “muốn người dân yên tâm, thì phải ghi đúng sự thật”, “công an xã này đánh người nhiều lắm rồi, mà giờ mới gây chết người thôi”.

Bà Lộc cũng cho biết, khi mọi người nói chuyện với viên công an họ nói như sau: Tụi tui thấy nó nhảy xuống nước nên chỉ lấy xe về thôi, không có đánh ai hết, đêm tối quá nên cũng không kêu ai được. Được biết phía gia đình cũng đã nhờ sự can thiệp của một số báo đài trong nước. Hiện nay, xung quanh nhà bà Lộc có rất đông công an, cảnh sát. Anh Mỹ là anh trai của Tiến vừa bị công an giao thông phạt 300 ngàn, chưa rõ tội gì. Những điều này khiến gia đình bà Lộc rất bất an.

Hiện tượng công an đánh chết người ngày càng nhiều. Với vụ án này, nếu không làm rõ, dân chúng sẽ không yên lòng.

Lộc Thiên Thiên

Read more

Không thể có dân giàu nước mạnh với chế độ cộng sản

VRNs (18.12.2014) – Sài Gòn – I.HÃY HIỂU CHÍNH XÁC VỀ CS

Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, thì VN chúng ta là một nước nghèo nàn và lạc hậu, nhưng ngoài đường chúng ta thấy ghi các biểu ngữ: “Nước VN giàu mạnh, công bằng và văn minh”! Có thật nước VN chúng ta GIÀU MẠNH, CÔNG BẰNG VÀ VĂN MINH không? Tất cả chúng ta đã tự thấy rồi! Chúng ta đừng “mơ ngủ” để cho CS lừa bịp nữa! Chúng ta phải biết từ trong căn nguyên, chế độ CS không chủ trương dân giàu, nước mạnh, mà chủ trương “bần cùng hóa” và “ngu dân” để dễ cai trị. Muốn cứu nước và cứu mình, thì tất cả chúng ta phải có những hiểu biết căn bản về CS, và những nhận định chân xác về thực trạng đất nước chúng ta.

 Điều kiện để một đất nước có thể trở nên giàu mạnh, là phải có một đội ngũ tài giỏi để điều hành đất nước, và họ phải có cái TÂM kèm theo cái TÀI. Đất nước ta đang KHÔNG CÓ điều kiện đó, và tương lai cũng khó có!

 141216006

II.NHỮNG “CHỦ NHÂN TƯƠNG LAI” CỦA ĐẤT NƯỚC!

Đó là những người trẻ hôm nay. Nhưng những người trẻ đó hiện tại ra sao, để chúng ta “trông cây biết quả”?

Nếu tiếp xúc nhiều với giới sinh viên VN hiện tại, chúng ta sẽ thấy hết sức ngỡ ngàng khi nhận biết về thực trạng của họ: nghèo nàn về trí tuệ, bạc nhược về tinh thần, không định hướng, không có lý tưởng! Trong khi nền giáo dục cũ của miền Nam là đào tạo nên những con người “tài đức song toàn”, những con người biết tự tin, tự lập, những con người phải có lý tưởng để vươn tới, thì ngày nay sản phẩm của nền giáo dục XHCN lại là những con người trái ngược hẳn! Từ đó, khó mà kỳ vọng vào giới trẻ ngày nay, trong vai trò người chủ của đất nước mai sau! Chúng tôi không “vơ đũa cả nắm”, nhưng hầu hết là như thế! Nếu không sa vào việc ăn chơi, sa đọa (thành phần con nhà giàu), thì ngược lại, cái nghèo khó túng thiếu làm cho sinh viên bạc nhược về cả thể xác lẫn tinh thần! Họ không dám bàn đến chính trị, xã hội, vì không quan tâm, hay sợ hãi! Quan sát trong trường học, hay trong một giảng đường, hầu hết SV giống như một bè rau muống, trôi nổi bềnh bồng, không gốc rễ, không nhành lá, không bám chắc vào đâu cả, để mà phát triển, mà sinh hoa trái. Các em sống cậy nhờ gia đình, hay vớ được việc gì thì làm việc ấy, miễn có đồng tiền để sống qua ngày, mặc dù đồng tiền của họ kiếm ra có khi chẳng trong sạch gì, ví dụ nghề “dư luận viên” cũng có nhiều SV tham gia! Ngày mai ra sao không biết, đến đâu hay đến đó. Nói về “lý tưởng” đối với họ thật là chuyện viển vông! Những SV có cha mẹ để dựa, thì tương lai để cho cha mẹ lo. Những người phải tự lực thì chẳng có ai hướng dẫn về tinh thần để biết định hướng cuộc sống, nên họ như bèo dạt mây trôi! Hỏi về kiến thức của họ mới thật là thảm hại! Chúng tôi có dịp trao đổi với một nhóm sinh viên đã ra trường, tức là những “trí thức trẻ”, mà họ không biết gì về thực trạng xã hội xung quanh, không biết tại sao đồng tiền bị mất giá, chẳng hiểu “lạm phát” là gì! Được hỏi về lạm phát, cậu SV trả lời rất cụ thể: thí dụ em có 100.000đ, em có thể  sống được 1 ngày, khi lạm phát sẽ chỉ còn sống được nửa ngày! Nhưng giải thích từ ngữ “lạm phát” thì không giải thích được! Hỏi sao vậy, họ nói thày giáo trong trường không giảng, còn thày không giảng vì “nhạy cảm”, sợ đụng đến…chính quyền sẽ bị mất điểm! Nếu hỏi thêm về lịch sử, thì những SV này không hề biết Ải Nam Quan nay ở đâu, mà cũng chẳng thèm thắc mắc. Nói về việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, cậu SV cũng không biết HS-TS nằm ở đâu, TC chiếm hồi nào! Còn về công hàm Phạm Văn Đồng, về hội nghị Thành Đô, về đảng CS thì họ lại càng không biết, và không cần biết, vì không muốn phiền phức, do nhà nước cấm! Ở trong lớp nếu ai đặt ra một thắc mắc về tình hình đất nước, về nhân quyền, thì trước hết là thày sẽ dẹp, và cả hội trường sẽ phản đối, họ chỉ học những gì thày giảng, và thày chỉ giảng theo nhà nước, SV học được gì thì không cần biết! Mai mốt muốn tiến thân thì nhà giàu đã có cha mẹ mua chức, mua bằng, kẻ nghèo thì “phấn đấu vào đảng” ắt sẽ kiếm ra tiền! Còn nói đến việc TC chiếm nước, thì được trả lời là “làm gì có!”, “đã có chính quyền lo”! Hỏi về những sự việc xảy ra chung quanh, như dân oan mất đất, người biểu tình yêu nước chống TC xâm lăng thì…hoàn toàn không biết! Những tên tuổi như Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, LS Lê quốc Quân, Mẹ Nấm, Phạm Thanh Nghiên…đối với hầu hết SV và giới trẻ VN, thì hoàn toàn lạ hoắc, không hề có trong đầu của họ!

