TLS Mỹ theo sát vụ huyện Đăk Tô lên kế hoạch xóa sổ 22 nhà nguyện

VRNs (27.03.2015) – Kontum – Một nguồn tin chắc chắn từ Sài Gòn cho biết Viên chức chính trị của Tổng lãnh sự (TLS) Hoa Kỳ đang quan tâm và theo dõi sát vụ huyện Đăk Tô lên kế hoạch xóa sổ 22 nhà nguyện. Việc theo dõi bằng phương pháp nào và vì mục đích gì chưa được tiết lộ.

Như VRNs đã đưa tin, ngày 30.01.2015, ông Cao Trung Tin, chủ tịch UBND huyện Đăk Tô đã ký văn bản số 03/KH-UBND mang tựa đề Kế hoạch tuyên truyền, vận động, xử lý các công trình sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật trên địa bàn huyện Đăk Tô.

 150326001

Trái pháp luật do luật không đáp ứng nhu cầu tôn giáo của công dân

Lấy lý do 22 nhà nguyện xây dựng trái pháp luật để tuyên truyền hầu che giấu sự thật là huyện Đăk Tô muốn giảm thiểu tối đa các hoạt động tôn giáo trong huyện, hầu các quan chức được đánh giá cao, và có thể được cơ cấu lãnh đạo lại hay ở cấp cao hơn trong dịp đại hội đảng CSVN tại huyện Đăk Tô và tỉnh Kontum sẽ diễn ra trong năm 2015 này.

Bản chất sự việc được Đức cha Micael Hoàng Đức Oanh, giám mục chánh tòa Kontum cho biết:

“Ở Việt Nam mỗi làng đều có đình, có miếu mạo. Ở vùng cao, buôn làng nào cũng có nhà rông, còn làng có đạo thì có nơi thờ tự. Tại Đăktô trước 1975, các làng có đạo đều có nhà thờ, nhà nguyện. Những nơi thờ tự này, chiến tranh đã tàn phá hết, trừ thị xã Kontum. Sau 1975, các buôn làng có đạo không có sinh hoạt tôn giáo bình thường suốt 30 năm (1975 – 2005), vì các linh mục không được phép đến phục vụ. Giáo dân phải đi bộ cả 100 cây số về nhà thờ Chánh Tòa dự lễ hoặc nhận các Bí tích. Mỗi dịp lễ Giáng Sinh và Phục Sinh, cả 15, 20 ngàn tín đồ nằm la liệt cả tuần ở sân Tòa Giám Mục và Nhà Thờ Gỗ. Từ năm 2005, chính quyền bắt đầu cởi mở chấp nhận cho gởi linh mục tới vài vùng tiêu biểu. Cụ thể tới nay cả 4 huyện Đăktô, Tumơrông, Ngọc Hồi và Đăk Glei (diện tích 3.682,84 Km2, giáo dân 52.132 trong số 142.426 dân) cũng chỉ mới có phép xây 2 nhà thờ “chính danh” Đăk Mót và Kon Hring. Vì thế, trước nhu cầu tôn giáo quá lớn, xin phép nhiều lần không được đáp ứng, thì giáo dân chẳng còn cách nào hơn là “làm chui”! Thực tế cũng có “phép ngầm” của quý cán bộ địa phương đấy!”

Thật không thể tưởng tượng nỗi một nhà nước do dân và vì dân mà lại phải để dân phải đi lễ xa cả 100 cây số. Không thể ngờ hơn 1/3 dân số của 4 huyện là giáo dân, mà chỉ được phép xây dựng hai (2) nhà thờ. Mỗi nhà thờ có sức chứa tối đa 2000 người.

Hầu hết các quan chức khi bị chất vấn tại sao lại để tình trạng ấy diễn ra thì đều được nhận câu trả lời rằng tại vì tôn giáo và tín đồ không xin phép. Nhưng khi xin phép không được các tôn giáo hỏi tại sao không cấp phép, thì lại được trả lời không đúng thủ tục hoặc chưa có chủ trương và quy hoạch cho xây dựng nhà thờ.

Tình trạng nhu cầu tôn giáo không được đáp ứng tối thiểu đôi với các giáo dân Công giáo thuộc các sắc tộc thiểu số ở giáo phận Kontum là mỗi tuần được đi lễ Chúa nhật một lần, chết được linh mục đến dâng lễ cầu hồn, ốm đau bệnh tật được lãnh nhận các bí tích … Lỗi này ở các quốc gia khác thường do không đủ linh mục, nhưng ở Kontum lại do nhà cầm quyền hạn chế sinh hoạt tôn giáo, không cấp phép xây nhà thờ, không cho linh mục tự do chăm sóc mục vụ, các nhà nguyện tận dụng không gian sinh sống của nhà dân bị lập biên bản, đóng phạt, bị lên án trước cộng đồng là vi phạm pháp luật.

Trái pháp luật do cán bộ cố tình phân biệt đối xử

Theo ông Cao Trung Tin, chủ tịch UBND huyện Đăk Tô, những nhà nguyện vi phạm pháp luật mà văn thư của ông nhắm tới là những căn hộ của công dân đã dùng một phần diện tích nhà ở của riêng mình vào việc thờ phượng chung, hoặc làm thêm một mái che như cái trái bên cạnh nhà để dùng vào việc thờ phượng.

Đây là bằng chứng bất công và cố tình phân biệt đối xử với những người có tôn giáo. Vì trong huyện của ông có nhiều nhà dùng diện tích nhà ở của họ cho thuê để ở hoặc cho thuê để buôn bán, làm quán nhậu … Họ cũng làm những cái trái ra để nuôi súc vật, để kinh doanh, nhưng tất cả những gia chủ đó không bị gọi là vi phạm pháp luật.

Cùng hai đối tượng dành một phần nhà ở của mình để dung vào việc khác, nhưng một bên thì được để yên, một bên bị kết án là vi phạm pháp luật. Bên tổ chức quán nhậu tạo ra ồn ào mất trật tự và làm cho người dân tộc lụn bại trong rượu chè thì được cho tồn tại mặc nhiên là không vi phạm pháp luật. Còn bên kia làm việc công ích, xây dựng luân thường đạo lý, và nhất là không gây ra mất trật tự, mà lại còn góp phần đào tạo cho xã hội có thêm nhiều công dân tốt thì lại bị xem là vi phạm pháp luật.

Chính quyền của một huyện lại coi việc làm tốt là vi phạm pháp luật còn những việc khác không phải của tôn giáo cũng có chung tình trạng sử dụng diện tích nhà ở là không vi phạm pháp luật thì đó có còn là chính quyền nữa hay không?

UBND huyện Đăk Tô tọa lạc tại 217 Lê Duẩn, thị trấn Đăk Tô, điện thoại: 060.3831.209 Fax: 060.3831.209 Email: [email protected] Website: huyendakto.kontum.gov.vn. Quý vị có thể gọi điện thoại, liên lạc để chất vấn.

Ông Cao Trung Tin, chủ tịch UBND huyện Đăk Tô tỏ ra thù hằn với tôn giáo, nên chỉ đạo: “Không để xảy ra tiếp tình trạng các hộ dân xây dựng công trình riêng biệt nằm bên cạnh công trình nhà ở hoặc tự ý cơi nới nhà ở để sử dụng vào mục đích tôn giáo”.

Ông Tin dùng uy quyền của mình huy động toàn huyện Đăk Tô tham gia chiến dịch triệt hạ các nhà nguyện này bao gồm Cấp ủy đảng, UBND, các ngành, các đoàn thể. Ông còn chỉ định Phòng tư pháp, Phòng tài nguyên môi trường, Phòng kinh tế và hạ tầng trực tiếp hướng dẫn.

Nếu những việc xấu như trôm cắp mỗi ngày một gia tăng, tình trạng công chức càng ngày càng kém chất lượng phục vụ mà ông Chủ tịch huyện Đăk Tô dồn toàn tâm toàn ý được như chiến dịch triệt hạ 22 nhà nguyện này thì các công dân đỡ khổ biết mấy, xã hội bình an hơn biết chừng nào.

Việc công dân sử dụng nhà cửa là tài sản riêng của mình mà không gây tổn hại gì cho xã hội sao lại gọi là vi phạm pháp luật?

Vẫn một đường lối nhất quán là loại trừ tôn giáo trước sau như một của Nước CHXHCNVN.

Trái pháp luật, nhưng không trái Hiến pháp

Điều 24 của Hiến pháp Việt Nam năm 2013 hiến định:

“1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Trước tiên phải nhắc lại một điều căn bản về luật pháp đó là Hiến pháp là bộ luật cao nhất, không một bộ luật hay luật nào được quyền nói sai, nói thiếu về Hiến pháp. Kế tiếp, ở chương II của Hiến pháp bàn về Quyền con người, thì hầu các quyền tự do ngôn luận, lập hội, cư trú, đi lại, bí mật riêng tư … đều có câu cuối nhấn mạnh việc thực hành các quyền đó “do pháp luật quy định”, nhưng riêng ở điều 24 về quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng không có câu “do pháp luật quy định”.

Từ đó có thể hiểu, đối với các quyền con người kia thì còn có luật pháp quy định, nhưng riêng quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng thì chỉ một mình Hiến pháp là đủ, có quyền điều chỉnh hoạt động tôn giáo, mà không có luật pháp nào khác ngoài Hiến pháp được xác định quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Với điều 24 của Hiến pháp 2013, có thể nói Pháp lệnh tự do tôn giáo và tín ngưỡng cùng với Nghị định 92 đang áp dụng phải bị xem lại về hiệu lực, vì rõ ràng Hiến pháp không còn ủy quyền cho bất cứ bộ luật hay luật hay pháp lệnh nào có chức năng áp dụng hay hướng dẫn thêm nữa, vì tự nó đã đủ ý nghĩa và hiệu lực thi hành.

Việc ông Tin áp dụng Pháp lệnh và Nghị định về tín ngưỡng, tôn giáo trước đây để ban hành văn thư số 03/KH-UBND, sau khi Hiến pháp 2013 đã có hiệu lực hơn một năm, có dấu hiệu vi hiến. Một văn thư áp dụng luật cách vi hiến tức khắc không có giá trị thi hành.

Theo Hiến pháp, công dân Công giáo ở huyện Đăk Tô không vi hiến và như thế cũng không vi phạm pháp luật về ti6n giáo như cáo buộc của ông Chủ tịch.

Đăk Tô là tên gọi của dòng suối nước nóng trong vùng cư trú của đồng bào dân tộc Xêđăng. Làng của người Xêđăng thường gắn với sông suối, núi đồi. Tên làng được gọi theo tên sông suối, núi đồi đó. Đăk Tô là tên của dòng suối nước nóng, là tên làng lâu đời ở vùng này. Bây giờ Đăk Tô là tên của một huyện. Huyện Đăk Tô ở phía bắc của tỉnh Kontum, có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội. Một vùng đa số người sắc tộc thiểu số, nhưng người lãnh đạo cao nhất là ông Chủ tịch huyện lại không phải là người thuộc các sắc tộc thiểu số đng cư ngụ ở đó.

PV. VRNs

Read more

39 Năm mộng du hại nước

VRNs (27.03.2015) – Washington DC, USA – “Ngày nay, Tổ quốc ta đã hoàn toàn độc lập thì dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thực hiện được ước mơ lâu đời của nhân dân lao động là vĩnh viễn thoát khỏi cảnh bị áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, để sống một cuộc đời no cơm, ấm áo, ngày mai được bảo đảm, một cuộc đời văn minh, hạnh phúc….Có chủ nghĩa xã hội, Tổ quốc ta mới có kinh tế hiện đại, văn hoá, khoa học tiên tiến, quốc phòng vững mạnh; do đó bảo đảm cho đất nước ta vĩnh viễn độc lập, tự do và ngày càng phát triển phồn vinh.”

(Trích Báo cáo Chính trị của Bí thư thứ nhất đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, do, ngày 14 tháng 12 năm 1976)

Ông Lê Duẩn tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư khi đảng đổi tên thành Đảng Cộng Sản Việt Nam kể từ ngày 20 tháng 121976 cho đến khi qua đời ngày 10 tháng 71986.

150326004

Sau khi ông Duẩn trinh bày, Đại hội IV biểu quyết chấp thuận Báo cáo rồi ra Nghị quyết với nội dung tương tự:

“Ngày nay, nước nhà đã hoàn toàn độc lập thì Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là một. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới làm cho nhân dân ta vĩnh viễn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, có cuộc sống văn minh, hạnh phúc. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại cho nhân dân ta quyền làm chủ đầy đủ, mới làm cho Tổ quốc ta độc lập, tự do vững chắc và ngày càng giàu mạnh.

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thành quả vĩ đại của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân ta, có lịch sử hết sức vẻ vang, có tiềm lực dồi dào, có tiền đồ xán lạn, là một tiền đồn bất khả xâm phạm của hệ thống xã hội chủ nghĩa, là nhân tố quan trọng của hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội ở Đông Nam châu á và trên thế giới.”

Bây giờ nhìn lại sau 39 năm ngày Lê Duẩn đưa ra lập luận cực kỳ bảo thủ “dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một” và Nghị quyết cũng khẳng định“Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là một” thì đảng CSVN đã đưa đất nước đi về đâu trong thế giới không còn Đế quốc Cộng sản nữa ?

Trước mắt, Việt Nam đang đứng sau nhiều nước trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương từ kiến thức đến nghề nghiệp và khả năng lao động.

NHỮNG CON SỐ XẤU HỔ

Báo Giáo Dục ngày 11/12/2014 viết: “Theo thống kê mới đây của Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN), cả nước có 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ. So với năm 1996 đội ngũ này tăng trung bình 11,6%/năm, trong đó tiến sĩ tăng 7%/năm, thạc sĩ tăng 14%/năm.”

Tuy nhiên trình độ học vấn và khả năng thực tế của những người được phong hàm Tiến sỹ không phù hợp với tiêu chuẩn của các nước có nền giáo dục tân tiến và truyền thống. Bằng Tiến sỹ của Việt Nam có đem rao bán cũng khó kiếm được người mua.

Trong lĩnh vực sáng chế, bài báo cho biết: “ Một thống kê khác của Bộ KHCN cho thấy, trong 5 năm (2006 – 2010) cả nước chỉ có khoảng 200 bằng sáng chế, giải pháp hữu ích được cấp tại Cục Sở hữu trí tuệ và chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng kí tại Mỹ, trung bình mỗi năm có một bằng sáng chế; riêng năm 2011, nước ta không có bằng sáng chế nào được đăng kí tại đây.

Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore (4,8 triệu dân) có 647 bằng sáng chế. Đứng thứ hai là Malaysia (27,9 triệu dân) với 161 bằng sáng chế; Thái Lan (68,1 triệu dân) có 53 sáng chế. Còn một nước có số dân và trình độ phát triển tương đương nước ta là Philippines cũng có tới 27 bằng sáng chế.”

Bái báo kết luận: “Theo nhận định của giới chuyên gia, Việt Nam được xếp vào nước có nhiều tiến sĩ trong khu vực, nhưng nghiên cứu khoa học lại nằm trong nhóm thấp nhất Đông Nam Á. Chúng ta vẫn thiếu các công trình khoa học có tầm cỡ khu vực và ít các sáng chế.”

Năng suất lao động VN cũng bị xếp vào nhóm thấp nhất Châu Á – Thái Bình Dương, tại sao ?

Báo Lao Động trích lời ông Vũ Quang Thọ – Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn (Tổng LĐLĐVN) nói ra những nguyện nhân: “

Thể lực, sức khỏe LĐVN hạn chế; chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung, các trường nghề nói riêng còn kém; chế độ đãi ngộ hiện nay mà tập trung là chính sách tiền lương chưa hợp lý…, trong đó trước hết là chúng ta thua do còn ít được sử dụng công nghệ cao.

Theo ông Thọ, hệ thống máy móc, thiết bị sản xuất ở nước ta hiện nay nói chung là đã quá lỗi thời, lạc hậu. Có những máy móc, thiết bị từ thời Liên Xô mà các nước đã thay thế từ lâu, nhưng đến nay chúng ta vẫn phải dùng. Bởi chưa tiếp cận được công nghệ cao nên kỹ năng, tay nghề bậc cao của LĐVN còn thấp, dẫn đến năng suất lao động còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực là chuyện đương nhiên.”

Về tiền lương công nhân Việt Nam mỗi tháng trung bình của năm 2012 là 3,8 triệu đồng tương tứng ứng 181 đôla Mỹ.

Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về tiền lương toàn cầu 2014-2015 thì: “ Con số này chỉ cao hơn so với Lào (119), Campuchia (121) và Indonesia (174). Trong khi đó, mức lương này chỉ bằng khoảng một nửa so với Thái Lan, chưa bằng một phần ba của Malaysia và chỉ bằng khoảng một phần hai mươi của Singapore (hơn 3.500 đôla.”

THUA CẢ CAO MIÊN-LÀO

Song song với những con số không vui này, Việt Nam còn phải đương đầu với đe dọa qua mặt của Kampuchia (Cao Miên).

Báo Đất Việt viết trong số ra ngày 13/10/2014: “ Trên thực tế nhiều bằng chứng như tăng trưởng nền kinh tế, thu hút FDI (Foreign Direct Invesment,đầu tư trực tiếp từ nước ngoài) , công nghiệp ô tô, thậm chí nông nghiệp như lúa gạo… đều cho thấy Việt Nam đang thua kém Campuchia.”

Điều này cũng được Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng cảnh giác tại phiên họp về cải cách thủ tục hành chính ngàyy 25/3 (2015) tại Hà Nội. Ông nói: “Chúng ta giờ đang đứng chót ở ASEAN-6, có cái còn thấp hơn Lào, Campuchia, Myanmar thì làm sao đất nước mình, dân tộc mình chấp nhận được”

ASEAN-6 gồm 10 nước của ASEAN là: Brunei,Cao Miên, Nam Dương (Indonesia), Lào, Mã Lai Á (Malaysia), Myanma ( Burma,Miến Điện), Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Thái Lan và Việt Nam. 6 nước trong khu vực Á châu-Thái Bình Dương gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Hàn, Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan (New Zealand).

Báo Đất Việt viết tiếp: “Đáng ngạc nhiên hơn, Campuchia đã vui mừng đón chiếc ôtô “Angkor EV 2014″ tự sản xuất đầu tiên. Chiếc ô tô lấy tên ngôi đền cổ Angkor của Campuchia này được điều khiển bằng điện thoại thông minh và thẻ căn cước tần số rađiô (RFID) có trang bị hệ thống GPS, có vận tốc tối đa 60km/giờ và do nhà sáng chế Nhean Phaloek địa phương thiết kế.

Đây được coi là thành tựu lớn của ngành chế tạo còn non trẻ của Campuchia, đất nước vốn phụ thuộc nhiều vào hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc, Thái Lan…

Còn tại Việt Nam, thời gian vừa qua Madaz rồi đến Ford đã từ bỏ những dự án từ 700 triệu đến 1 tỷ USD sản xuất ô tô ở Việt Nam vì không thể tìm mua các linh kiện đơn giản như ốc vít, dây diện hay đồ nhựa.

Các dự án đó được chuyển sang các nước lân cận sản xuất rồi nhập khẩu xe về Việt Nam với giá đắt.”

Dưới tiêu đế “Kinh tế Việt Nam không sáng tạo bằng Lào”, báo Đất Việt cảnh báo tiếp: Việt Nam đang bị đánh giá thấp về nhân lực, giáo dục, số bằng sáng chế và ấn bản khoa học thấp hơn so với Lào.

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và tổ chức nghiên cứu Economist Intelligence Unit (EIU) công bố báo cáo Chỉ số Năng suất Sáng tạo (CPI) của 22 nền kinh tế châu Á, bổ sung Mỹ và Phần Lan (nhằm mục đích so sánh).

Báo cáo này đo khả năng sáng tạo của các nước – yếu tố quan trọng trong việc củng cố nền kinh tế phát triển dựa trên tri thức.

Theo đó, trong bảng xếp hạng, Việt Nam đứng thứ 16 trên 24 nước. Khả năng sáng tạo được đánh giá chỉ ở mức trung bình, với cả “Đầu vào” và “Đầu ra” đứng ở nửa cuối danh sách. Tính riêng khu vực Đông Nam Á, Việt Nam xếp thứ 6, sau Lào, Singapore, Indonesia, Malaysia và Thái Lan.”

Như vậy, Lãnh đạo đảng và Nhà nước Việt Nam có đỏ mặt tiá tai không hay còn muốn đọc tiếp bài trên báo Nông nghiệp Việt Nam (NNVN) ngày 29/01/2015 ?

Bài báo mở đầu: “Người Việt Nam có “thành tích” uống bia đứng đầu khối ASEAN, nhưng lại có năng suất lao động đứng hàng cuối trong khối ASEAN và đứng bét bảng so với các nước châu Á – Thái Bình Dương.”

Trích báo cáo của Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam (VBA) và Tổ chức nghiên cứu thị trường Eurowatch, báo NNVN cho biết: “Theo VBA, năm 2014, sản lượng sản xuất và tiêu thụ bia tại Việt Nam tăng 3% so với năm 2013, đạt 3,1 tỷ lít. Còn theo Eurowatch, thì trong hai năm 2012 và 2013, mỗi năm, bình quân một người dân Việt Nam uống hết 32 lít bia. Tức là mỗi năm cả nước tiêu thụ 3 tỷ lít bia, tương đương 3 tỷ USD.

Mức tiêu thụ bia của người Việt Nam đứng đầu ASEAN và đứng thứ ba châu Á, chỉ thua Trung Quốc và Nhật Bản. Đó là chỉ nói riêng về bia. Nếu tính cả rượu, thì con số đó chắc chắn còn nhiều hơn nữa.”

CÓ LÝ DO GÌ TỒN TẠI ?

Báo NNVN cho biết: “Lượng bia tiêu thụ trong nước lên đến 3,1 tỷ lít trong năm 2014, chứng tỏ người Việt Nam càng ngày càng uống bia khỏe hơn (năm 2012 và 2013 mỗi năm có 3 tỷ lít), trong lúc nền kinh tế suy thoái, có đến 67.800 doanh nghiệp phá sản và ngừng hoạt động trong năm 2014.

Người Việt Nam có “thành tích” uống bia đứng đầu khối ASEAN, nhưng lại có năng suất lao động đứng hàng cuối trong khối ASEAN và đứng bét bảng so với các nước châu Á – Thái Bình Dương. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) thì năng suất lao động của một lao động cùng ngành nghề của Việt Nam chỉ bằng 2/5 một lao động Thái Lan, bằng 1/5 một lao động Malaysia và bằng 1/15 một lao động Singapore. Chỉ có khoảng 20% lao động của Việt Nam là được đào tạo chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, còn lại, 80% là lao động phổ thông, lao động trình độ thấp.”

Với những con số xấu hổ như thế, nhất là đối với nhân dân hai nước láng giềng luôn luôn đi sau Việt Nam là Kampuchia (Cao Miên) và Lào thì đảng Cộng sản Việt Nam có còn xứng đáng được dân tín nhiệm nữa không ?

Ông Lê Duẩn đã chết 29 năm và đảng Cộng sản Việt Nam đã có thêm 6 đời Tổng Bí thư gồm Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng mà Việt Nam vẫn chưa làm nổi con ốc vít thì đảng CSVN còn hãnh diện gì với mớ tư duy mơ hồ cố đấm ăn xôi để “qúa độ lên xã hội chủ nghĩa” ?

Thiết nghĩ những con số u ám về khả năng sáng tạo và xây dựng đất nước đã xóa tan lời mộng du của ông Lê Duẩn năm 1976 cho rằng “Có chủ nghĩa xã hội, Tổ quốc ta mới có kinh tế hiện đại, văn hoá, khoa học tiên tiến.”

Và tất nhiên, Ban Chấp hành Trung ương IV cũng đã qúang gà khi nói rằng: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại cho nhân dân ta quyền làm chủ đầy đủ, mới làm cho Tổ quốc ta độc lập, tự do vững chắc và ngày càng giàu mạnh.”

Nhưng nhân dân Việt Nam 90 triệu người sống trong chế độ độc tài hà khắc của đảng CSVN đã được thực thi quyền làm chủ đất nước của mình từ bao giờ ?

Tại sao nhân dân đứng lên xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược và đánh đập ngư dân Việt Nam ở Biển Đông từ 2007 đến 2012 đã bị Công an đàn áp, bắt tù và hù họa ?

Và cũng tại sao đảng lại cấm dân không được tổ chức tưởng niệm các chiến sỹ và đồng bào đã hy sinh trong các trận chiến chống quân Trung Quốc xâm lược ở Hòang Sa, mặt trận biên giới 6 tỉnh phiá Bắc và trận chiến Trường Sa năm 1988 ?

Thái độ qụy lụy và hành động không minh bạch từ năm 1999 về lãnh thổ và biển đảo của Lãnh đạo CSVN với Trung Quốc cũng sẽ có ngày được bạch hoá với lịch sử và quốc dân.

Lãnh đạo đảng cũng cần phải sờ lên gáy xem các quyền tự do dành cho dân ghi trong các Hiến pháp từ 1946 đến 2013 đã được thi hành như thế nào, hay chỉ hình thức, phù phiếm trong bàn tay phù thủy của cường quyền và bạo lực ?

Xét từ tư duy lấy Chủ nghĩa xã hội Cộng sản làm nền tảng xây dựng đất nước của Đại hội đảng IV, đảng CSVN đã không ngừng hủy họai đất nước và con người Việt Nam trong mọi lĩnh vực từ luân thường đạo lý đến xây dựng xã hội và kiến thiết đất nước.

Chưa bao giờ nhân dân Việt Nam bị làm nô lệ cho tư bản nước ngoài dưới dạng làm thuê như hiện nay. Cũng chưa bao giờ tài nguyên, khoáng sản của đất nước, trong đó có Bauxite bị đào bới đem bán cho nước ngoài, chủ yếu là Trung Quốc nhiều như thời đảng Cộng sản cầm quyền.

Càng nguy hiểm hơn, nhà nước Việt Nam cũng đã không kiểm soát được số hàng lậu, kể cả hàng hoá độc hại của Trung Quốc tràn vào Việt Nam mỗi ngày làm tê liệt Doanh nghiệp Việt Nam.

Nhiều ngàn người Trung quốc nhập cư bất hợp đang lập xóm, lập phố hay đang làm công cho các cơ xưởng của người Tầu trên đất nước Việt Nam cũng không được kiểm soát nghiêm ngặt.

Ở Biển Đông, trên thực tế Việt Nam đã mất quyền làm chủ ở Hòang Sa và một phần quan trọng ở Trường Sa.

Tất cả những thay đổi này đều xẩy ra cho nhân dân Việt Nam từ khi có kết luận của ông Lê Duẩn và Đại hội đảng IV, cốt lõi là phải bảo vệ Chủ nghĩa xã hội Cộng sản bằng mọi giá.

Và mặc dù sau đó, trong giai đọan chuyển tiếp giữa hai Tổng Bí thư đảng Trường Chinh và Nguyễn Văn Linh (1985-1986), chủ trương “đổi mới” nhằm “xoá bỏ kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấpthời Lê Duẩn “sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường” nhưng vẫn phải ”có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Từ đó đến nay, đảng CSVN đã làm theo đường lối của Trung Quốc nhất quyết “không đổi mới Chính trị” để bảo vệ quyền cai trị độc tôn và độc tài cho mình mà thôi. Đảng cũng chống “đa nguyên đa đảng”, chống tư nhân ra báo và độc quyền báo chí, truyền thông.

Giờ đây, ở thời điểm năm 2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Ban Tuyên giáo Trung ương vẫn ra bài tập huấn cho cán bộ, đảng viên chuẩn bị Đại hội đảng XII với tư duy tuyệt đối trung thành với Cương lĩnh thoái trào 1991 (được bổ sung, phát triển năm 2011), tiếp tục “lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng (Cộng sản) Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” xây dựng đất nước.

Thật khôi hài là trong Cương lĩnh này, đảng CSVN vẫn còn mơ màng viết rằng: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.”

Lập luận này có khác gì cơn mộng du của Lê Duẩn và Ban Chấp hành Trung ương IV đã ghi vào Nghị quyết năm 1976: “Nhất định giai cấp công nhân sẽ đánh bại mọi thế lực phản động và sớm muộn sẽ vĩnh viễn loại trừ chủ nghĩa tư bản ra khỏi đời sống xã hội.”

Cũng tại Đại hội IV, ông Lê Duẩn và đảng CSVN đã huyênh hoang “ai thắng ai” sau cuộc chiến Việt Nam, nhưng sau 39 năm, rất tiếc ông Lê Duẩn đã không còn sống để thấy Thế giới Cộng sản đã tan rã và một bộ phận không nhỏ nhân dân Việt Nam không còn muốn liên hệ máu thịt với đảng nữa.