Với một nền giáo dục què quặt và gian manh cố tình của CS, SV ra trường kiến thức thì trống rỗng, nhận định thì mơ hồ nếu không nói là giốt đặc, cái tâm thì không có, toàn những kẻ chỉ muốn ăn chực nằm chờ người khác giúp cho, thử hỏi nước ta sẽ giàu, dân ta sẽ mạnh bằng cách gì đây? Còn với người bình dân châm lấm tay bùn, hay những người lao động phải chúi đầu vào sinh kế, họ còn biết được điều gì ngoài sự lầm than cơ cực, và lầm lũi sống qua ngày!

 

III.THỰC TẾ XÃ HỘI HÔM NAY

- VỀ TINH THẦN: Xã hội VN chúng ta đang công bằng, văn minh và đạo đức  như thế này đây: bảo mẫu trấn cháu bé 18 tháng vào phi nước; “cô giáo như mẹ hiền” xách chân cháu bé lên, đánh rơi cháu xuống đất rồi đạp lên đến bể tim; học sinh quan hệ tình dục trong lớp thản nhiên; nhà sư giết tình nhân rồi vùi chôn trong sân chùa; nhà sư chụp ảnh khỏa thân với người mẫu trần truồng định tung lên mạng với tựa đề: “thoát y để thiền”; giáo dục nhà trường thì dùng xảo ngôn, gương sống của người đi trước thì gian tham vô đạo, thày giáo mua dâm gọc trò, thậm chí hiệu trưởng còn làm “tú bà” để bán học trò cho kẻ mua dâm lấy tiền! Nền giáo dục như thế nào mà biến con người trở thành mất nhân tính, lệch lạc và đồi trụy đến như thế, VN tự cổ chí kim chưa hề có! Như vậy nhà trường là nơi sản sinh ra quỷ ma chứ có phải là lò đúc nhân tài để làm chủ đất nước đâu, mà nước mạnh dân giàu? CS đã hủy hoại con người, và tương lai của dân tộc VN!

- VỀ VẬT CHẤT: theo nhận định của các tổ chức quốc tế một cách vô tư công bằng, thì VN là một đất nước nghèo nàn và lạc hậu vào bậc nhất thế giới, chỉ ngang bằng Bắc Hàn, còn thua cả Campuchia và Lào về cả thu nhập bình quân đầu người và sự tự do dân chủ, chưa dám nói tới Thái Lan, thì phải đợi nửa thế kỷ nữa mơi bằng họ bây giờ, trong khi trước năm 1975, ba nước lân bang này còn kém xa miền Nam VN! Đã từng có những đánh giá: VN tụt hậu cả hàng trăm năm” từ khi có CS! Như vậy CS có mặt đã không xây dựng phát triển đất nước, mà chỉ phá hoại và làm cho đất nước thụt lùi hàng trăm năm, trong khi trước đó, miền Nam VN đã từng là Hòn Ngọc Viễn Đông, hơn hẳn các nước vùng Đông Nam Á, nhưng sau khi CS cưỡng chiếm  thì trở thành lạc hậu, đói nghèo hơn mọi nước trong khu vực! Đừng thấy một số nhỏ người có tài sản hay làm ăn khấm khá mà hiểu lầm rằng CS muốn dân giàu, đó chỉ là vì xã hội VN ngày vay có khác: một số có thân nhân ở nước ngoài giúp, một số lợi dụng lúc CS buộc phải “mở cửa” về kinh tế mà ráng làm ăn, còn đa phần là do “miêu duệ”, hay nhờ vào quen biết, thế thần, cơ hội mà thu tóm được của cải, tài sản!

Không lạ gì điều đó, nếu chúng ta chịu khó nghĩ kỹ về bản chất và chủ trương của CS:

-CS chủ trương chuyên chính vô sản, tức là sẽ tiến đến một xã hội vô sản, mọi người đều như nhau, không ai được quyền có tài sản, trừ đảng viên CS, những kẻ lãnh đạo. Người dân ai có tư hữu cũng sẽ bị cướp, bị san bằng. Chúng ta từng  thấy những từ ngữ thường được dùng trong chế độ CS là “đánh tư sản”, “giệt tư bản”…, những từ này không hề có trong chế độ tư bản, tự do. CS coi tư sản là kẻ thù, chỉ có vô sản mới là đối tượng ưu ái của chế độ CS, như vậy ở đâu ra dân giàu?  Dân nghèo thì làm sao học hành, phát triển, làm sao có trí thức mà xây dựng đất nước? Khi làm chủ miền Bắc, CS đã “vô sản hóa” người dân bằng cuộc “cải cách ruộng đất”, biến mọi người thành bần cùng, khố rách áo ôm, và đưa các thành phần “bần cố nông” lên lãnh đạo đất nước! Khi cưỡng chiếm được miền Nam, việc đầu tiên của CS là “đánh tư sản”, đánh bằng cách tịch thu hết mọi tài sản của những công kỹ nghệ gia, những nhà kinh doanh, kể cả trường học, bệnh viện, rồi đối với dân thì “đổi tiền” nhiều lần, từ tiền triệu đổi thành tiền đồng, mà đồng tiền mới cũng không tăng giá trị! Họ cho đó là thành công của “cách mạng”, khi kéo được những người làm ăn kinh doanh giàu có xuống thành vô sản đồng đều, chứ không khuyến khích những người làm ăn chân chính này để họ góp phần phát triển đất nước. Vì thế nên trước 1975, miền Nam đã từng sản xuất được xe hơi, mà sau 40 năm “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, một con ốc vít cũng không làm nổi! Như vậy chẳng phải là thụt hậu thì là gì? CS vừa chủ trương bần cùng hóa người dân, vừa chủ trương ngu dân!

-Trong chế độ CS, trí thức bị coi là thành phần “phản động”, là kẻ thù cần phải tiêu giệt. Mao Trạch Đông, ông cố của CS Tàu đã nói: “trí thức không bằng cục phân”! Trong chế độ CS, những người trí thức đi theo CS cũng bị khử trừ vì không được tin tưởng. Còn nhớ rõ khi CS chiếm miền Nam, chúng tôi là những giáo sư cũ của Sài Gòn (nay gọi là giáo viên), khi đi dạy học bao giờ các thày cô cũng phải ăn mặc tề chỉnh, nam GS thì quần tây, áo sơ mi bỏ trong quần, thắt “cà vạt”, nữ thì mặc áo dài, không ai mặc áo thun, quần jean đến trường, càng không thể mặc đồ bà ba ngắn củn mà đứng trước học sinh, SV. Ấy thế mà khi thấy giáo viên miền Nam mặc áo dài, cái áo truyền thống VN, mà đám cán bộ miền Bắc mới vào hăm he hấm hứ, kêu chúng tôi lại và nói với giọng đầy căm tức: “các đồng chí giờ này còn giữ tác phong tiểu tư sản, tư tưởng không chịu biến chuyển!”. Họ có vẻ thù địch với sự lịch sự văn minh lắm thì phải! Chỉ có những thành phần khố rách áo ôm, những kẻ vô sản chuyên chính mới là thành phần nòng cốt. Như vậy mà nước mạnh được sao? Lấy ai để điều hành, để xây dựng đất nước? CS chỉ đề cao giai cấp công nông. Những người nông dân, công nhân không phải thành phần trí thức, mà nếu có những người trí thức lãnh đạo công, nông dân, CS cũng kỳ thị và tìm cách loại trừ! Bây giờ trong hàng ngũ lãnh đạo CS có rất nhiều kẻ có bằng thạc sĩ, tiến sĩ, nhưng tuyệt đại đều là bằng giả, bằng mua; rất nhiều kẻ giàu có, nhưng đó là những kẻ giàu vì tham nhũng, bóc lột, chứ không kẻ nào là có tài, và tạo ra sản nghiệp bằng khả năng chân chính của họ. Giàu do chức quyền, giàu do con ông cháu cha CS.  Những tư bản đỏ là chính đám này, làm giàu bất chính bằng tham nhũng, bóc lột, bán nước! Còn người dân thì không được quyền tư hữu, nếu có thì trước sau gì cũng bị moi móc, bị đánh tư sản, bằng cách này cách kia, bị gán tội này tội nọ, để san bằng mọi người thành vô sản. Vì thế, có những nhận định chí lý, chính xác: “Chế độ Tư bản có thể không công bằng trong việc phân chia lợi tức, tài sản, nhưng chế độ CS thì tuyệt đối công bằng trong việc phân phối sự NGHÈO NÀN, ĐÓI RÁCH, NGU MUỘI VÀ LẠC HẬU” cho mọi người như nhau!

Việc này được chứng minh bằng thực tế: không một nước CS nào trên thế giới đã tạo được một xã hội giàu mạnh, công bằng và văn minh, kể cả Nga là cái nôi của CS. Vì thế toàn bộ thế giới CS đã đồng loạt sụp đổ, mà nguyên nhân chính là sự đói nghèo đưa đến sự bất mãn của toàn dân. Ngày nay còn lại 4 tên CS là Tàu, Việt Nam, Cu Ba và Bắc Hàn, thì cả 4 “thiên đường XHCN” này đều được đói nghèo, ngu muội, lạc hậu ngự trị. Có thể nhiều người sẽ nói TC là nước giàu, nhưng không phải, chỉ có thành phần lãnh đạo giàu thôi, còn dân TC thì đại thể là nghèo nàn và lạc hậu, cũng giống như VN, có khi còn tệ hơn. Bắc Hàn và Cu Ba cũng từng đi van nài ăn xin cơm gạo của cả thế giới!

Để kết luận, nếu chúng ta muốn cho dân giàu nước mạnh, thì chỉ có một cách là phải HẾT CS!   , vì CS chủ trường VÔ SẢN CHUYÊN CHÍNH, lấy đâu ra giàu? Giàu và mạnh phải hiểu là chỉ dành cho chính quyền, họ vừa giàu tiền của, vừa có sức mạnh để trấn áp những thế lực chống lại họ, để họ tồn tại mà cỡi đầu dân, mà vơ vét. Dân phải nghèo, phải ngu mới dễ cai trị, nắm dân là nắm cái bao tử của dân thì mới chắc! Đói rách lấy đâu ra sức mà chiến đấu? Ngu muội thì đầu óc đâu mà mưu tính chống lại được CS? Muốn xã hội văn minh, dân giàu nước mạnh, thì chỉ có chế độ tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, và nền kinh tế tư bản mà thôi. Hãy xem CS sợ hãi tự do, nhân quyền như thế nào! Hãy xem họ đánh giá các ý kiến xây dựng, đòi cởi mở của 61 đảng viên “trí thức CS”của họ là gây rối, làm mất uy tín của Đảng, để thấy họ sợ gì và muốn gì! Dân giàu, nước mạnh không phải mục tiêu của CS! Chỉ có đảng CS là được quyền giàu và mạnh mà thôi!

Người miền Nam

Read more

Chuyện ông già Noel

VRNs (17.12.2014) – Sài Gòn – Ông Già Noel có thật hay chỉ là truyền thuyết? Có thật chứ! Dù người ta có nói thì thực sự vẫn có một Ông Già Noel hào phóng, người ta gọi Ông Già Noel là Santa Claus.

141216005

Ông Già Noel tên là Nicholas (Ni-cô-la), là người theo Kitô giáo Hy Lạp, sinh tại Thổ Nhĩ Kỳ vào khoảng năm 300 sau công nguyên. Ông thương người nghèo và cho họ những gì ông có. Cha mẹ ông mất vì bệnh dịch khi ông còn nhỏ. Ông sống như lời Chúa Giêsu nói với chàng thanh niên: “Bán tài sản và cho người nghèo” (Mt 19:21). Và ông đã thực hiện đúng như vậy.

Ông trở thành linh mục, rồi được bổ nhiệm làm giám mục GP Myra khi còn trẻ tuổi. Một truyền thuyết nói rằng ông được chọn vì ông có lòng đại lượng, yêu thương trẻ em, quan tâm các thủy thủ… đặc biệt thương những người bị oan sai. Ông Già Noel chính là Thánh Nicholas.

Tại TP Patara gần đó, có một thương gia bị mất hết tài sản, mà ông lại có ba đứa con gái. Ông không có gì để hồi môn cho các con. Thời đó, con gái có của hồi môn càng nhiều càng có cơ hội lấy chồng. Người cha cảm thấy chán nản lắm. Tiếng đồn tới tai Thánh Nicholas, lúc này Thánh Nicholas đem một túi vàng đặt ở trước nhà thương gia kia để có của hồi môn cho con gái lớn. Không lâu sau, cô con gái này có chồng.

Thánh Nicholas cũng làm vậy lần hai, rồi lần ba. Lần cuối cùng, người cha “canh me”, rồi bắt gặp nhà hảo tâm nên đã bày tỏ lòng biết ơn. Thánh Nicholas cấm ông không được cho ai biết chuyện, vì Chúa Giêsu dạy: “Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” (Mt 6:3). Những thỏi vàng được đặt vào những chiếc vớ treo trước lò sưởi. Do đó, trẻ em ngày nay thường treo vớ trong Đêm Giáng Sinh với hy vọng nhận được quà của Ông Già Noel.

Nhiều truyền thuyết nói rằng đó không là những túi vàng, mà là những trái bóng bằng vàng. Đó là lý do mà ba trái bóng vàng là biểu tượng của Thánh Nicholas – thánh bổn mạng của các tiệm cầm đồ (pawn shops).

Hồi còn trẻ, Thánh Nicholas hành hương tới Thánh Địa. Ngài đi trên con đường Chúa Giêsu đã đi xưa để có được cảm nghiệm sâu sắc về Chúa Giêsu. Khi trở về qua đường biển, một cơn bão mạnh đe dọa tàu. Thánh Nicholas vẫn bình tĩnh cầu nguyện. Các thủy thủ đều sợ hãi vì bão, nhưng bỗng ngạc nhiên khi thấy gió yên, biển lặng, mọi người thoát chết. Do đó, Thánh Nicholas là bổn mạng các thủy thủ và cách hành khách đường biển.