Phạm Trần

Read more

Thế thái nhân tình là thế

VRNs (27.03.2015) – Đồng Nai – Nhân tình thế thái hoặc thế thái nhân tình là những tình người và thói đời được thể hiện qua thơ ca văn học. Nó phản ánh về lối sống, về cách ứng xử của người đương thời qua câu thơ bài hát. Nhưng đáng tiếc chuyện thế thái nhân tình được ghi lại dường như chỉ là những thói đời thay trắng đổi đen, lừa dối, và lắm thị phi. Nó phản ánh về những chuyện tiêu cực nhiều hơn là tích cực. Nguyễn Công Trữ ngày xưa khi nhìn vào đời cũng ngán ngẩm than rằng:

Thế thái nhân tình gớm chết thay

Lạt nồng trông chiếc túi vơi đầy

Tình người dễ phôi pha. Cuộc sống thì bon chen, tranh dành, đầy khổ ải cũng chì vì lắm bất công.

Hễ không điều lợi, khôn thành dại

Ðã có đồng tiền dở cũng hay

Ở trong cuộc đời lắm thị phi ấy con người phải khôn ngoan chưa đủ mà còn phải khôn ranh, ma mãnh:

Khôn khéo chẳng qua ba tấc lưỡi

Hẳn hoi không hết một bàn tay

Chung quy sự đời vẫn là bạc bẽo và mong manh của tình người:

Suy ra cho kỹ chi hơn nữa

Bạc quá vôi mà mỏng quá mây.

150326002

Nhìn thế thái nhân tình mà ngán ngẩm, cuộc sống quá khắc nghiệt, lòng người đổi trắng thay đen khiến nhiều khi chúng ta chẳng dám tin vào một ai. Tình nghĩa hôm qua, hôm nay hóa hận thù, ganh ghét nhau, hãm hại nhau cũng chỉ vì một chút danh, một chút bổng lộc trần gian.

Cuộc đời Chúa Giê-su dường như cũng trải qua những chuyện thế thái nhân tình lắm đổi thay ấy. Mới hôm qua họ no say bổng lộc Chúa. Họ tung hô Chúa. Họ ca ngợi Chúa. Và hôm sau cũng chính những con người ấy khi mất bổng lộc, khi không còn thấy Chúa là mối lợi nên đã quay lưng. Họ dửng dưng trước bất công mà Chúa phải chịu. Họ còn toa rập với phường gian ác để la hét đòi đóng đinh Ngài vào thập giá.

Đúng như có ai đó đã nói:

Chút lợi danh, tính toan mưu kế

Mà lãng quên chữ nghĩa, chữ nhân

Con người chỉ kết bạn bè với những ai có lợi cho họ và dường như lại luôn xa lánh những ai không có lợi, và càng bỏ rơi những ai đang lâm cảnh bi ai. Con người thường tính toán khi giao tiếp, thường tìm bạn khi có lợi và rời xa nhau khi mối lợi không còn:

Vẫn chạy theo sa hoa, hào nhoáng

Người sang kết bạn, kẻ khó quay lưng

Tính chi li xem có lợi cho mình

Thì miệng mới cười, nói lời nhân ái

Dân thành Giê-ru-sa-lem tính thật chi li. Họ sum vầy quanh Chúa khi Chúa làm phép lạ. Họ bỏ rơi Chúa khi Ngài chịu đóng đinh. Họ tung hô Chúa khi muốn Chúa làm vua để tìm mối lợi. Họ kết án Chúa để Chúa chịu chết thay cho cả dân tộc . . .

Con người hôm nay cũng tính với Chúa thật chi li. Họ đến với Chúa tính từng giây. Họ sum vầy bên nhau quanh ly rượu thâu đêm. Họ bám vào Chúa khi gặp gian nan. Họ rời xa Chúa để tìm kiếm công danh tiền tài.

Con người hôm nay tính toán với Chúa nên họ cũng tính toán với nhau. Có bao nhiêu người sống với nhau lấy tình nghĩa làm đầu? Liệu rằng ở giữa hàng ngàn, hàng vạn người kia có mấy ai là tri kỷ, mấy ai là người thật lòng đáng cho ta tin tưởng? có tiền là có tất cả nhưng có mấy ai đem tiền để mua lấy nghĩa nhân? Tình người dường như không được mua và càng không thể cho không.

Xin Chúa giúp chúng ta biết đi vào tuần thương khó trong sự hy sinh hãm mình để đồng cảm với Chúa Giê-su. Xin cho chúng ta cũng đừng bao giờ lấy tình yêu để mà cân đo đong đếm. Vì tình yêu luôn phải cho không, biếu không mới là tình yêu đích thực. Ước gì chúng ta luôn là người môn đệ trung tín với Chúa dầu phải bước đi trong khổ giá vẫn trung kiên. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Read more

Bước tiếp (10): Tính dục và tâm linh

VRNs (27.03.2015) – Sài Gòn – Ý nghĩ rằng có một mối quan hệ giữa tính dục và tâm linh có thể gây ‘sốc’ đối với một số người – ít là đối với những ai chưa bao giờ đọc Bài Ca của Sa-lô-môn trong Thánh Kinh – bài ca bắt đầu bằng: “Ước gì chàng hôn ta những nụ hôn đắm đuối của môi miệng chàng...” Khúc Diễm Tình Ca này – như tên gọi đầy đủ hơn của nó – là một cuộc thoại rất sâu sắc và rất gợi tình giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Thế nhưng, có một nếp nghĩ nào đó lại đồng hóa giới tính và tính dục với ma quỉ – cho rằng ma quỉ cám dỗ chúng ta thèm khát những khoái cảm tội lỗi của xác thịt. Trong bối cảnh ấy, mối quan hệ giữa tính dục và tâm linh chỉ có thể là một mối quan hệ chiến tranh, trong đó bên này phải thắng dẹp bên kia. Nhưng tôi cho rằng nếu có xung đột giữa tâm linh và tính dục thì phải hiểu sự xung đột ấy kiểu như sự cãi cọ giữa hai người yêu nhau hay như cuộc tranh chấp nào đó giữa hai chị em ruột – tức những loại xung đột có thể được vượt qua xét một mức nào đó.

150314009

Nếu bắt đầu bằng cách đặt vấn nạn tính dục là gì, thì ngay lập tức chúng ta húc phải bức tường đá của khoa học. Là những con người ở cuối thế kỷ 20, chúng ta biết cách bay lên khỏi mặt đất để đi vào không gian, nhưng xét trên quan điểm khoa học thì chúng ta chưa biết mô tê gì về cái gọi là những khác biệt hay những tương đồng phi thể lý (nonanatomical) giữa người nam và người nữ. Tôi có cảm tưởng rằng ở đây, một lần nữa, thần thoại có thể là thầy dạy tuyệt vời cho chúng ta – tuyệt vời hơn nhiều so với khoa học.

Một trong những chủ đề căn bản của thần thoại là sự kiện chư thần lo sợ con người trở nên giống như chư thần, và huyền nhiệm về tính dục có liên quan đến chủ đề này. Thần thoại này bảo chúng ta rằng ban đầu con người vốn là những sinh vật lưỡng tính, thống nhất. Nhưng rồi, nhờ đặc tính đó, con người đã nhanh chóng đạt được sức mạnh và đe dọa lấn lướt chư thần. Vì thế chư thần tách con người ra làm đôi – nam và nữ. Từ đó, con người – chỉ là một nửa – không còn có khả năng cạnh tranh với chư thần. Cũng từ đó, con người cảm thấy bất túc, cảm thấy khao khát sự trọn vẹn mà mình đã bị tước mất. Con người mãi mãi kiếm tìm ‘nửa kia’ của mình, hy vọng rằng trong khoảnh khắc hiệp nhất với nửa kia, mình sẽ kinh nghiệm lại được niềm vui sướng mà mình đã đánh mất, niềm vui sướng của tình trạng trọn vẹn gần giống như chư thần.

Như vậy, ít nhất là theo thần thoại này, tính dục của chúng ta phát nguyên từ một cảm thức bất toàn, và nó được biểu hiện bởi khát vọng được nên trọn vẹn, khát vọng trở nên thần thánh. Thế nhưng tâm linh của chúng ta là gì nếu không phải cũng là cảm thức bất toàn và cũng là khát vọng nên trọn vẹn, nên thần thánh?

Dĩ nhiên, tính dục và tâm linh rõ ràng không phải là cùng một thực tại. Chúng không phải là hai anh em sinh đôi giống hệt nhau, nhưng chúng là những anh em họ gắn bó với nhau. Và chúng bật ra từ cùng một gốc – không phải chỉ từ thần thoại mà còn từ kinh nghiệm thực tế của con người nữa.

Thực tế cho thấy kinh nghiệm giới tính là kinh nghiệm gần gũi nhất với tâm linh. Chính vì trong kinh nghiệm giới tính có sắc thái tâm linh mà rất nhiều người cố săn đuổi nó, dù bao phen trầy trật. Dù người ta có ý thức hay không, thì những cuộc săn đuổi đó cũng thường là những cuộc săn đuổi chính Thiên Chúa. Chẳng có gì lạ khi ngay cả những người vô thần hay những người bất khả tri, trong khoảnh khắc của khoái lạc tột đỉnh, vẫn thốt lên được rằng “Ôi, lạy Chúa!”

KHOÁI LẠC TỘT ĐỈNH – MỘT KINH NGHIỆM THẦN BÍ

Nhà tâm lý lừng danh Abraham Maslow có lần quyết định thay vì nghiên cứu những người bệnh, ông sẽ nghiên cứu những người đặc biệt lành mạnh – người đặc biệt lành mạnh là người có một đời sống dường như hoàn toàn nhất quán, dường như phát huy trọn vẹn các tiềm năng của mình và trở thành con người hết sức sung mãn. Hình như trong khoảng mười ngàn người thì mới tìm được một người như thế. Maslow gọi họ là “những người đã tự hiện thực được mình” (22). (Tôi thấy nên sửa lại là “những người đã góp phần hiện thực được mình” (23) thì đúng hơn). Nghiên cứu những người ấy, Maslow tổng hợp được khoảng 13 đặc điểm chung. Một trong những điểm ấy là rằng họ thường kinh nghiệm khoái lạc tột đỉnh như một sự kiện tâm linh, thậm chí một sự kiện thần bí.

Một lần nữa, từ “thần bí” nói trên không chỉ là một loại suy. Đã bao đời nay, các nhà thần bí đã nói về một sự chết đi chính mình như điều kiện thiết yếu cho cuộc hành trình tâm linh thần nhiệm, hay thậm chí như mục tiêu, như cứu cánh của chính hành trình thần nhiệm ấy. Và hẳn bạn cũng biết rằng tiếng Pháp thường nói “la petite mort” – (cái chết nhỏ) – để qui chiếu đến khoái lạc tột đỉnh.

Chất lượng chủ quan của kinh nghiệm khoái lạc tột đỉnh dĩ nhiên phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của mối quan hệ giữa hai người trong cuộc. Vì thế, nếu bạn muốn kinh nghiệm được khoái lạc tột đỉnh tối đa, thì tốt nhất là bạn nên tìm kiếm nó với người mà bạn yêu sâu sắc. Nhưng, trong khi một mối quan hệ yêu thương nồng nàn là yếu tố cần để đem chúng ta tới đỉnh cao thần nhiệm của kinh nghiệm khoái lạc tột đỉnh, thì chính lúc đạt tới đỉnh cao đó, chúng ta thực sự mất hẳn ý thức về người kia. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi của cái chết nhỏ ấy, chúng ta quên mất mình là ai và mình đang ở đâu. Tôi cho rằng đấy bởi vì chúng ta đã thực sự rời khỏi mặt đất này và đã bước vào thế giới của Thiên Chúa.

Như Ananda Coomaraswami nói: “Trong phút giây đưa nhau đạt tới đỉnh cực lạc ấy, người này không còn có ý nghĩa gì cho người kia hơn là cánh cổng Thiên Đàng để người kia bước vào.” Hay như Joseph Campbell diễn tả: “Khi người ta lạc mất chính mình trong cái đê mê ngây ngất của tình yêu, thì người kia trở thành chỉ là một cánh cổng đền thờ để mình bước qua và đi đến tận bàn thờ.”

Vì thế, trong kinh nghiệm tính dục có tiềm mặc kinh nghiệm tôn giáo. Vậy thì phải chăng trong kinh nghiệm tôn giáo cũng có sắc thái tính dục? Tôi không nghĩ là ngẫu nhiên sự kiện rằng trong lịch sử, đa số những khúc thơ gợi tình nhất đều được viết bởi các thầy dòng và các nữ tu. Bài thơ Đêm Tối rất nổi tiếng của Thánh Gioan Thánh Giá là một ví dụ:

  1. One dark night,

fired with love’s urgent longings

- ah, the sheer grace! –

I went out unseen,

my house being now all stilled.

  1. In darkness and secure,

by the secret ladder, disguised,

- ah, the sheer grace! -

in darkness and concealment,

my house being now all stilled.

  1. On that glad night,

in secret, for no one saw me,

nor did I look at anything,

with no other light or guide

than the one that burned in my heart.

  1. This guided me

more surely than the light of noon

to where he was waiting for me,

- him I know so well –

there in a place where no one appeared.

Hãy chú ý sự hòa quyện giới tính trong các khổ thơ sau đây:

  1. O guiding night!

O night more lovely than the dawn!

O night that has united

the Lover with his beloved,

transforming the beloved in her Lover.

  1. Upon my flowering breast

which I kept wholly for him alone,

there he lay sleeping,

and I caressing him

there in a breeze from the fanning cedars.

  1. When the breeze blew from the turret,

as I parted his hair,

it wounded my neck

with its gentle hand,

suspending all my senses.

  1. I abandoned and forgot myself,

laying my face on my Beloved;

all things ceased; I went out from myself,

leaving my cares

forgotten among the lilies.

Tôi cho rằng đoạn cuối cùng của bài thơ trên – mô tả sự hiệp nhất thần nhiệm có thể có giữa con người và Thiên Chúa – cũng rất tuyệt vời nếu được dùng để mô tả kinh nghiệm khoái lạc tột đỉnh của con người: “Tôi bỏ mất mình, tôi quên mất mình … tất cả đều ngừng lại … Tôi ra khỏi con người tôi …”

Qua gặp gỡ với các tu sĩ, tôi nhận thấy rằng những tu sĩ tuyệt vời nhất chính là những tu sĩ yêu Thiên Chúa nồng nàn nhất. Và để yêu Thiên Chúa cách nồng nàn, bạn phải là một con người nồng nhiệt, đam mê. Vậy thì tại sao những con người như thế lại chọn sống đời khiết tịnh hay độc thân?

Có hai lý do. Thứ nhất, bởi vì ‘sex’ có thể làm kẹt các mối quan hệ. Khi chúng ta xem kẻ khác chỉ như một đối tượng tình dục, thì chúng ta có khuynh hướng sâu xa muốn sử dụng kẻ ấy. Mặc dù những kiểu thức sử dụng như thế nơi nam giới và nữ giới không giống nhau, nhưng mỗi chúng ta đều có một khuynh hướng sử dụng đối tượng tình dục trong cuộc đời mình theo những cách ám tàng (nếu không lộ liễu), giảo hoạt và vị kỷ.

Đã có những thí nghiệm về việc xây dựng các dòng tu không độc thân, nhưng cho đến nay tất cả đều thất bại. Vì thế, những ai quyết tâm quan hệ với tha nhân một cách bảo đảm và một cách có sức chữa trị thì thường quyết định rằng một tính dục tiết chế cao, chẳng hạn cuộc sống độc thân hay khiết tịnh, là cái giá mà mình phải trả. Và thường họ sẽ nhận thấy rằng cái giá ấy thật rất đáng trả.

ẢO TƯỞNG VỀ TÌNH YÊU LÃNG MẠN

Trong Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi, tôi phân biệt rõ giữa tình yêu (mà tôi định nghĩa là việc quan tâm đến sự trưởng thành tinh thần của người khác) và tình yêu lãng mạn (mà tôi cho rằng chính là một dạng tự yêu). Tất cả lý tưởng tình yêu lãng mạn của người Mỹ thời nay chủ trương rằng một cách nào đó Cinderella cần phải cuốn gói ra đi với hoàng tử của nàng, đến tận chân trời của những đỉnh khoái lạc bất tận. Đó là một ảo tưởng. Tình yêu lãng mạn được người ta ưa chuộng hơn nhiều so với tiền thân của nó trong lịch sử là những cuộc hôn nhân được dàn xếp. Tuy nhiên bất cứ ai tin rằng mình có khả năng lãng mạn mãi mãi trong một mối quan hệ thì sẽ phải tức tưởi vỡ mộng. Thật vậy, tôi cho chính việc tìm kiếm Thiên Chúa trong những mối quan hệ lãng mạn của con người là một trong những vấn đề lớn nhất của chúng ta hiện nay, trong nền văn hóa này, cũng như trong các nền văn hóa khác.

Chúng ta nhìn chồng (hay vợ) hay người tình của chúng ta như một ‘thiên chúa’ đối với chúng ta. Chúng ta kỳ vọng vợ/chồng hay người tình mình đáp ứng tất cả những nhu cầu của mình, lấp đầy mình, đưa mình đến một thiên đàng trường cửu trên mặt đất này. Và điều đó bất thành. Một trong những lý do điều đó bất thành – dù ta có ý thức hay không – đó là vì chúng ta đang vi phạm Điều Răn Thứ Nhất: ‘Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ngươi sẽ không có bất cứ một thần nào khác trước mặt Ta.”

Tuy nhiên, cũng là điều rất tự nhiên việc chúng ta làm thế. Thật là tự nhiên việc muốn có một thiên chúa khả giác, một thiên chúa mà chúng ta không chỉ có thể nhìn thấy, đụng chạm, mà còn có thể giữ lấy, ôm ghì lấy, ngủ với, và thậm chí chiếm hữu lấy nữa. Thế là, chúng ta tiếp tục nhìn người bạn đời hay người tình mình như một thiên chúa đối với mình – và trong tiến trình đó, chúng ta quên mất về Thiên Chúa thực.

Vì thế, một lý do khác nữa làm cho các tu sĩ chọn sống đời độc thân – đó là vì họ không muốn tình yêu của họ đối với Thiên Chúa bị chi phối. Họ không muốn làm mồi cho ngẫu tượng là tình yêu lãng mạn của con người. Họ biết rằng – như Thánh Augustinô nói: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, và chúng con vẫn còn khắc khoải bao lâu chưa được nghỉ yên trong Chúa.” Và điều đó là có thể được, nếu mối quan hệ số một của họ là quan hệ với Thiên Chúa – đến nỗi họ không cần tìm kiếm quan hệ nào khác nữa.

TÍNH GỢI TÌNH CỦA TÂM LINH

Tôi không có ý thổi phồng lên rằng đời sống độc thân là điều kiện cần thiết cho sự trưởng thành tâm linh. Trái lại, tôi nhiệt liệt hoan nghênh không chỉ tính dục mà cả tình dục nữa. Tôi thích tình dục và tôi thích người ta có tình dục.

Cách đây hơn chục năm, sau nhiều tháng làm việc với một phụ nữ khô khan, lãnh cảm ở độ tuổi 34 hay 35, tôi có cơ hội chứng kiến chị trải qua một cuộc cải hóa Kitô giáo rất bất ngờ và sâu sắc. Và nội trong ba tuần sau biến cố thay đổi ấy, chị bắt đầu đạt được khoái cảm tột đỉnh lần đầu tiên trong đời chị. Đó có phải là một trùng hợp ngẫu nhiên không? Tôi tin chắc là không. Như một người bạn tôi có lần nói: “Phần giới tính và phần tâm linh trong nhân cách chúng ta nằm sát gần nhau đến nỗi hầu như không thể kích động phần này mà không kích động phần kia.” Tôi không nghĩ là chuyện ngẫu nhiên việc người phụ nữ ấy có khả năng dấn mình trọn vẹn cho Thiên Chúa và ngay sau đó chị có khả năng dấn mình trọn vẹn cho chồng chị. Tạ ơn Chúa!

Tôi có một người bạn khác, một linh mục, đã thực tế dùng hiện tượng này như một thước đo lòng hoán cải của người ta. Linh mục ấy nói với tôi rằng nếu một cuộc hoán cải xảy ra nơi một cá nhân vốn bị ức chế tình dục – và sau đó không có kèm theo một sự ‘thức dậy’ nào đó trong tình dục của đương sự, thì chúng ta có lý do để nghi ngờ chiều sâu hoán cải của anh ta (hay cô ta).

Cũng vậy, hẳn bạn nghe những câu chuyện về các vị mục tử trở nên ‘dính bén’ với các nữ tín đồ. Các mục tử và những người khác nếu ở trên cùng một cấp độ tâm linh rất dễ ‘dính chuyện’, một khi những đam mê ấy được kích động. Phần tôi, tôi thú nhận rằng trong nghề trị liệu tâm lý của mình, bất cứ khi nào tôi nhận ra mình đang đồng cảm sâu sắc về tâm linh với một nữ thân chủ không già quá 90 tuổi, thì tôi phải bắt đầu phải tự nhắc chừng mình rằng phải cẩn thận …!

VẤN ĐỀ PHỔ QUÁT

Tình dục là một vấn đề của mọi người. Tình dục là một vấn đề của trẻ con, của thiếu niên, của thanh niên, của người trung niên, của người lão thành. Tình dục là một vấn đề của người độc thân, của người kết hôn, của người đồng tính luyến ái và của người không đồng tính luyến ái. Tình dục là một vấn đề của thợ nề, của thợ sửa ống nước, của nha sĩ, của luật sư, của bác sĩ giải phẫu, của nhà trị liệu tâm lý, của bác sĩ tâm thần. Và tình dục là một vấn đề của Scott Peck.

Trong nhãn quan của tôi về thế giới này xét như một trại huấn luyện cho Nước Trời – một thế giới đầy những chướng ngại vật hầu như được đặt ra để giúp chúng ta học, thì chướng ngại vật mà Thiên Chúa đặt ra cách hiểm hóc nhất là tình dục. Thiên Chúa đặt vào trong chúng ta một cảm nghĩ rằng chúng ta có thể giải quyết vấn đề tình dục và rồi mãi mãi được thỏa mãn, rằng chúng ta có thể vượt qua cái vật cản này. Thật vậy, trong vài tuần hay vài tháng hay trong vài năm – nếu chúng ta may mắn – chúng ta có thể có cảm tưởng rằng mình đã giải quyết được vấn đề tình dục. Nhưng rồi, chúng ta thay đổi, hoặc người bạn tình của chúng ta thay đổi, hay cả hai đều thay đổi, và một lần nữa chúng ta lại phải cố gắng bò qua chướng ngại vật ấy với cảm nghĩ rằng mình có thể vượt qua – nhưng thực tế thì chúng ta không bao giờ có thể.

Tuy nhiên, trong tiến trình cố gắng vượt qua nó, chúng ta học biết rất nhiều về tính tế nhị và sâu sắc của tình yêu cũng như học biết cách cắt tỉa bớt tính tự yêu nơi mình. Một số trong chúng ta thậm chí có thể tốt nghiệp được trường huấn luyện này. Và nếu bạn liên hệ đến Thiên Chúa trong tiến trình ấy, cơ hội thành công sẽ càng được cải thiện hơn, và người ta có thể liên hệ đến Thiên Chúa mà không cần phải trở thành một nữ tu hay một thầy dòng.

LỜI BẠT: Tâm Thần Học Sẽ Về Đâu?

Tất cả chúng ta đều là những tác nhân của lịch sử. Chúng ta đảm nhận vai trò của mình trong lịch sử – xoay chuyển hoặc không xoay chuyển được xu thế của lịch sử. Và tại thời điểm này của chúng ta, nhiều người cảm thấy nhu cầu phải có một chuyển biến trong tâm thần học Hoa Kỳ. Trong 25 năm qua, tâm thần học của chúng ta đã vận hành một cách ngày càng bám sát vào ‘mẫu thức y khoa’- nghĩa là một mẫu thức đổ dồn sự nhấn mạnh vào những phương diện sinh học và duy vật của các bệnh tâm thần và không chú ý đủ đến các phương diện khác. Tôi không hề có ý phủ nhận những tiến bộ ngoạn mục của sinh học hơn 40 năm qua trong việc nhận hiểu và điều trị các chứng suy nhược tâm thần, tôi cũng không muốn thọc gậy bánh xe để kìm hãm những tiến bộ khác nữa trong tương lai thuộc lãnh vực này. Tuy nhiên, tôi rất ưu tư rằng tâm thần học, với chiều hướng quá nặng tính sinh hóa (biochemistry) của nó như hiện nay, có thể có nguy cơ đánh mất tất cả những tinh túy khôn ngoan của nó về tâm lý và xã hội, cũng như có thể thất bại trong việc khai phá những chân trời mới trong các địa hạt này.

Mối ưu tư của tôi không hề vu vơ. Năm 1987, tôi và một đồng nghiệp có lần giám định thực tế một ứng viên đang chuẩn bị nhận văn bằng của Hội Đồng Tâm Thần Học và Thần Kinh Học Hoa Kỳ. Đó là một anh chàng rất thông minh, gần 40 tuổi, chiếm khá nhiều cảm tình của ban giám khảo. Tuy nhiên, khi được đồng nghiệp tôi yêu cầu đưa ra phân tích động lực tâm lý của một trường hợp lâm sàng cụ thể đang xem xét, anh thản nhiên đáp: “Tôi không học về các động lực tâm lý.”Thế đó! Đã tới lúc chúng ta cần thực hiện một sự điều chỉnh căn bản.

Các khía cạnh động lực tâm lý và xã hội của các chứng suy nhược tâm thần, mặc dù gần đây xem ra bị đánh giá không đúng mức, nhưng nói chung vẫn có một chỗ đứng quan trọng trong lịch sử tâm thần học Hoa Kỳ. Còn các khía cạnh tâm linh thì chưa bao giờ giành được sự trân trọng đáng kể. Tâm thần học cho tới nay đã không chỉ thờ ơ mà còn cố ý gạt bỏ vấn đề tâm linh con người.

Thêm vào đó, có hiện tượng diễn dịch sai lạc chủ đề tâm linh. Một phần do bởi sự nghèo nàn trong ngôn ngữ của chúng ta. Trên khắp thế giới, có một sự nhập nhằng giữa mấy tiếng ‘tâm linh’, ‘tôn giáo’ và ‘tín ngưỡng’. Nhiều người đồng hóa ‘tôn giáo’ với những tôn giáo cơ chế, có một hệ thống tín lý và những qui chế mà từ đó họ thường nhận được nhiều kinh nghiệm không tốt lắm. Thật là một từ ngữ dễ sinh chuyện! Lại còn có sự bất đồng về ý nghĩa của từ Latinh ‘religio’, vốn được người ta dịch bằng đủ cách: restrain (kiềm chế), reliance (tín nhiệm), hay connection (nối kết) … Ôi, chẳng biết đâu mà lần!

Hồi đầu thế kỷ 20, tác phẩm kinh điển của nhà tâm lý lừng danh người Mỹ William James ‘Tính Đa Dạng Của Kinh Nghiệm Tôn Giáo’ là giáo trình bắt buộc đối với các sinh viên thần học năm thứ nhất, song lại không được các sinh viên của khoa tâm thần sờ đến. Trong tác phẩm ấy, James định nghĩa tôn giáo là “nỗ lực hòa điệu với một trật tự vô hình của sự vật”. Ông dùng từ ‘tôn giáo’ theo nghĩa ‘nối kết’ của nó. Cái “nỗ lực hòa điệu với một trật tự vô hình của sự vật” ấy không hề hàm nghĩa một sự thiên vị đối với bất cứ một giáo thuyết nào, cũng không ngụ ý rằng người ta cần phải gia nhập một tổ chức nào đó.

Riêng tôi, tôi tin rằng có một trật tự vô hình của sự vật ẩn ngay đằng sau bức màn duy vật. Và không chỉ con người cố gắng hòa điệu với trật tự ấy, mà chính trật tự ấy cũng tích cực tìm cách hòa điệu với con người nữa. Từ đó, tôi tin rằng ai cũng có một đời sống tâm linh, cũng như ai cũng có một vô thức vậy – dù họ thích hay không thích điều đó. Sự kiện có nhiều người phớt lờ, thậm chí phủ nhận hay tìm mọi cách lẩn tránh trật tự vô hình ấy không hề có nghĩa rằng họ không phải là những hữu thể có tâm linh; nó chỉ có nghĩa rằng họ đang cố gắng trốn tránh thực tế. Nhiều người khác có thể tự cho rằng mình vô thần và phi bác sự hiện hữu của Thiên Chúa, thế nhưng họ tin một cách mãnh liệt rằng những điều như chân lý, cái đẹp, sự công bằng xã hội … là một phần của một trật tự vô hình – và họ dấn thân cho trật tự vô hình đó với lòng hăng say cao độ hơn nhiều so với những người thường xuyên đi chùa, đi nhà thờ … Thế đó, tất cả chúng ta đềâu là những hữu thể thuộc linh (spiritual), và tôi tin rằng một khoa tâm thần không đánh giá đúng mức chiều kích tâm linh của con người sẽ chắc chắn có nguy cơ “ lỡ tàu”!