Hoàng đế Diocletian của Rôma mạnh mẽ chống lại Kitô giáo, hành hạ dã man các Kitô hữu, đã ra lệnh ĐGM Nicholas bị bắt. Ngài bị đánh đập, bị đày và bị tống ngục. Các tù nhân là các Kitô hữu quá nhiều nên chật nhà tù. Để giải quyết tình trạng này, họ hành hạ các Kitô hữu để giải khuây và co họ chết bớt.

Khi Hoàng đế Constantine gia nhập Kitô giáo, ĐGM Nicholas được thả. Trong cả Chính Thống giáo và Công giáo, nhiều câu chuyện kể về Thánh Nicholas về lòng nhân hậu: Cứu người thoát khỏi đói khát, cứu sống những người bị kết án tử oan sai. Những câu chuyện tương tự kể về việc Thánh Nicholas làm việc thiện nhưng không muốn ai biết.

Theo một nhà viết tiểu sử, 5 thế kỷ sau khi Ông Già Noel qua đời, Thánh Nicholas đã chống lại tà thuyết Arian – tà thuyết này không nhận thần tính của Chúa Giêsu. Một số nhà viết sử nói rằng Thánh Nicholas đã tham dự Công Đồng Nicê và đã thẳng tay tát vào mặt Arius (người khai sinh tà thuyết Arian). Các giám mục khác ngạc nhiên không hiểu sao ngài lại thô lỗ với Arius như vậy. Truyền thuyết nói rằng lúc đó cả Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã hiện ra bảo vệ ngài. Những người gièm pha ngài đều rút lui. Có thể đó chỉ là truyền thuyết, vì các sự kiện này không được ghi lại trong hồ sơ của Công Đồng, cũng không thấy có tên ĐGM Nicholas trong danh sách các tham dự viên.

Công Đồng Nicê nổi bật với tín điều mà ngày nay vẫn được sử dụng, xác tín rằng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Người sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha…”.

Thánh nicholas qua đời ngày 6 tháng 12 năm 343 (sau công nguyên) tại TP Myra, được an táng tại nhà thờ của ngài. Người ta nói rằng man-na (giống như lương thực từ trời nuôi dân Ít-ra-en đi qua sa mạc 40 năm dưới sự hướng dẫn của Mô-sê) xuất hiện trên mộ Thánh Nicholas và man-na này có khả năng chữa bệnh. Ngày nay, mộ của ngài tại Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là điểm đến của hàng ngàn khách hành hương mỗi năm. Lễ Thánh Nicholas là ngày 6 tháng 12 (ngày 19 tháng 12 theo lịch Julian), ngày ngài qua đời.

Hoàng đế Justinian dâng kính Thánh đường ở Constantinople cho Thánh Nicholas. Một sử gia Hy Lạp viết: “Cả Tây phương và Đông phương đều tôn vinh Thánh Nicholas. Ở đâu có người ở thì ở đó tên ngài được tôn kính, và có những nhà thờ được xây dựng dâng kính ngài. Mọi Kitô hữu tôn kính ngài và cầu xin ngài bảo trợ”.

Khi TP Myra mừng lễ ngài thì một nhóm hải tặc Ả Rập từ đảo Crete đến tấn công, cướp tài sản và bắt các tù nhân đem bán làm nô lệ. Cậu bé Basilios bị bắt và phải dâng rượu cho vua Ả Rập, rượu đựng trong chiếc ly vàng rất đẹp. Cha mẹ của Basilios đau khổ vì mất đứa con duy nhất, họ đau buồn suốt nhiều năm.

Gần ngày lễ Thánh Nicholas, người mẹ không muốn tham dự. Thay vì bà phải tới nhà thờ cầu nguyện cho con trai. Khi dâng rượu cho vua Ả Rập, Basilios bất thần chạy trốn. Thánh Nicholas xuất hiện trước mặt Basilios đang hoảng hốt, ngài chúc lành và đưa Basilios về tòa giám mục ở Myra. Truyền thuyết nói rằng Basilios đã xuất hiện trước mặt người mẹ khi bà đang cầu nguyện, tay Basilios vẫn cầm chiếc ly vàng của vua Ả Rập.

Có gần 400 nhà thờ được dâng kính Thánh Nicholas ở Anh quốc hồi cuối Thời Trung Cổ. Nhiều truyền thuyết về Thánh Nicholas nói ngài đã đến với những người độc ác giết người hoặc bắt cóc trẻ em, và ngài cầu nguyện cho họ. Sau đó họ đã hoán cải.

Tại Pháp, có chuyện kể về ba trẻ em đi chơi và bị lạc, chúng bị lừa bán làm nô lệ. Thánh Nicholas cầu xin Thiên Chúa và chúng đã được thả về với gia đình. Do đó, Thánh Nicholas được coi là bổn mạng của trẻ em. Ngày nay, Thánh Nicholas được sùng kính cả ở Đông phương và Tây phương với tước hiệu là thánh bổn mạng của trẻ em, của người đi biển, của ngành ngân hàng, các tiệm cầm đồ, các học giả, các trẻ mồ côi, dân lao động, các du khách, các thương gia, các quan tòa, dân nghèo, các thanh thiếu nữ, các sinh viên, các nạn nhân bị oan sai, các tù nhân và các người làm hoặc bán nước hoa. Ngài là thánh bổn mạng của TP Apulia (Ý quốc), đảo Sicily, Hy Lạp, và TP Lorraine (Pháp quốc).

Sau khi được rửa tội ở Constantinople, Nga hoàng Vladimir I đã đem các câu chuyện về Thánh Nicholas và lòng súng kính ngài về Nga. Ngày nay, Thánh Nicholas vẫn là vị thánh được sùng kính nhiều nhất tại Nga, với hơn 2.000 nhà thờ mang tên Thánh Nicholas.

Tại một số quốc gia, Thánh Nicholas được gọi là Papa Noel (Cha Giáng Sinh), Sinter Klaus hoặc Santa Claus (Sinter/Santa là “thánh”, Klaus/Claus là dạng thu gọn của chữ Nicholas).

Mộ Thánh Nicholas ở Myra vẫn là nơi thu hút khách hành hương. Khoảng năm 1000 (sau công nguyên), vì nhiều cuộc chiến xảy ra trong vùng, một số Kitô hữu quan ngại việc kính viếng mộ Thánh Nicholas, nhất là vì Thổ Nhĩ Kỳ đa số là dân Hồi giáo. Đầu năm 1087, các thủy thủ đã đem xương Thánh Nicholas tới Bari, một hải cảng thuộc miền duyên hải tại Ý quốc.

Một nhà thờ được xây dựng ngay trên mộ ngài, nhiều tín hữu vẫn không ngừng tới kính viếng Thánh Nicholas – người là nguồn cảm hứng về Ông Già Noel ngày nay.

TRẦM THIÊN THU 

Read more

Ngôi sao lạ

VRNs (167.12.2014) – Cần Thơ – Ngày ấy, suốt con kinh Ba Ngàn chỉ có toàn nhà mái lá, vách lá, họa hoằn mới có vài căn nhà lợp tôn hay fibro cement, chỉ một mình ông Hai có được căn nhà xây. Người ta không biết, hay biết rồi cũng quên tên cúng cơm của ông. Họ gọi ông bằng cái tên rất Nam Bộ, rất bình dân, rất thân thiện, rất tình thương mến thương, nhưng không lẫn với ai được, ông Hai Nhà Tường. Chỉ nghe cái tên thôi, ai cũng biết ông là người có của ăn của để, thậm chí giàu có nữa. Đã giàu thì phải sang. Ông không muốn ai nghĩ ông chỉ là một tay trọc phú, coi đồng tiền như cái bánh xe. Đã sang thì phải cho con đi học. Đã đành phận, tuổi ấu thơ ông đầu tắt mặt tối, có được học hành gì đâu, trình độ học vấn của ông chỉ đủ đọc những tập mỏng sáu câu vọng cổ của Viễn Châu, Năm Châu, Thanh Quang, Thanh Hiền… Nhưng ông quyết chí dồn hết tâm tài lực để con ông có thể bước vào tháp ngà đại học. Hai cô con gái của ông, Kim Chi và Ngọc Diệp, hơn kém nhau một năm tuổi, đúng là một thứ cành vàng lá ngọc, ông gởi đi học nghe đâu mãi trên Sài Gòn từ năm tốt nghiệp phổ thông, nội trú ở một lưu xá do các sơ nhà dòng coi sóc. “Mùi thiền đã bén muối dưa” (Kiều), nên hai cô cũng bén mùi nhà dòng rồi chả mấy chốc đã bén mùi đạo. Trời xui đất khiến thế nào không biết, họ quen, rồi thân, rồi thương, rồi yêu, rồi lấy chồng người bên đạo. Hai cô “đi đạo”. Ông Hai Nhà Tường phân bua với họ hàng nội ngoại:

141216004

-Thiệt tình, tôi đâu có ưa đạo mấy ông cha. Đạo gì mà kỳ cục thấy mồ, ngày giỗ, ngày tết, con cháu rượu thịt ê hề, để ông bà đói meo, không có được mâm cơm cúng? Đạo gì mà không biết thờ phụng tổ tiên? Đạo gì mà bất hiếu dữ vậy? Nhưng con gái là con người ta. «Xuất giá tòng phu», lấy chồng thì phải theo chồng. Mà nói nào ngay, đạo nào không là đạo? Đạo nào không dạy con người ta ăn ngay ở lành?

‘’Nói nào ngay’’ là một kiểu nói ông Hai muốn phân bua với họ hàng rằng mình đã suy nghĩ chín chắn, đã cân đo đong đếm kỹ càng, đã biết người biết ta, đã công bằng với người với mình, đã thấu tình đạt lý, nên hai bên nội ngoại cũng… thôi.

Khi anh Tấn, con trai út, nhưng lại là trưởng nam của ông Hai, là cháu đích tôn của cả dòng họ, thi đậu vào đại học, ông Hai làm hẳn một con heo quay có đến năm chục kí-lô, vừa để cúng tạ ơn trời đất và ông bà tổ tiên cửu huyền thất tổ, vừa để ăn mừng cậu quý tử từ nay được gọi là sinh viên. Rượu vào, lời ra, ông Hai múa máy như những vị hảo hán trong vở tuồng cải lương ‘‘Tống tửu Đơn Hùng Tín’’:

-Vô, vô ngheng. Một trăm phần dầu. Một, hai, ba… vô… ô… ô…

Máu rượu bốc lên, ông bóc vỏ lòng mình với chú Tư Máy Kéo:

-Con Hồng Đào nhà chú Tư hạp nhãn tui quá cỡ thợ mộc, mỏng mày hay hạt, lại đẹp người đẹp nết, dễ thương mút chỉ cà tha. Mình làm sui, ngheng, chú Tư! Ủa! Tui vô duyên quá trời quá đất luôn. Làm sui mà cứ kêu là chú Tư, nghe sao được, phải kêu là anh sui chớ bộ! Vô, năm mươi phần trăm dưới, ngheng, anh sui!

Chú Tư Máy Kéo vội vàng:

-Khoan! Chưa đâu, cả nhà tôi, dân đạo gốc đó, Anh Hai không biết sao?

Đang cơn say rượu, say tình, ông Hai có nghe thấy chú Tư nói gì đâu. Ông xuất khẩu thành… vọng cổ:

-‘‘Trời ơi! Dẫu đất có cô phụ trời, trời đâu có khi nào cô phụ đất. Nếu lòng Hai Nhà Tường này có điều chi khuất tất thời xin Cao Xanh kia xét soi cho một tấm… chân… tình…”

Mười mấy bàn ăn vỗ tay như pháo nổ. Có thế thôi, xong một cuộc đính ước.

* * *

Nhà anh chị Trường Hải – Kim Chi ở trong một con hẻm cụt, nhưng rộng, nơi trẻ em có thể chạy nhảy chơi đùa với nhau. Như thông lệ, vào dịp lễ Giáng Sinh, anh Hải làm một hang đá thật to, thật đẹp, sáng lung linh. Đêm hai mươi bốn, chị Kim Chi nấu một nồi chè to đến nỗi khi vừa bước chân vào nhà, anh Tấn lắc đầu, ngán ngẩm:

-Có đổ đi cũng không hết.

Thế mà chị Kim Chi phải phòng thủ, múc ra năm tô cất vào tủ lạnh.

Tan lễ đêm, trẻ em lương giáo trong hẻm, cả ở những nơi khác ùn ùn kéo đến, tụ tập trước hang đá, ríu rít như một bầy chim sẻ non. Cô Minh Nguyệt, gia sư dạy nhạc cho bé Minh Ngọc con chị Kim Chi, đưa tay ra hiệu:

-Các em có biết bài: “Đêm Đông Mừng Chúa Giáng Sinh Ra Đời” không? Có hả? Vậy cô bắt nhịp cho các em hát nhé!

Gần hai trăm cái miệng cất giọng hát như thét, như gào, không đúng giọng, đúng nhịp mấy, cô Minh Nguyệt phải cao giọng dùng micro nắn lại. Nhưng có thể nói những vị thiên thần trẻ con ấy hát bằng cả con người của chúng, tiếng hát của chúng bay cao vút tận trời cao, chắc trên thiên đàng cũng nghe được… Chị Kim Chi điều động cả nhà múc chè vào những cái li nhựa dùng một lần, phân phát cho các em. Trong chốc lát, nồi chè hết nhẵn. Vẫn thiếu, anh Hải phải mang bốn tô chè trong tủ lạnh ra…

Cả nhà ăn réveillon bằng tô chè của bé Minh Ngọc được chia thành năm phần. Anh Hải đề nghị:

-Hai cô cháu chơi bài Đêm Thánh Vô Cùng được không?