Thảo luận về đề tài tâm linh, tôi hy vọng rằng tôi không tước mất sức mạnh và tính thi vị của nó. Đối với một số chúng ta – trong đó có tôi – yếu tính của trật tự vô hình nói trên là Thiên Chúa, và chúng ta cần biết nghiêm túc với Thiên Chúa. Tôi nhớ Erich Fromm có kể câu chuyện rằng anh chàng Mordecai, một tín đồ Do Thái, cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho con biết tên thật của Chúa, như các thiên thần biết vậy!” Thiên Chúa nghe lời nguyện ấy và nhận lời, cho phép Mordecai được biết tên thật của Ngài. Thế nhưng sau đó, người ta nhìn thấy Mordecai bò trườn dưới giường, tru lên đầy sợ hãi: “Lạy Chúa, xin cho con được quên đi tên thật của Ngài!” Thiên Chúa nghe lời cầu nguyện ấy, và Ngài lại nhận lời anh ta…! Chúng ta ghi nhận một điều gì đó tương tự nơi Tông Đồ Phao-lô, khi ngài nói: “Thật là khủng khiếp việc rơi vào đôi bàn tay của Thiên Chúa hằng sống.”

Tôi không có ý làm như mình biết tên thật của Thiên Chúa. Tôi thấy câu châm ngôn của AA, Bước 3, là một câu tuyệt vời: “Hãy quyết định trao trọn ý chí và cuộc sống của chúng ta cho bàn tay Thiên Chúa như chúng ta hiểu về Ngài.”Với tất cả sự sáng suốt mà mình có được, tôi muốn khẳng quyết rằng chúng ta đang sống trên đất thánh!

Tâm thần học có sức mạnh của riêng nó. Chẳng hạn, hồi tôi còn là sinh viên – khoảng giữa thập niên 1960, khi tâm thần học có nền móng xã hội và tâm sinh lý rộng hơn ngày nay – chúng tôi được dạy một nguyên tắc vô cùng quan trọng: “Tất cả các triệu chứng đều bị xác định chắc quá.” Đó là một nguyên tắc mà nhiều người khác – các y sĩ, các thần học gia, các học giả, và phần đông đại chúng – đều rất cần phải biết. Chung qui, tôi tin rằng sự thất bại của tâm thần học Mỹ trong việc giải quyết vấn đề tâm linh tự nó là một triệu chứng bị xác định chắc quá, bắt rễ từ vô số áp lực lịch sử và từ rất nhiều yếu tố khác nữa.

——————————–

(22) self-actualized people

(23) co-actualized people

BƯỚC TIẾP TRÊN CON ĐƯỜNG CHẲNG MẤY AI ĐI

Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác

Further Along the Road Less Traveled

của M. Scott Peck

do nhà Simon & Schuster xuất bản, New York

Read more

 Trở về Nhà Cha

VRNs (27.03.2015) – Nghệ An – Như đứa con hoang đàng, sau nhiều năm khắc khoãi, kiên nhẫn, cậy trông vào tình thương của Chúa. Phút cuối đời Cụ đã được trở về trong vòng tay Chúa và giáo hội.

Đông đảo bà con Lương dân và Giáo dân đã tham dự Thánh lễ An táng, đưa tang cụ, một đám tang đầy tình người, với nhiều giai thoại về hành trình sống Đức tin của một con người mang tên Thánh Giuse.  (Giuse Nguyễn Văn Hiếu – Cố Thành).

 “Cụ sinh vào khoãng năm 1930 -1933, nguyên quán ở Nghèn (xưa gọi làTrảo Nha). Phận đời nghiệt ngã, tuổi thơ Cụ cùng em Gái “ chạy đói” tới làng Thượng Huề. Tới xin ăn trước cửa nhà Ông Tổng Trành, Cụ vào một mình (để em Gái chờ ở Ngõ), khi trở ra thì em Gái thất lạc cho tới nay.

Trãi qua bao đau khổ, ly tán của thời cải cách ruộng đất, của chiến tranh. Cụ đã xây dựng gia đình với bà Đào Thị Tửu tại làng Thượng Huề, xã vượng lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh và sinh được 6 người con. Cụ chỉ nhớ mang máng là mình đã được rửa tội và tên Thánh là Giuse.

150326003

Khoãng 7 năm trở lại đây thĩnh thoãng người ta thấy Cố Thành đi lễ quan thầy, lễ Chầu lượt bên vùng giáo.

Vào năm 2009, trong dịp Chầu Lượt giáo xứ Kim Lâm, nhiều người thấy Cố Thành thường xuyên lui tới nhà thờ Kim Lâm nhưng không vào. Thấy vậy. Thầy Tôn Đoài (Giáo Lý Viên xứ Kim Lâm) tới hỏi chuyện và được Cụ tỏ bày tâm sự: “ Tôi muốn vào nhà thờ, vào gặp Linh mục nhưng tôi sợ”. Rồi Thầy Tôn Đoài đã dẫn Cố vào gặp Cha Nga. Từ đó Cha Nga giao việc cho Thầy Tôn Đoài và Thầy Thảo dạy giáo lý và âm thầm đồng hành Đức tin với Cố Thành.

Ban đầu chỉ một vài người lưu ý, nhưng về sau có nhiều giáo dân khác đã nhiệt tâm thăm hỏi, động viên nên Cố thành và con cháu của Cố có phần yên tâm hơn.

Con đường trở về của Cố Thành đã chính thức được rộng mở khi Linh mục Fx Nguyễn Tiến Dũng tới thăm khi Cố lâm bệnh nặng.

Sau khi biết rõ sự tình với những dữ liệu của các vị tiền nhiệm và giáo dân cho biết về cuộc đời của Cụ.

Vào ngày 11/03/2015, Cha Dũng đã cử hành các bí tích cho Cố Thành và sau đó một tuần Cố đã qua đời. (Dẫn trích lời kể của Ông Thảo BHG và Thầy Tôn Đoài Giáo Lý Viên giáo xứ Kim Lâm cùng một số người khác đã đồng hành Đức Tin trong những năm cuối đời của CốThành ).

Cố Giuse Thành đã được Chúa gọi về vào chiều 18/03/2015. Thánh lễ và nghi thức An táng Cố Giuse đã được Cha Fx Nguyễn Tiến Dũng, Linh mục quản xứ Kim Lâm chủ sự, được diễn ra cách cung kính nghiêm trang vào chiều ngày 19/03/2015, tại nhà con trai út của Cố Thành với sự tham dự đông đão của bà con Lương dân và giáo dân.

Khi Cha xứ cùng mọi người tiễn đưa Cố Giuse Thành ra nghĩa trang. Chúng tôi hỏi chuyện một số người già và được Ông Đào Quang Liêm (gần 80 tuổi ) Lương dân, cán bộ hưu trí tại Làng Thượng Huề, xã Vượng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh cho biết: “ .. ở làng tôi không có ai theo Đạo cả, đây là Lễ tang người Công Giáo đầu tiên tại làng này. thật là trang nghiêm, không phân biệt Lương giáo nhiều người được tham dự Lễ và thật là nghiêm túc, cảm động lắm!

Cố Thành chết như thế thật sướng quá, vinh dự quá…” .

Rời xứ Kim Lâm, chúng tôi miên man suy nghĩ: Việc Truyền giáo ở các giáo xứ luôn cần kíp và ai cũng muốn, nhưng để khai thông những lối đi phù hợp cho từng người. đòi hỏi sự nhiệt tâm của người giáo dân tại Vùng, Miền đó.

Vì chính người giáo dân bản xứ là người hiểu rõ ngọn nghành, hoàn cảnh sống của các Dự tòng, các Hối nhân và cũng chính họ là người phù hợp để đồng hành với các Tân tòng, các Hối nhân trong những biến cố Đức tin và cuộc sống của họ.

Tuy nhiên để người Giáo dân can đảm và nhiệt tâm hơn vào công cuộc truyền giáo, đòi hỏi Cha xứ và các ban nghành trong giáo xứ đó phải công khai ủng hộ và sẵn sàng tận tụy khi cần kíp.

Trường hợp của Cố Giuse Thành trên đây là một điển hình.

Được biết khi ” Hối nhân” đã sẵn sàng thì cũng còn nhiều khó khăn, nhiều cản trở ngoại cảnh khác, nhưng khi biết rõ sự tình thì Cha xứ và các ban nghành đã nhiệt tâm vào cuộc và mọi việc đã trở thành đơn giản hơn.

Các hội đoàn trong xứ đã luôn phiên nhau thăm viếng, đọc kinh và khi biết tin Cố Thành qua đời, Cha xứ đã tới gia đình thăm hỏi, tham khảo ý kiến và tư vấn cho con cháu họ về cách thức an táng theo nghi thức Công Giáo.

Con cháu của cụ đã hiểu và yên tâm nhờ Giáo xứ lo Tang sự. Qua đó để thấy rõ việc truyền giáo đòi hỏi tình liên đới cách khiêm nhường và khôn ngoan. Đòi hỏi sự dấn thân âm thầm, vô vị lợi của mỗi người giáo dân và luôn xác tín rằng:

“Phao lô Trồng Apolo Tưới và Thiên Chúa cho mọc lên”.

Khoa Khôi, VRNs.

Read more

Ls. Võ An Đôn: Công lý đã thắng một bước

VRNs (26.03.2015) – Sài Gòn – Sau hai ngày xét xử, ngày 24.03.2015, Tòa án Nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã tuyên ‘hủy án sơ thẩm, để điều tra lại xét xử lại ‘ đối với vụ án các công an viên xã Vạn Long đánh chết em học sinh lớp 9 tên là Tu Ngọc Thạch sống ở xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Đây là một trong những ‘thành công’ của Luật sư Võ An Đôn -một trong số Ls tham gia bảo vệ quyền và lợi ích cho nạn nhân Tu Ngọc Thạch.

Tại phiên tòa phúc thẩm này, Ls Võ An Đôn yêu cầu Hội Đồng Xét Xử [HĐXX] hủy bản án sơ thẩm vì tòa án cấp sơ thẩm xử ba bị cáo về tội ‘cố ý gây thương tích’ là không đúng pháp luật. Và, đề nghị khởi tố HĐXX cấp sơ thẩm của Tòa án huyện Vạn Ninh về Tội ra bản án trái pháp luật vì đã cố ý, bao che tội phạm, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Để hiểu rõ hơn quan điểm bào chữa của Luật sư Võ An Đôn trong vụ án này, xin mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn của chúng tôi với Luật sư Võ An Đôn.

Ls. Võ An Đôn cùng với gia đình em Tu Ngọc Thạch trước Tòa án.

Ls. Võ An Đôn cùng với gia đình em Tu Ngọc Thạch trước Tòa án.

Huyền Trang, VRNs: Xin chào Luật sư Võ An Đôn. Trước hết, xin Luật sư có thể tóm tắt lại vụ án em học sinh lớp 9 “Tu Ngọc Thạch” bị các công an xã Vạn Long, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, đánh chết là như thế nào ạ?

Ls Võ An Đôn: Tối ngày 28.12.2013, em Tu Ngọc Thạch, em Lê Tấn Khỏe cùng một số người bạn cùng lứa tuổi độ khoảng 13-14 tuổi đi chơi lô tô thì bị cướp, thành ra đánh lộn nhau. Ngày hôm sau, vào ngày 29.12.2013, em Tu được người anh chở trên chiếc xe đạp, đi ngang qua quán nước đối diện UBND xã Vạn Long, gặp em Khỏe -con của một công an viên xã Vạn Long, [thấy vậy] Khỏe chạy theo và cầm theo chai nước khoáng ném trúng vào đầu em Tu Ngọc Thạch. Sau đó, hai bên đã giải hòa và đi về nhà. Hơn nửa tiếng đồng hồ sau, công an viên xã Vạn Long là Lê Minh Phát nghe nguồn tin từ đâu không biết đi tìm bắt em Thạch. Sau khi bắt được, dẫn giải em Thạch đến trụ sở công an xã Vạn Long, rồi đánh đập em. Thạch tử vong vào ngày 31.12.2013.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Luật sư, được biết, vào ngày 23-24.03.2015, diễn ra phiên tòa phúc thẩm xử ba công an viên đã gây ra tử vong cho em Thạch thì quan điểm bào chữa của ông tại phiên tòa này ra sao?

Ls Võ An Đôn: Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Phát hai tội danh: thứ nhất, tội ‘cố ý gây thương tích’ 6 năm tù giam. Thứ hai, tội ‘bắt người trái pháp luật’ 9 tháng tù giam. Tổng cộng hình phạt là 6 năm 9 tháng tù giam. Tại tòa phúc thẩm tôi đã yêu cầu [HĐXX] hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án Nhân dân huyện Vạn Ninh, vì bản án sơ phẩm tuyên án không đúng quy định pháp luật. Bởi lẽ:

Thứ nhất, Tòa xử bị cáo tội danh ‘cố ý gây thương tích’ là không đúng, vì hành vi của bị cáo Lê Minh Phát -là công an viên, còn em Tu Ngọc Thạch -là học sinh và không có vi phạm gì- mà công an viên Phát tự ý ‘bắt người trái pháp luật’, rồi dẫn em Thạch về trụ sở công an. Trong tay bị cáo Phát cầm dùi cui và nón bảo hiểm, đánh vào đầu vào người em Thạch, đánh em Thạch chấn thương sọ não, dẫn đến em Thạch chết. Đối với hành vi này có đầy đủ yếu tố cấu thành tội ‘giết người’, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại xét xử ‘cố ý gây thương tích’ là không đúng quy định của pháp luật. Hơn nữa, hành vi ‘bắt người trái pháp luật’ gây hậu quả nghiêm trọng dẫn đến hành vi đánh chết người, thì đáng lẽ hành vi này phải áp dụng khung 3, Điều 123 BLHS chứ không phải áp dụng khung 1 Điều 123 BLHS, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng khung 1 Điều 123 BLHS. Đặc biệt các bị cáo khi phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội đối với trẻ em, phạm tội mang tính chất côn đồ và lợi dụng chức vụ quyền hạn để xâm phạm về thân thể, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ qua các tình tiết này để giảm nhẹ hình phạt thì không đúng pháp luật. Cho nên tại phiên tòa này, tôi đề nghị chuyển tội danh từ tội ‘cố ý gây thương tích’ thành tội ‘giết người’ đối với bị cáo Lê Minh Phát.

Thứ hai, truy tố bị cáo Lê Minh Phát và bị cáo Lê Ngọc Tâm về tội ‘bắt người trái pháp luật’ theo khung 3 Điều 123 BLHS, chứ không phải khung 1 Điều 123 BLHS.

Thứ ba, đề nghị HĐXX cấp sơ thẩm Tòa án Nhân dân huyện Vạn Ninh đã ra bản án trái pháp luật. Tòa án biết chuyện đó là sai nhưng vẫn vận dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không đúng quy định của pháp luật, có dấu hiệu ra bản án trái pháp luật nên tôi đề nghị khởi tố HĐXX Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.

Kết thúc phiên tòa, HĐXX cấp phúc thẩm tỉnh Khánh Hòa đã chấp nhận yêu cầu ‘hủy bản án sơ thẩm’ để điều tra và xét xử lại.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Luật sư, Tòa phúc thẩm đã hủy án sơ thẩm, vậy thì sẽ có lợi và có hại ra sao cho thân chủ của ông ạ?