Trên cùng một cây đàn organ, bé Minh Ngọc chơi bè một ở bát độ cao, Minh Nguyệt đệm đàn bè trầm, anh Trường Hải và chị Kim Chi hát theo khe khẽ… Chị Kim Chi hỏi:

-Đó là bản thánh ca Giáng Sinh an bình nhất, sâu lắng nhất, phải không Minh Nguyệt?

Chị quay sang anh Tấn:

-Sao cậu Út?

Anh Tấn đang đắm mình trong dư âm bài hát, không trả lời. Minh Nguyệt nói:

-Em vừa nghĩ: Giờ phút này, trong căn nhà này, tất cả mọi người, tất cả sự vật, tất cả sự việc, phải, tất cả đều là quà tặng, là “ơn châu báu không bờ bến” Chúa thương ban. Có được không, anh chị? Có được không, công tử Tứ Giác Long Xuyên?

Trời khuya, anh Tấn đưa Minh Nguyệt về. Anh nhìn lên. Lưng chừng trời phía đông có một ngôi sao thật sáng, hình như đó là một ngôi sao đem đến ơn lành, một ngôi sao lạ. Họ yêu nhau từ mùa Giáng Sinh năm ấy.

* * *

Suốt bốn năm trời yêu nhau, Minh Nguyệt là tâm điểm để anh Tấn quy chiếu. Anh bỏ hút thuốc, không rượu chè, cờ bạc, gái gú… vì nàng; học thêm ngoại ngữ, học thêm đàn guitar cũng vì nàng. Anh học giáo lý dự tòng, cũng vì nàng. Anh cố gắng hết mình để nàng vui lòng, và nhất là để anh ngày càng xứng đáng với nàng hơn. Tình yêu của Minh Nguyệt làm cho anh người hơn, cao thượng hơn. Như cô gái mù có thể hi sinh tất cả để nhìn thấy ánh trăng trong giai thoại về Beethoven và bản Sonate Ánh Trăng mà Minh Nguyệt thường độc tấu piano cho anh nghe, anh cũng sẵn lòng từ bỏ tất cả để có được ánh trăng sáng Minh Nguyệt cho riêng anh. Anh đặt nàng lên bệ thờ tình yêu. Nàng là thần tượng của anh.

Khổ nỗi anh không biết rằng nàng “đâu phải là nàng tiên được tạc bằng ngà và ánh trăng, nàng chỉ là một người đàn bà” (A. Maurois, Odile). Thế nên khi Henri Nguyễn, tiến sĩ âm nhạc cổ điển, người Mĩ gốc Việt về Sài Gòn dạy học, ngỏ lời, Minh Nguyệt lưỡng lự một thời gian, rồi nhận lời đính hôn, rồi kết hôn. Anh Tấn ray rứt:

-Nàng bỏ rơi mình, suy cho cùng, cũng hợp lý thôi. Anh chàng Việt kiều ấy chẳng vượt trội hơn hẳn mình về mọi phương diện, giàu có, tài năng, học vấn, công danh, sự nghiệp, tương lai… là gì? “Giấc mơ Mĩ” không phải là ước mơ của nàng đó hay sao? Nhưng còn tình yêu? Nàng yêu mình xiết bao, thế mà nàng dứt tình, giũ bỏ mình như giũ bỏ một chiếc áo rách được ư? Quả thật, mình không sao hiểu được lòng dạ đàn bà.

Hôm đám cưới, Minh Nguyệt nói với anh:

- Anh hãy sống xứng đáng là một người đàn ông, hãy giữ gìn bản thân, hãy cầu chúc em hạnh phúc.

Chiều nay, oái oăm thay, lại là chiều lễ Vọng Giáng Sinh. Cư xử “như một người đàn ông”, anh Tấn nhận lời ra phi trường tiễn vợ chồng Minh Nguyệt đi Mĩ. Kiểm tra hành lý xong, nàng nắm tay anh:

-Anh hiểu cho, dù thế nào chăng nữa, anh cũng luôn luôn là người bạn tốt nhất của em.

Anh Tấn biết đây là lần cuối cùng anh cầm tay Minh Nguyệt. Nàng siết chặt tay anh, làm tim anh đau nhói. Đúng lúc ấy Henri nhã nhặn, lịch thiệp bắt tay anh:

-Minh Nguyệt nói nhiều về anh, nhưng còn thiếu. Anh sẽ là người bạn tốt nhất của tôi nữa, của vợ chồng tôi. Chúc anh mùa Giáng Sinh an lành.

Họ vào phòng chờ lên máy bay. Anh Tấn nghe thấy mình hát: “Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi” (Phạm Duy). Anh nói với chính anh:

-Mình có lỗi gì đâu, sao Đức Chúa của nàng lại nhẫn tâm đem người yêu của mình trao cho người khác? Chúa có thương mình không? Đức Chúa có là tình yêu như nàng nói không?

Trời nhá nhem tối, phố phường, nhà cao tầng che khuất tầm nhìn của anh, anh tìm kiếm nhưng không thấy ngôi sao lạ năm nào. Hình như anh khóc.

* * *

Đêm Noel năm nay, Anh Tấn nắm tay Hồng Đào và con trai, cùng nhau quỳ trước hang đá trong sân nhà thờ.

Anh nhớ lại Noel năm nào anh quen rồi yêu Minh Nguyệt, rồi Noel năm nào nàng lấy chồng. Anh nhớ tới ngày ba anh bỏ anh mà đi. Ông uống rượu nhiều quá, bị xơ gan cổ trướng, bụng căng như một cái trống. Ông tỉnh tới lúc chết. Trước khi nhắm mắt, ông thều thào:

-Ba đã hứa với chú Tư Máy Kéo rồi, con phải cưới Hồng Đào, ngheng!

Anh Tấn dùng kế hoãn binh:

-Con biết Hồng Đào thương con, nhưng con đâu có thương cô ấy.

-Cưới trước, thương sau, như ba với má con ngày xưa…

-Nhưng người ta theo đạo Chúa mà, ba!

Ông Hai dứt khoát:

-Không sao, vợ chồng con Kim Chi, vợ chồng con Ngọc Diệp nói với ba rồi, ba cũng tìm hiểu nơi mấy ông cha, mấy anh em bạn, ba biết hết trơn hết trọi mà. Đạo của họ đâu phải đạo bất hiếu. Họ có nguyên một giới răn phải thảo kính cha mẹ. Ngày nào ở nhà thờ họ cũng cầu cho ông bà tổ tiên, nghe đâu lại còn cả tháng mười một dành riêng tưởng nhớ tới người đã khuất, lại còn lễ giỗ, lễ Các Đẳng, lễ ngoài nghĩa trang. Được quá, tốt quá đi chớ, ba còn muốn theo đạo nữa là… Con hứa đi, ba mới nhắm mắt nổi.

Anh hứa… đại. Nhưng sau này, vì thương nhớ cha quá, anh cảm thấy không giữ lời với người chết là bất hiếu, mang tội lớn với cha. Với lại, nói thật lòng, Hồng Đào cũng dễ thương quá đi thôi! Anh “đi đạo” và cưới Hồng Đào. Họ sống với nhau hạnh phúc chan hòa. Năm nay, thằng cu Tý con trai anh đã bốn tuổi, đang học lớp chồi trường mầm non.