Ls Võ An Đôn: Việc hủy bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại thì rất có lợi cho thân chủ của tôi, nhưng không biết sẽ đi theo hướng nào nghĩa là HĐXX nói là hủy án chung chung vậy thôi, hủy án để điều tra xét xử lại nhưng tôi không biết VKS sẽ truy tố tội ‘cố ý gây thương tích’ hay tội ‘giết người’.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Luật sư, sắp tới đây, nếu như Luật sư sẽ được mời bảo vệ quyền lợi cho thân chủ thì hướng bào chữa của ông như thế nào ạ? Và ông mong muốn gì trong phiên tòa sơ thẩm sắp tới ạ?

Ls Võ An Đôn: Hướng bào chữa của tôi vẫn như cũ, nhưng phải dựa trên kết quả điều tra, mà không biết kết quả điều tra sẽ như thế nào.

Mong muốn của tôi là Tòa án phải chuyển tội danh từ ‘cố ý gây thương tích’ thành tội ‘giết người’, áp dụng khung 3 Điều 123 BLHS đối với tội ‘bắt người trái pháp luật’, đồng thời khởi tố HĐXX cấp sơ thẩm. Đề nghị thứ ba của tôi [khởi tố HĐXX cấp sơ thẩm] rất khó được chấp nhận, bởi vì trên thực tế trong quá trình xét xử có rất nhiều bản án trái quy định pháp luật, mà Thẩm phán và Hội thẩm Nhân dân biết rõ điều đó, và từ rất lâu BLHS đã quy định về tội ban hành bản án trái pháp luật nhưng đến nay vẫn chưa có một Thẩm phán hoặc Hội thẩm Nhân dân nào bị truy tố, xét xử về tội danh này. Nhưng với lương tâm của một Luật sư chân chính, tôi phải nói lên lẽ phải, đúng quy định của pháp luật, còn họ chấp nhận hay không là một vấn đề khác.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Luật sư, sắp tới đây, nếu như Luật sư sẽ được mời bảo vệ quyền lợi cho thân chủ thì hướng bào chữa của ông như thế nào ạ? Và ông mong muốn gì trong phiên tòa sơ thẩm (lần 2) sắp tới ạ?

Ls Võ An Đôn: Để trường hợp không xảy ra án oan, xét xử oan sai thì đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải triệt để tuân thủ pháp luật mới hạn chế được án oan. Các cơ quan tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện đúng luật pháp, giám sát lẫn nhau thì mới làm được việc đó. Đó là cả một hệ thống.

Huyền Trang, VRNs: Xin chân thành cám ơn Ls Võ An Đôn.

Xin nhắc lại, trong phiên tòa sơ thẩm xảy ra vào ngày 14.11.2014, TAND huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, đã tuyên án ba bị cáo tham gia đánh em Thạch dẫn đến tử vong, gồm: Lê Minh Phát -24 tuổi, công an viên xã Vạn Long, huyện Vạn Ninh- sáu năm tù về tội cố ý gây thương tích, chín tháng tù về tội bắt người trái pháp luật, tổng hợp hình phạt là sáu năm chín tháng tù. Tuyên phạt Lê Ngọc Tâm -31 tuổi, công an viên xã Vạn Long- chín tháng tù cho hưởng án treo về tội bắt người trái pháp luật. Phạt Lê Tấn Khỏe -sinh năm1999, ngụ xã Vạn Long- ba năm tù về tội cố ý gây thương tích.

Bản án này gây bức xúc- chẳng những cho gia đình nạn nhân mà cả dư luận- bởi tính chất tàn ác của các công an viên cố tình tước đoạt mạng sống em Thạch, trong khi “không thi hành công vụ”. Tại phiên Tòa phúc thẩm bị cáo Lê Ngọc Tâm, nguyên công an viên xã Vạn Long thừa nhận cả bị cáo và bị cáo Phát không được phân công nhiệm vụ gìn giữ an ninh trật tự trong ngày 29-12-2013, việc cùng Phát liên lạc, đề nghị ông Huỳnh Trung Thắng bắt Tu Ngọc Thạch là trái pháp luật. Phiên tòa sơ thẩm lần 2 chưa diễn ra, nhưng với phán quyết “hủy án” của Tòa tỉnh Khánh Hòa, Công lý đã thắng một bước.

Huyền Trang, VRNs

Read more

Bước tiếp (9): Vai trò của tôn giáo trong sự trưởng thành tâm linh

VRNs (26.03.2015) – Sài Gòn – Tôi rất dè dặt khi dùng những từ “tôn giáo”, “tín ngưỡng”. Chẳng hạn, tôi thường dùng khái niệm “tâm linh” nhiều hơn là “tín ngưỡng”. Tôi thích nói “quyền lực cao hơn” thay vì “Thiên Chúa”. Tôi phải dè dặt, bởi vì các từ ấy có thể gợi những liên tưởng tiêu cực. Một trong những tội lớn của tôn giáo cơ chế là rằng nó có chiều hướng phá hư một số từ ngữ rất thánh thiện. Và khi người ta đối diện với những từ này, họ liên tưởng đến những biểu hiện đạo đức giả của tôn giáo cơ chế, và họ không còn có thể thấy hay nghe được ý nghĩa thực của chúng.

Nhiều người trong chúng ta bị tôn giáo làm hại. Và khi tôi nói về sự cần thiết phải tha thứ cho cha mẹ bạn vì những tội lỗi mà cha mẹ bạn đã mắc phải đối với thời thơ ấu của bạn, tôi cũng muốn hàm ý rằng chúng ta cần biết thứ tha cả cho Giáo Hội vì những tội lỗi mà Giáo Hội mắc phải đối với thời thơ ấu của chúng ta nữa. Tha thứ không có nghĩa là đi trở lại. Tôi không bảo bạn quay trở lại nhà thờ của thời thơ ấu, tôi cũng không bảo bạn đi trở về mái nhà xưa của cha mẹ mình. Nhưng sự trưởng thành tâm linh của bạn đòi bạn phải tha thứ. Không có sự tha thứ ấy, bạn không thể tách bạch được những giáo huấn đích thực của Giáo Hội ra khỏi mớ râu ria kệch cỡm của nó. Vâng, những giáo huấn đích thực là cái mà bạn luôn cần.

150314009

Một quyển sách có tựa đề Oneness: Great Principles Shared by All Religions (Nhất Tính: Những Nguyên Tắc Chung Của Mọi Tôn Giáo) có in trích dẫn sau đây của Đức Đạt Lai Lạt Ma ngay trên lưng bìa:

Mọi tôn giáo lớn trên thế giới đều có những quan điểm giống nhau về tình yêu, đều có cùng mục đích chung là phục vụ con người xuyên qua các thực hành tâm linh, và cùng có hiệu quả chung là làm cho các tín đồ của mình trở thành những con người tốt hơn.

Bên trong quyển sách, bạn tìm thấy rằng các vị sáng lập của tất cả các tôn giáo lớn – trong đó có Đức Giêsu, Đức Phật, Krishna, Khổng Tử, Môhamét – đều dạy về tình yêu thương người đồng loại. Bất cứ khi nào bạn có thể chọn bến đỗ tâm linh của bạn, thì bạn cũng phải đồng thời chấp nhận những chân lý căn bản ấy. Bởi vì bạn cần những chân lý căn bản ấy như những biển báo giao thông trên hành trình tâm linh của mình. Nên chọn tôn giáo nào? Tôi không thể đưa ra một lời khuyên nào cho bạn, bởi vì mỗi chúng ta đều độc đáo!

TÍNH ĐỘC ĐÁO CỦA MỖI CÁ NHÂN

Tôi luôn luôn bị ngạc nhiên về những khác biệt khôn tả giữa người với người. Tài năng nơi mỗi người chúng ta đa dạng biết bao. Tôi không biết tính độc đáo được Thiên Chúa tạo ra trong linh hồn người ta trước khi họ sinh ra hay là nó nằm trong các tố chất di truyền của họ. Tôi chỉ biết rằng tính độc đáo ấy bắt đầu có ngay từ lúc ban sơ của mỗi người.

Hai con gái tôi rõ ràng là hai hữu thể khác biệt nhau ngay từ lúc mà Lily và tôi đưa chúng từ bệnh viện phụ sản về nhà. Nếu chúng tôi có một đứa trai và một đứa gái, rất có thể chúng tôi giải thích rằng “Chúng khác nhau vì phái tính của chúng khác nhau”. Nhưng ở đây là hai đứa cùng phái!

Người ta sinh ra không ai giống ai. Và một trong những vấn đề mà họ phải giải quyết là làm sao để xử lý tính độc đáo của mình, những khác biệt của mình, và dàn xếp được trôi chảy các mối quan hệ với người khác. Vì chúng ta khác nhau, nên mỗi người chúng ta đều có ơn gọi của riêng mình. Mỗi chúng ta đều có một ý chí, đều có sự tự do kỳ diệu để chọn lựa – sự tự do này làm việc bên trong những giới hạn nào đó về sinh học và những giới hạn về tài năng riêng của chúng ta. Có một điều tôi ân hận trong quyển Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi, đó là tôi đã mô tả cuộc hành trình có vẻ như một cái gì ‘có khuôn’rõ ràng hơn thực tế của nó. Khi tôi đọc lại quyển sách, tôi bị ngạc nhiên bởi chân lý sâu sắc đã được trao cho tôi, nhưng hơi thất vọng bởi cách trình bày không được tinh tế đúng mức của mình. Tôi đã không quan tâm đến tất cả những nét đa dạng vốn tồn tại trong thực tế.

Đa dạng là đặc tính tuyệt vời. Sự đa dạng nơi người ta là một yếu tố làm nên cộng đồng, một yếu tố cần để làm nên cái toàn thể. Chúng ta cần đa dạng để tạo ra cái toàn thể. Những con đường để chúng ta bước đi cũng rất đa dạng. Vì mỗi chúng ta là một con người độc đáo, chúng ta có quyền chọn lựa. Nếu chúng ta chịu cân nhắc kỹ lưỡng thì chắc chắn câu trả lời sẽ đến với chúng ta, và chúng ta sẽ chọn con đường đúng.

Gandhi nói: “Các tôn giáo là những con đường khác nhau đồng qui về cùng một điểm. Việc chúng ta theo những con đường khác nhau không phải là vấn đề – bao lâu chúng ta cùng hướng về một mục đích.” Và tất cả chúng ta đều cùng chiến đấu trên con đường chông gai sỏi đá của sa mạc để đạt đến Thiên Chúa.

Không giống như một số tôn giáo cơ chế, Thiên Chúa không hề phân biệt đối xử. Bao lâu bạn còn vươn tới Ngài, thì Ngài sẽ còn đi con đường của Ngài để đến gặp gỡ bạn. Có vô số nẻo đường đạt đến Thiên Chúa. Người ta có thể đến với Thiên Chúa xuyên qua chứng nghiện rượu, họ có thể đến với Thiên Chúa qua thiền Phật giáo, như tôi đã làm, và họ có thể đến với Thiên Chúa xuyên qua các Giáo Hội Kitô “Tư Duy Mới” khác nhau, ngay cả dù các Giáo Hội ấy rõ ràng là dị giáo! Theo tôi nghĩ, người ta có thể đến với Thiên Chúa qua Shirley MacLaine. Người ta ở nhiều mức độ sẵn sàng khác nhau. Có điều khi họ đã sẵn sàng thì hầu như bất cứ gì cũng có thể lên tiếng với họ.

Một mục sư Tin Lành đang bắt tay với cộng đoàn của ông sau buổi gặp gỡ ngày Chúa Nhật, và ở cuối hàng có một người đàn ông mà ông mục sư chỉ năm thì mười họa mới thấy xuất hiện ở nhà thờ. Người đàn ông tiến đến và nói: “Thưa ngài, thưa ngài, điều ngài nói hôm nay trong bài giảng quả đúng là điều tôi đang cần nghe. Cám ơn ngài nhiều lắm. Bài giảng ấy thật hữu ích cho tôi. Nó chắc chắn là cột mốc đánh dấu sự thay đổi trong cuộc đời tôi. Xin cảm ơn, xin cảm ơn!”

Vị mục sư tỏ vẻ rất mãn nguyện, nói: “Tôi mừng vì đã nói được điều gì đó có ích cho anh. Nhưng này, đó là điều gì vậy?”

Người đàn ông trả lời: “À, mục sư có thể nhớ đấy. Khi bắt đầu bài giảng, ngài nói rằng sáng nay ngài muốn nói chuyện với chúng tôi về hai điều. Rồi ở giữa bài giảng, ngài nói: ‘Đó là kết thúc phần thứ nhất mà tôi muốn nói với anh chị em, bây giờ đã đến lúc chuyển sang phần thứ hai trong bài giảng của tôi’. Và chính lúc đó, tôi nhận ra rằng mình đã đi đến điểm kết thúc phần thứ nhất của đời mình, và đã đến lúc mình bước sang phần thứ hai. Cám ơn mục sư, xin thành thật cảm ơn!”

CON ĐƯỜNG TÔI TỚI VỚI THIÊN CHÚA

Tôi đến với Thiên Chúa xuyên qua thiền Phật giáo, nhưng đó chỉ là chặng thứ nhất của con đường. Con đường mà tôi chọn cho chính mình, sau 20 năm ngụp lặn trong thiền, chính là Kitô giáo. Nhưng tôi nghi rằng rất có thể mình cũng chọn lựa như thế mà không cần qua thiền. Để đón nhận Kitô giáo, người ta phải sẵn sàng đón nhận nghịch lý. Và thiền Phật giáo – mà nhiều người cho rằng nên xem như một triết lý đúng hơn là một tôn giáo – là trường huấn luyện lý tưởng để giúp người ta đón nhận sự nghịch lý. Nếu không có sự huấn luyện ấy, tôi khó hình dung có cách nào khác để mình có thể sẵn sàng nuốt lấy những nghịch lý kinh khủng của giáo thuyết Kitô giáo.

Tôi trở thành Kitôhữu vài năm sau khi xuất bản Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi. Và hẳn bạn còn nhớ, câu đầu tiên trong quyển sách ấy là chân lý vĩ đại của Phật giáo: “Đời là bể khổ” – mặc dù trong vô thức, tôi đã nghiêng chiều về tư tưởng ấy suốt một thời gian, nhưng Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi chứa đầy những quan niệm Kitô giáo. Một vị nọ đã nói với tôi: “Này Scotty, anh thật khéo léo trong việc ướp Kitô giáo của anh vào Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi, và qua đó anh đã chuyển tải sứ điệp Kitô giáo đến cho mọi người.”

Tôi trả lời thành thật: “Ồ, tôi đã không hề ướp vào đó Kitô giáo nào của tôi cả. Bởi khi viết và xuất bản quyển Con Đường…, tôi nào đã là một Kitôhữu đâu!”

Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi có thể được xem như một cột mốc đánh dấu chỗ của tôi vào thời điểm đó trong cuộc hành trình. Và xét một số phương diện, bây giờ tôi đã tiến xa hơn lúc đó; xét một số phương diện khác, tôi đã không tiến xa mấy. Phần lớn những gì tôi đã làm kể từ khi xuất bản quyển sách ấy có thể coi như một loại triển khai những quan niệm hàm chứa trong đó.

Một trong những biến cố nội tâm trong cuộc hành trình của tôi đã xảy ra vào khoảng năm tôi 30 tuổi, khi tôi đọc The Screwtape Letters (Những Bức Thư Của Screwtape) của C.S. Lewis. Đó là một tiểu thuyết trong hình thức tuyển tập những bức thư khuyên nhủ được viết bởi Screwtape, một con quỉ già, gửi cho cháu trai của nó là Wormwood, kẻ đảm nhận công việc làm xói mòn đời sống tâm linh của một chàng thanh niên. Có một lần, Srewtape khuyên Wormwood cố làm sao cho chàng thanh niên ấy – lúc này là một Kitôhữu trẻ – xem “thời giờ của anh ta là thời giờ của anh ta”. Câu ấy, lúc đầu chẳng có nghĩa lý gì đối với tôi cả. Tôi đọc đi đọc lại ba lần. Tôi tự hỏi hay là ở đây có sự sai sót ấn loát nào đó. Thời gian của mình mà mình không nghĩ là của mình thì còn nghĩ cách nào khác nữa? Nhưng rồi, tôi chợt nhận ra rằng khả năng hiện hữu thời gian của tôi thuộc về một quyền lực cao hơn bản thân tôi. Tôi đã khó chịu với quan niệm ấy trong một thời gian khá lâu, và ngay cả hôm nay, tôi vẫn đang tiếp tục học cách để chịu trao thời gian của mình cho quyền sở hữu của Thiên Chúa. Sự qui phục luôn luôn là một vấn đề cấp độ, nhưng người ta có thể học được, như C.S. Lewis đã dạy tôi về điều đó. Tuy nhiên, hơn chục năm sau tôi mới thực sự chấp nhận lãnh Phép Rửa để trở thành một Kitôhữu.

Một trong những lý do mà tôi từ từ bị hút tới với Kitô giáo là bởi vì tôi tin rằng giáo thuyết Kitô giáo nhận hiểu đúng nhất về bản chất của tội lỗi. Đó là một sự nhận hiểu có tính đa chiều kích và nghịch lý. Khía cạnh nghịch lý đầu tiên nằm ở chỗ Kitô giáo chủ trương rằng tất cả chúng ta đềâu là những tội nhân. Chúng ta không thể không vương tội lụy. Có nhiều khả năng định nghĩa tội, nhưng đây là định nghĩa phổ biến nhất: tội là hoàn toàn đi lạc hướng! Và không có cách nào chúng ta có thể đi đúng hướng mọi lúc. Đôi khi chúng ta trật hướng vì chúng ta hơi bất cẩn. Dù chúng ta tốt đến mấy đi nữa, có những lúc chúng ta hơi mệt mỏi hay hơi cố chấp và không cởi mở chính mình ra cho đủ. Chúng ta không thể lúc nào cũng nhắm đúng mục tiêu, không thể lúc nào cũng trọn hảo.

Kitô giáo cho phép điều đó. Thật vậy, điều kiện cốt tủy đệ nhất để làm thành viên trong Giáo Hội Kitô giáo đích thực là gì? Đó là: Bạn phải là một tội nhân. Vâng, nếu bạn không nghĩ bạn là một tội nhân, thì bạn không phải là một ứng viên gia nhập Giáo Hội. Những khía cạnh khác của sự nghịch lý nằm ở chỗ Kitô giáo chủ trương rằng nếu bạn thú nhận hay nhìn nhận tội lỗi mình với lòng thống hối, thì tội lỗi ấy được tẩy xóa đi. Từ “thống hối” rất quan trọng ở đây – với nghĩa rằng bạn phải cảm thấy khốn khổ về những gì mình đã làm. Nếu bạn nhìn nhận tội lỗi của mình với lòng thống hối, thì những tội lỗi ấy được xóa sạch. Dường như những tội lỗi ấy đã không bao giờ tồn tại. Bạn có thể bắt đầu lại tất cả, hoàn toàn mới mẻ tinh khôi, vào bất cứ lúc nào.

Có một câu chuyện rất hay về quan niệm này. Một bé gái Philippin nói rằng em đã gặp và nói chuyện với Chúa Giêsu; dân làng bắt đầu bàn tán xôn xao về điều đó. Tin đồn lan rộng ra các làng chung quanh, và ngày càng thêm nhiều người bàn ra tán vào. Cuối cùng, câu chuyện đến tai giám mục ở tòa giám mục Manila, và đức giám mục bắt đầu quan tâm – bởi vì dù sao đi nữa bạn không thể có bất cứ vị thánh nào ‘cù bơ cù bấc’ và không được phê chuẩn trong Giáo Hội Công Giáo. Vì thế, đức giám mục chỉ định một đức ông điều tra vụ này.

Em bé gái được dẫn tới tòa giám mục để có một loạt những cuộc phỏng vấn thẩm định về tâm lý và thần học. Vào cuối cuộc phỏng vấn thứ ba, đức ông xoa tay và nói: “Ta chịu. Ta không biết phải làm gì đây. Ta không biết câu chuyện của con thật hay giả. Nhưng, có một cách trắc nghiệm để khui ra sự thật. Lần tới, khi con nói chuyện với Chúa Giêsu, ta muốn con hãy hỏi Ngài xem ta đã xưng những tội gì trong lần ta xưng tội mới nhất. Con đồng ý chứ?” Em bé gái gật đầu và rút lui. Tuần sau đó, em lại đến cho cuộc phỏng vấn theo lịch hẹn, đức ông hớn hở hỏi: “Nào, tuần rồi con lại nói chuyện với Chúa Giêsu nữa đấy chứ?”

“Thưa vâng ạ” – em đáp.

“Con có nhớ hỏi Chúa Giêsu xem ta đã xưng thú những tội gì lần gần đây nhất không?”

“Dạ có ạ.”

“Chà, vậy Chúa Giêsu đã trả lời con thế nào?”

“Dạ, thưa Cha, Chúa nói Chúa quên tuốt mất rồi ạ!”

Có hai khả năng để hiểu câu chuyện trên. Một là, cô bé gái ấy vừa có vấn đề tâm thần vừa rất ranh mãnh. Hai là, có nhiều khả năng cô bé thực sự có gặp Chúa Giêsu, bởi vì điều mà cô bé nói thì hoàn toàn xác thực, hoàn toàn phù hợp với giáo thuyết Kitô giáo. Một khi chúng ta xưng thú tội lỗi mình với lòng thống hối, thì Chúa không còn nhớ gì đến tội lỗi ấy nữa: chúng không còn tồn tại trong tâm trí của Ngài.

THỰC TẠI ĐỨC GIÊSU

Khi người ta hỏi tôi phải chăng tôi đã được ‘sinh lại’, tôi nói: “À, có lẽ vậy. Nhưng nếu gọi đó là ‘sinh lại’, thì đó quả là một ca sinh kéo dài và khó khăn.” Có vô số khúc quặt trong hành trình ấy, nhưng có lẽ khúc quặt quan trọng nhất là việc tôi đọc Tin Mừng lần đầu tiên ở tuổi 40. Lúc ấy tôi vừa viết xong bản thảo đầu tiên Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi. Tôi thuộc số những người có khuynh hướng viết trước rồi mới nghiên cứu sau, vì thế sau khi đã trích dẫn Đức Giêsu vài lần, tôi cảm thấy cần tra xét lại những tham chiếu của mình.

Đó quả là dịp tuyệt vời để tôi đến với các Sách Tin Mừng. Nếu trước đó khoảng chục năm, bạn hỏi tôi phải chăng Đức Giêsu là có thực, tôi sẽ trả lời rằng có thừa bằng chứng cho thấy có một Đức Giêsu lịch sử. Nói chính xác, đó là một chàng trai khôn ngoan, bị hành quyết theo kiểu của thời ấy vì tội phát biểu nhiều quá; và rồi, vì một lý do nào đó, người ta bắt đầu tạo ra một tôn giáo xung quanh chàng trai Giêsu này. Rất có thể tôi đã trả lời như thế! Và nếu vậy, tôi đã bỏ sót chính thực tại của Ngài. Bạn biết đó, các tác giả viết Sách Tin Mừng không phải là những người sống đồng thời với Đức Giêsu, các ông viết Sách Tin Mừng khoảng ba chục năm sau cái chết của Ngài. Và những gì các ông viết đều đã được truyền miệng qua năm lần bảy lượt rồi. Với khả năng hiểu biết của tôi trong thời đại tri thức này, tôi đã từng nghĩ rằng tất cả những gì được viết ra trong các Sách Tin Mừng chắc hẳn đều được trau chuốt và thêm thắt.

Nhưng cuối cùng, khi tôi đọc các Sách ấy, tôi đã đọc với hàng chục năm kinh nghiệm gian nan trong nghề chữa trị của mình, và tôi hiểu được chút gì đó về công việc chữa trị cùng những nỗi niềm của một nhà trị liệu. Với chút kinh nghiệm ấy, tôi đã hết sức sững sờ trước thực tại phi thường của con người Giêsu mà tôi gặp thấy trong các Sách Tin Mừng. Tôi nhận ra đó là một con người thường xuyên chán nản. Sự chán nản ấy hầu như bộc lộ nơi mọi trang Tin Mừng: “Tôi phải nói sao để các ông hiểu đây? Tôi phải lặp lại bao nhiêu lần để các ông hiểu đây? Tôi phải làm gì để đánh động được tâm can các ông đây?” Tôi cũng khám phá ra đó là một con người thường xuyên buồn và đôi khi suy sụp, thường xuyên lo âu và kinh sợ. Một con người từng bị thành kiến, mặc dù Ngài có thể thắng vượt thành kiến ấy bằng tình yêu đầy năng lực chữa trị của Ngài. Một con người cô đơn khủng khiếp, cô đơn tận cùng, nhưng vẫn thường cần được một mình. Tôi cũng khám phá ra một con người cực kỳ thực tiễn đến nỗi không ai có thể cho Ngài ‘đi tàu bay giấy’ được.

Tôi chợt nghĩ nếu các tác giả Tin Mừng đã thêm thắt – như mình từng giả đoán – thì họ phải tạo ra một loại Giêsu mà ba phần tư số người Kitôhữu hiện nay dường như vẫn đang cố tạo ra, loại Giêsu mà Lily gọi là ‘Giêsu nhút nhát’ kia chứ! Người ta thường muốn tô vẽ Đức Giêsu với một nụ cười tươi không bao giờ tắt trên môi, âu yếm xoa đầu các em bé, ung dung thanh thản rảo gót qua các thôn làng, bởi vì Ngài có sự bình an trong tâm hồn! Nhưng, Đức Giêsu của các Sách Tin Mừng – Đấng mà một số người cho là bí mật được che đậy bưng bít nhất trong Kitô giáo – thì không hề có sự an bình trong tâm hồn mấy (theo nghĩa thông thường của mấy tiếng ‘an bình trong tâm hồn’ mà người ta vẫn dùng). Chúng ta cũng vậy, càng trở thành môn đệ Ngài thì chúng ta càng không có an bình trong tâm hồn!

Tôi bắt đầu nghi rằng các tác giả viết Sách Tin Mừng đã không thêm thắt tùy tiện như mình vốn tưởng, trái lại các vị đã thực sự làm công việc tường thuật chính xác – đã lặn lội sưu tầm để ghi lại chính xác ngần nào có thể về những biến cố và những lời nói trong cuộc đời của một con người mà họ chưa thật hiểu mấy, nhưng họ tin rằng chính nơi con người ấy mà Trời và đất đã gặp nhau. Chính khi suy nghĩ như vậy, tôi đã bắt đầu ‘phải lòng’Đức Giêsu.

Dường như phần đông các Kitôhữu đã không hề đọc Tin Mừng, và dường như phần đông các giáo sĩ Kitô giáo thậm chí không thể rao giảng đúng sự thật của Tin Mừng, bởi vì nếu họ làm thế, các cộng đoàn của họ có nguy cơ giải tán sạch.

Tôi không muốn hàm ý rằng các Sách Tin Mừng có nội dung hoàn toàn chính xác. Chắc chắn có một số chi tiết đã được thêm thắt vào. Và tôi cho rằng cũng có nhiều chi tiết bị bỏ sót. Chẳng hạn, chúng ta không thấy nói đến khiếu hài hước của Đức Giêsu và thực tại tính dục của Ngài. Có lẽ người ta cố ý không nói đến tính dục của Đức Giêsu bởi vì nó có vẻ hàm hồ. Dường như Đức Giêsu rất thích Maria Ma-đa-lê-na, người phụ nữ vốn là một gái điếm, và người ta thường bắt gặp Ngài có những cử chỉ rất thân mật với Tông Đồ Gioan, người được mệnh danh là “môn đệ được Đức Giêsu yêu mến”. Tôi tin rằng nơi Đức Giêsu có lưỡng tính; nghĩa là Ngài không phải không có phái tính, không phải đơn tính, nhưng là có tất cả. Và tất cả đã làm nên một Giêsu thật sự ‘người’, một con người có thiên năng đặc biệt.

THIÊN NĂNG CỦA ĐỨC GIÊSU

Lily và tôi vốn thường tham gia một câu lạc bộ thể thao nhỏ ở miền duyên hải tiểu bang Maine. Hằng năm, vào mùa hè, chúng tôi thường đến ở lại đó vài ngày. Vào thời gian xuất bản quyển Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi, chúng tôi đang có mặt ở đó – và do chứng tự yêu của mình, tôi đã bộp chộp khoe ngay trong ngày đầu tiên mình đến câu lạc bộ rằng quyển sách ấy đã được xuất bản, rằng tôi không chỉ là một bác sĩ tâm thần mà còn là một tác giả viết sách nữa. Rồi, liền đó, tôi đã phải ân hận về chứng tự yêu ấy của mình. Số là, vào buổi tối thứ hai của chúng tôi ở đấy, một trong những ông khách – là một luật sư có tiếng – đã đến gặp tôi và hỏi: “Nghe nói ông vừa viết một cuốn sách phải không? Sách bàn về chuyện gì vậy?”

“Về mối hòa hợp giữa tâm lý học và tôn giáo” – tôi đáp.

“Nghe có vẻ hay đấy nhỉ. Nhưng cụ thể ông nói gì trong đó?” Ông ta hỏi, tỏ vẻ là một nhà nghiên cứu ‘thứ thiệt’.