Trời lạnh, nhưng anh Tấn cảm thấy ấm lòng. Anh chẳng những không trách Chúa như năm nào, mà còn thầm cảm ơn Chúa đã để cho Minh Nguyệt phụ bạc, hắt hủi, bỏ rơi anh, làm anh đau khổ, tuyệt vọng cả năm trời. Chính Chúa đã dùng “sự không may” đó để đưa anh đến ngày hôm nay, với tổ ấm gia đình này. Anh bằng lòng, thậm chí hài lòng và biết ơn vì Chúa đã ban cho anh người vợ “mỏng mày hay hạt, đẹp người đẹp nết, dễ thương mút chỉ cà tha” như lời ba anh nói. Chúa lại còn ban cho anh thằng cu Tí, đứa con mà vì nó, anh thật sự có thể hi sinh tất cả. Họ ra về. Thằng Tí một tay nắm tay cha, một tay nắm tay mẹ. Nó bi bô:
-Mé-ri Rịt-mợt, đát-đi. Mé-ri Rịt-mợt, mám-mi.

Anh Tấn nhìn lên tháp chuông nhà thờ. Trên cao, tít trên trời cao, chênh chếch về hướng đông, một ngôi sao sáng rực rỡ. Anh chỉ tay, nói với vợ con:

Nhìn kìa, nhìn kìa, nhìn ngôi sao lạ kìa.

lãongu

Read more

Nhà văn

VRNs (17.12.2014) – Sài Gòn – Trong những ngày ở Hà Nội vùa qua, tôi đã đến được những nơi cần đến. Đến với những tấm lòng hồn hậu. Đến với những mảnh đất lắng hồn Việt Nam.

Đến thăm anh Phạm Quế Dương, tôi muốn ứa nước mắt khi cánh cửa nhà anh mở ra, anh đứng nở nụ cười hiền hậu nhìn tôi mãi mà không nhớ được tên tôi. Ngày tôi mới chuyển vào sống ở Sài Gòn, trong dịp hộ tống con gái Phạm Quỳnh Anh vào Sài Gòn thi đấu cầu lông tranh giải vô địch toàn quốc, anh Phạm Quế Dương đã cất công lặn lội đi tìm tôi cả một ngày mà không thấy tôi. Hồi đó đường tôi ở đã nhỏ lại dài dằng dặc trong khu người Hoa quận 11, giữa những con hẻm ngang dọc nhằng nhịt mạng nhện, các số nhà đều lộn xộn, nhảy cóc bất thường và đều có tới hai, ba cái sẹc (/). Con đường lại bị một khu phố đông đúc thúc vào giữa chia làm hai phần cách xa nhau. Chưa có điện thoại, chưa có xe ôm, xe taxi như bây giờ. Anh cứ cuốc bộ đi tìm.

Ngày tôi còn làm việc ở Hà Nội, xưởng phim Quân đội của tôi và nhà anh ở cùng trên phố nhà binh Lý Nam Đế, chỉ cách nhau hai chục số nhà. Anh thường xuyên đến đưa cho tôi bản photo những bài viết của những trí tuệ Nguyễn Kiến Giang, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Hộ … Tôi được anh thức tỉnh, thoát khỏi cõi u mê từ đó.

141216003

Chiến dịch Điện Biên Phủ, anh là chính trị viên phó đại đội pháo bắn máy bay. Máy bay Pháp đánh bom trúng trận địa đại đội. Cán bộ đại đội thương vong hết. Chính trị viên phó đại đội Phạm Quế Dương cũng bị thương vẫn cầm lá cờ đỏ từ tay đại đội trưởng đã hi sinh, phất lên kêu gọi: Các đồng chí đảng viên cộng sản trở về vị trí chiên đấu. Trận địa lại quyết liệt nổ súng. Nhưng khi người chỉ huy đầu tiên của anh trong quân đội, trung tướng Trần Độ bị tổ chức đảng khai trừ, đảng viên cộng sản Phạm Quế Dương liền trả lại thẻ đảng cho tổ chức đảng.

Con người lẫm liệt, con người trong sáng ấy vô cùng thân yêu với tôi bây giờ là một ông già không còn trí nhớ, chỉ còn nụ cười hiền làm sao tôi không xót xa. Tôi bước đến ôm lấy anh và dìu anh vào nhà!

Đến đền Voi Phục, một trong “tứ trấn Thăng Long”,  được nhà Lý xây dựng ngay từ khi mới về định đô ở mảnh đất hồn nước thăng hoa này, tôi lại có nỗi buồn khác. Ngôi đền có tuổi đời gần bằng tuổi kinh đô Thăng Long trên thế đất cực đẹp, có rừng cây trầm tư uy nghiêm trên gò cao sau đền, có cây cổ thụ vài trăm tuổi ngả bóng xuống hồ nước trước đền, vừa là nơi thâm nghiêm huyền thoại, vừa là nơi lắng hồn đất nước. Nay đền kẹt giữa một bên là công viên Thủ Lệ manh mún, ngày lễ ồn ào náo nhiệt, ngày thường lố nhố người câu cá trộm ở hồ, một bên là vườn thú cũng rất nhỏ bé, manh mún như tạm bợ, sáng chiều lanh lảnh tiếng vượn châu Phi, chao chát tiếng vẹt châu Mĩ.

Tôi sững lại khi thấy treo cao hai bên cổng đền là hai đèn lồng đỏ đặc Tàu. Màu đỏ và chữ Tàu trên hai đèn lồng đã phôi pha mưa nắng chứng tỏ đèn treo đã từ lâu. Đi thẳng vào trong đền, tôi phải tìm ngay ông thủ từ. Ba người đàn ông đứng tuổi bên bàn nước ở gian bên trong đền thấy tôi nói xin gặp ông thủ từ, một người tuổi ngoài sáu mươi to đậm, cơ bắp chắc chắn đến trước tôi. Bắt tay chào hỏi rồi tôi nói: Ngoài cổng đền không nên treo hai đèn lồng đỏ Tàu, ông ạ. Đền miếu đình chùa Việt Nam là chốn tâm linh dân tộc Việt Nam, nơi lắng hồn núi sông Việt Nam, nơi lưu giữ cốt cách văn hóa Việt Nam. Đèn lồng đỏ là đặc trưng rất tiêu biểu của văn hóa Tàu. Mới nghe tôi nói vậy, ông đã lẳng lặng bỏ về ngồi lại bên bàn nước.

Tôi phôn cho ông bạn lính, bạn văn, thời chiến tranh là đại đội trưởng pháo binh, sau chiến tranh ông cùng học viết văn Nguyễn Du khóa đầu với tôi. Ông nói đang dự lễ tổng kết trại viết ở nhà sáng tác của hội Nhà Văn bên Hồ Tây. Ông bảo có nhiều bạn của tôi ở đây lắm, tôi đến ngay đi.

Đến nhà sáng tác của hội Nhà Văn Việt Nam ở Quảng Bá tôi đã gặp khá nhiều bạn lính, bạn văn của một thời bom đạn và nghèo khổ. Chủ tịch hội Nhà Văn Hữu Thỉnh vồn vã bắt tay tôi nhắc đi nhắc lại: Lúc nào đến Hội nhá. Mình muốn gặp ông.

Tôi biết điện thoại của tôi có nơi giám sat chặt chẽ. Rời Sài Gòn ra Bắc, tôi cố hạn chế gọi điện thoại. Tôi không báo cho ai sự đi, sự đến của tôi. Những nơi đến, tôi đều tự đến theo đòi hỏi của trái tim, không ai mời. Nhưng ông chủ tịch hội Nhà Văn mời, tôi lại không đến. Trước đây Hữu Thỉnh và X, cũng là một ông bạn văn bạn lính của tôi là hai địa chỉ mà mỗi lần ra Hà Nội thế nào tôi cũng phải đến ăn với gia đình họ một bữa cơm. Nhưng từ mấy năm nay tôi đã bỏ lệ đó.

Là nhà văn viết nhanh và nói giỏi, nhiều năm qua ông X thường xuyên được hết báo này đến báo khác phỏng vấn, thường xuyên xuất hiện trên rất nhiều chương trình truyền hình. Ông hào sảng ca ngợi cuộc chiến tranh tương tàn. Vẻ mặt thỏa mãn. Giọng điệu trầm bổng. Ông có sức thu hút, chinh phục, ru ngủ khá nhiều người. Vì thế ông được cả hệ thống truyền thông chính thống triệt để khai thác. Tôi thực sự buồn và thất vọng về ông bạn văn bạn lính tài hoa của tôi. Nhà văn đích thực phải là người thức tỉnh lương tri, trách nhiệm của con người chứ không phải là người ru ngủ nhân dân.

Phạm Đình Trọng

Read more

Tăng đoàn PGVNTN đến trụ sở LHQ tố cáo CSVN vi phạm tôn giáo và nhân quyền

VRNs (17.12.2014) – Sài Gòn – Để hỗ trợ cho một số tự viện và chư tăng thuộc Tăng Đoàn GHPGVNTN đang bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đàn áp, sách nhiễu, khủng bố và bách hại, vào ngày 08 tháng 12 năm 2014, phái đoàn của Tăng Đoàn GHPGVNTN Hải Ngoại đã đến Trụ sở Liện Hiệp Quốc và Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc ở New York để trình bày hiện tình quốc nạn pháp nạn của Phật giáo và dân tộc.

Phái Đoàn của Tăng Đoàn GHPGVNTN Hải Ngoại gồm có HT Thích Chơn Trí, Chánh Thư Ký Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương; HT Thích Viên Lý, Chủ tịch Hội đồng Điều Hành; TT Thích Viên Thông, Tổng Thư ký Hội Đồng Điều Hành; các Cư sỹ Lý Trí Anh, Nguyễn Tuấn và Cao Tuệ Anh, lãnh đạo Đoàn Thanh niên Phật tử.

141216002

Phái đoàn đã tiếp xúc với giới lãnh đạo Cao Ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc lúc 11 giờ tại Trụ sở của Liên Hiệp Quốc. HT Thích Viên Lý, Trưởng phái đoàn đã trình bày một chuỗi sự kiện có liên quan đến kế hoạch cưỡng chế san bằng chùa Liên Trì, Chùa An Cư và chùa Phước Bửu, nhất là trường họp ĐĐ. Thích Thiên Tâm bị công an hành hung tập thể một cách thô bạo đến nỗi thương tích đầy mình.

HT Thích Viên Lý cũng đã nói về tình trạng nhân quyền của hơn 90 triệu người Việt Nam bị vi phạm nghiêm trọng, đặc biệt là những tù nhân lương tâm trong các trại giam vì đã bất khuyất đấu tranh ôn hòa bất bạo động cho một Việt Nam thật sự tự do, nhân quyền và dân chủ, cũng như chống lại chánh sách bành trướng của Bắc Kinh. Đồng thời khẩn thiết yêu cầu Liên Hiệp Quốc lên tiếng can thiệp nhanh chóng để buộc nhà cầm quyền CSVN tôn trọng những cam kết mà họ đã ký kết thực thi tại các điều khoảng được quy định trong các Công Ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị.

HT Thích Viên Lý cũng đã trao cho giới chức Cao ủy Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc một tập tài liệu về tình trạng vi phạm nhân quyền của CSVN và một thỉnh nguyện thư của Tăng Đoàn GHPGVNTN Hải Ngoại.

HT Thích Chơn Trí đã nói về tình trạng tôn giáo bị bách hại, tự do bị tước đoạt và yêu cầu Liên Hiệp Quốc quan tâm giúp đỡ.

TT Thích Viên Thông đã trình bày chi tiết về hành động cướp đất cướp chùa, hành hung chư Tăng và Phật tử của CSVN.

Ba vị Cư sỹ Phật tử trẻ Lý Trí Anh, Nguyễn Tuấn và Cao Tuệ Anh cũng đã nói lên thực trạng đen tối của dân tộc VN dưới ách độc tài toàn trị, nhất là các Bloger và những nhà bất đồng chính kiến bị bắt bớ, quản thúc và trấn áp khốc liệt.

141216001

Giới chức của Cao Uỷ Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc đã hứa là sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để chặn đứng chính sách độc tài, bất công nhằm mang lại tự do nhân quyền cho những người Việt Nam bất hạnh.

Sau khi rời trụ sở Liên Hiệp Quốc, phái đoàn của Tăng Đoàn đã đến Toà Đại sứ Hoa kỳ tại Liên Hiệp Quốc. Tại đây, phái đoàn của Tăng Đoàn đã được ông Đại sứ Lary M. Dinger, Cố vấn Cao cấp về Á Đông và Thái Bình Dương của Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc tiếp đón niềm nở.

Đại sứ Lary M. Dinger đã ân cần hỏi thăm phái đoàn về tình trạng Phật giáo bị CSVN đàn áp. Sau khi phái đoàn trình bày chi tiết về tình trạng thiếu nhân quyền của người dân Việt Nam cũng như những ngôi chùa và những Tăng sỹ của Tăng Đoàn GHPGVNTN bị đàn áp, đánh đập. HT Thích Viên Lý đã trao cho ông Đại sứ một tập tài liệu và Thỉnh Nguyện thư của Tăng Đoàn GHPGVNTN Hải Ngoại, đồng thời yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ lên tiếng can thiệp khẩn cấp. Đại sứ Lary M. Dinger đã hứa là sẽ tận tâm giúp đỡ để chấp dứt tình trạng vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Sau khi hoàn tất việc tiếp xúc với các giới chức của Liên Hiệp Quốc và Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, phái đoàn đã đến nơi hai tòa Cao ốc bị máy bay khủng bố tấn công để cầu nguyện cho các cuộc khủng bố không còn tái diễn, nhất là cho đất nước và dân tộc Việt Nam sớm hưởng thái bình thịnh trị.

HT. Thích Không Tánh chuyển tin

Read more