“À, quyển sách nói khá nhiều chuyện. Tôi không biết ông có sẵn sàng ngồi lại một tiếng đồng hồ để tôi có thể giải thích cho ông về nội dung của quyển sách hay không.” Tôi trả lời, với giọng không sốt sắng mấy.

“Ô, chẳng cần phải thế đâu. Tôi chỉ muốn ông nói tóm tắt về cuốn sách trong vài câu thôi mà.”

Tôi trả lời: “Thưa ông, nếu tôi làm được điều đó, thì tôi đã chẳng cần phải mất công viết cả một cuốn sách!”

“Hứ!’” – ông khách vẫn nằn nì – “Trong ngành luật của chúng tôi, người ta vẫn nói rằng bất cứ điều gì đáng nói thì cũng đều có thể được nói gọn trong một hay hai câu.”

Tôi chỉ còn cách là bày cớ: “Ồ, nói cho cùng thì quyển sách ấy chẳng có gì đáng cho ông quan tâm đâu.” Và tôi quay lưng bỏ đi.

Một ví dụ cho thấy thiên năng của Đức Giêsu, đó là khi rơi vào tình huống giống như tình huống của tôi, Ngài đã xử lý tuyệt vời hơn tôi gấp muôn triệu lần. Lần nọ, giữa đám đông có một người – lại cũng là một ông thầy luật ! – tách ra, tiến đến với Ngài. Và ông ta hỏi: “Này, thưa thầy Giêsu, thầy đang cố giảng dạy điều gì vậy? Tôi không muốn nghe những bài giảng dài như kiểu bài giảng trên núi. Xin vui lòng tóm tắt cho tôi sứ điệp của thầy chỉ trong một hay hai câu cô đọng thôi.” Và Đức Giêsu đã đáp ứng yêu cầu của ông ta: Ngài đưa ra hai câu cô đọng đến nỗi quyện lại thành một. Ngài nói: “Hãy yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi. Và hãy yêu thương anh em ngươi như chính mình.”

Đó là bản chất của một người Kitôhữu. Thật tiếc, phần đông người ta không hiểu nỗi khổ đau ẩn đàng sau những lời ấy. Yêu mến Thiên Chúa với hết lòng, hết linh hồn và hết sức, điều đó có nghĩa là trao phó trọn con người mình cho Ngài. Việc trao phó bản thân mình cho Thiên Chúa là một tiến trình lâu dài và cam go. Nhiều năm sau khi đã trở thành một Kitôhữu, tôi vẫn nhận ra rằng mình chưa hoàn thành tiến trình ấy gì cả.

Sau khi tôi đọc các Sách Tin Mừng và quyển Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi đã được chấp thuận xuất bản, tôi quyết định làm một chuyến đi nghỉ. Vì không muốn đi với gia đình, cũng không muốn một mình ra bãi biển ngồi nhìn trời đất mông lung, tôi đưa ra một quyết định hơi bất ngờ: đi tĩnh tâm! Thế là tôi đến một tu viện và làm cuộc tĩnh tâm hai tuần lễ.

Tôi có nhiều dự tính cho kỳ tĩnh tâm này. Một trong số những dự tính đó là bỏ thuốc lá – điều mà tôi đã thành công chỉ trong thời gian hai tuần lễ ấy mà thôi! Nhưng dự tính lớn nhất của tôi là quyết định xem mình sẽ làm gì nếu lỡ xảy ra trường hợp quyển Con Đường Chẳng Mấy Ai Đikhiến mình trở thành có tên tuổi. Nếu trở thành nổi tiếng, tôi nên từ bỏ mọi việc riêng tư để đi diễn thuyết đó đây, hay tôi sẽ vào rừng ở ẩn kiểu như J. D. Salinger, và đăng ký ngay một số điện thoại kín để không bị thiên hạ quấy rầy? Tôi phân vân không biết chọn đường nào. Tôi cũng chẳng biết Chúa muốn tôi chọn con đường nào. Vì thế, tôi vuốt ve hy vọng rằng trong sự thinh lặng của kỳ tĩnh tâm này và trong bầu khí thánh thiện ấy, tôi có thể nhận được một mạc khải từ Thiên Chúa để biết phải rẽ hướng nào giữa ngã ba đường.

Tôi tự nhủ mình sẽ cố gắng hết sức để cộng tác với Thiên Chúa trong cuộc mạc khải đó bằng cách chú ý đến các giấc mơ của mình – vì tôi tin rằng các giấc mơ có thể đóng vai trò một trung gian chuyển trao mạc khải. Tôi bắt đầu ghi lại tất cả những giấc mơ của tôi. Nhưng tôi thất vọng, bởi vì tôi toàn mơ thấy những gì rất đơn giản, chẳng hạn những cây cầu, những cánh cổng … Chẳng có gì liên quan đến bước đổi đời của mình cả!

Nhưng rồi, xảy đến một giấc mơ ngoài sự mong đợi. Trong giấc mơ ấy, tôi trông thấy một gia đình trung lưu. Trong gia đình có một chàng trai mười bảy tuổi, thuộc loại con trai mà mọi cha mẹ đều mơ ước. Chàng là lớp trưởng ở năm cuối trung học, sẽ là người đọc diễn văn trong lễ tốt nghiệp sắp tới. Chàng cũng là đội trưởng của đội bóng đá nhà trường. Chàng đẹp trai, chăm chỉ, có làm một công việc bán thời gian sau các giờ học. Thêm vào đó, chàng có một bạn gái xinh đẹp, thùy mị và rất duyên dáng. Chàng có bằng lái xe – và chàng luôn lái xe một cách hết sức đàng hoàng, cẩn thận như một người lớn chín chắn. Chỉ có một người quyết không cho phép chàng lái xe, và người đó chính là cha chàng. Ông bố này nhất mực lãnh phần lái xe đưa con trai mình đi mọi nơi anh cần đi: đi dượt bóng đá, đi làm, đi hẹn hò, đi dạo chơi … Thêm nữa, ông bố yêu cầu con trai phải trích từ số tiền còm anh kiếm được để trả cho ông 5 đô la mỗi tuần về khoản chi phí đi lại mà ông phục vụ cho anh – dù anh không hề cần ông phải phục vụ như vậy. Tôi thức dậy từ giấc mơ này với cảm xúc bực bội đối với người cha độc đoán ấy.

Tôi không biết phải suy diễn điều gì từ giấc mơ ấy. Nó dường như cũng chẳng có nghĩa gì. Nhưng ba ngày sau khi viết câu chuyện đó ra giấy, tôi đọc lại những gì mình đã ghi và phát hiện rằng mình đã viết chữ ‘Cha’ với ‘C’ hoa! Tôi tự nhủ: “Hay là mình nghĩ người cha trong giấc mơ là Thiên Chúa? Nếu vậy, chàng trai mười bảy tuổi ấy phải chăng là chính mình?” Cuối cùng, tôi hiểu rằng mình đã nhận được một mạc khải. Thiên Chúa đang nói với tôi: “Này, Scotty, cứ lo tính tiền đi; còn việc lái xe, hãy để đó cho Ta.”

Tôi vốn vẫn nghĩ về Thiên Chúa như một người bạn vô cùng tử tế, tốt lành. Nhưng trong giấc mơ, tôi đã đặt Ngài vào một vai độc đoán và khắc nghiệt, hay ít nhất tôi đã nghĩ về Ngài với sự ghê tởm và phẫn nộ. Dĩ nhiên, vấn đề là đây không phải một loại mạc khải mà tôi mong đợi. Tôi không hề muốn nghe loại mạc khải ấy. Tôi chỉ muốn một lời khuyên nào đó của Chúa mà tôi hoàn toàn có tự do để đón nhận hay khước từ. Tôi không muốn một mạc khải lớn như thế. Tôi không muốn một mạc khải mà trong đó Thiên Chúa nói với tôi rằng “Cứ để Ta lái xe”!

Muời sáu năm sau, tôi vẫn còn cố tập sống sứ điệp mạc khải ấy: cố phó thác chính mình cho Thiên Chúa bằng cách tiếp nhận Ngài vào chỗ ‘ghế tài xế’trên chiếc xe cuộc đời mình – một cuộc đời vẫn còn rất chập choạng.

PHÉP RỬA – NHƯ LÀ CHẾT ĐI!

Một điều khác nữa cũng đã xảy ra trong hai tuần tĩnh tâm ấy của tôi, đó là tôi bắt đầu trăn trở với ý nghĩ trở thành một Kitôhữu. Một mối trăn trở không dễ chịu chút nào. Trở thành Kitôhữu, điều ấy đồng nghĩa với một sự chết đi nào đó. Trước hết, tôi vốn là người định đoạt việc sử dụng thời gian của chính mình. Trở thành Kitôhữu, thời gian của tôi dường như sẽ không còn là của tôi nữa; nó sẽ thuộc về Thiên Chúa, thuộc về Đức Kitô, thuộc về Nhiệm Thể Đức Kitô … Quyền sở hữu trên thời gian của mình sẽ chết đi – và điều đó nào khác gì chết đi chính mình!

Không ai lại muốn chết, vì thế tôi chần chừ nấn ná lâu chừng nào hay chừng nấy. Tôi tìm mọi lý lẽ để tránh né việc nhận Phép Rửa. Lý lẽ ‘nặng ký’ nhất là rằng tôi không thể quyết định lãnh Phép Rửa trong Giáo Hội nào giữa rất nhiều Giáo Hội Kitô giáo: Chính Thống Đông Phương hay Công Giáo Rôma, Trưởng Lão hay Lu-thê hay Báp-tít hay Mê-tô-đít …? Nhiều như nấm vậy đó, nên nếu cứ theo lý mà cân nhắc, chắc hẳn tôi sẽ chỉ có thể đi đến một quyết định sau ít nhất … ba chục năm cứu xét! Nhưng rồi, tôi chợt nhận ra rằng mình khỏi phải mất công với vấn đề chọn Giáo Hội nào, vì quả thật Phép Rửa không thuộc riêng Giáo Hội nào cả. Cuối cùng, khi tôi được dìm xuống nước vào ngày 9 tháng 3 năm 1980, thì người dìm tôi là một mục sư Mê-tô-đít đến từ North Carolina – và nghi thức diễn ra trong một nguyện đường của Giáo Hội Giám Chế (Episcopal) trong một buổi gặp gỡ phi giáo phái. Cho đến nay, tôi vẫn giữ cái đặc tính ‘phi giáo phái’ ấy của mình, vì hai lý do: thứ nhất, như vậy xem ra tiện lợi nhiều việc; thứ hai, vì tôi không tin vào các giáo phái. Tôi vẫn tin rằng nên có nhiều sắc thái phụng tự khác nhau cho những nhóm người khác nhau; nhưng sự việc Giáo Hội này từ chối hiệp thông với Giáo Hội kia – hay kể cả trường hợp tuyệt thông một cá nhân – là một cái gì kinh tởm đối với tôi. Phần mình, tôi cảm thấy hoàn toàn thoải mái bước chân đến nhà thờ của bất cứ Giáo Hội nào, bởi vì tôi là người của nhà thờ ấy!

TỘI LỖI CỦA GIÁO HỘI

Nếu như tôi không nghĩ rằng Kitô giáo là một tôn giáo tốt nhất – hoặc nếu tôi nghĩ tôn giáo nào cũng như nhau, thì tôi đã không lãnh Phép Rửa và trở thành một Kitôhữu vào cái năm 43 tuổi ấy. Trên bình diện tri thức, lý do tôi trở thành Kitôhữu là bởi vì tôi dần dần tin rằng giáo thuyết Kitô giáo tiếp cận thực tại Thiên Chúa và mọi thực tại nói chung tốt hơn bất cứ tôn giáo nào khác. Nói vậy không có nghĩa là phủ nhận rất nhiều điều đáng học hỏi từ các tôn giáo khác. Tôi cho rằng trách nhiệm của một Kitôhữu có học thức là phải học hỏi càng nhiều càng tốt những lẽ khôn ngoan trong các truyền thống tôn giáo khác.

Có lẽ tội lớn nhất của Giáo Hội Kitô là tính cách kiêu ngạo, hay tự yêu, dẫn đến sự kiện là rất nhiều Kitôhữu cảm thấy rằng mình đã chiếm hữu được Thiên Chúa làm của riêng mình. Nhiều người nghĩ rằng mình nắm giữ toàn bộ chân lý và nơi mình chỉ có toàn chân lý, còn những kẻ không có niềm tin giống như mình thì chắc chắn mất ‘phần rỗi’. Tôi cho những người ấy chỉ có một ‘thiên chúa’ rất nghèo nàn và méo mó. Họ không hiểu ra sự thật rằng Thiên Chúa vĩ đại gấp bội lần hơn thần học của họ. Như tôi đã từng nói, Thiên Chúa không thuộc về chúng ta để cho chúng ta độc chiếm. Trái lại, chúng ta thuộc về Ngài và được Ngài chiếm hữu. Và không gì bóp nghẹt Tin Mừng cho bằng nhãn giới tự yêu quá thiển cận kia.

Khi tôi trở thành Kitôhữu, tôi hiểu rằng một khi đã nhìn nhận căn tính mình như thế, tôi phải đảm nhận – cách này hay cách khác – những gánh nặng tội lỗi của Giáo Hội Kitô giáo, mà kiêu ngạo chỉ là một trong đó mà thôi. Một gánh tội khác phải được nhìn nhận, đó là thái độ bài Sê-mít (17) độc ác của Giáo Hội qua các thế kỷ và, gần đây hơn, Giáo Hội đã không làm điều cần phải làm để chặn đứng cuộc Chiến Tranh Thế Giới Thứ II. Tôi tin rằng nếu các Giáo Hội Kitô công khai phản đối chủ nghĩa quốc xã, vạch trần rằng chủ nghĩa ấy còn tệ hại hơn cả dị giáo, và đe dọa tuyệt thông những người theo chủ nghĩa ấy, … thì rất có thể dòng lịch sử đã đi theo một hướng khác rồi.

Một gánh nặng khác nữa là gánh nặng bị hiểu lầm. Vừa khi tôi đề cập đến Đức Giêsu hay Kitô giáo, nhiều người bị dị ứng bởi vì họ thuộc một tôn giáo khác hay bởi vì họ đã từng kinh nghiệm thói đạo đức giả trong Giáo Hội. Một trong những người đó là vợ tôi – vốn là con gái của một mục sư Tin Lành Báp–tít Bảo Thủ người Trung Hoa, được nuôi dạy lớn lên trong một gia đình nơi mà đức tin và tình yêu được rao giảng, song cũng là nơi mang đầy dấu vết của sự sợ hãi và lòng đố kỵ. Thế đó, tôi bắt đầu thích thú với tất cả những quan niệm “mới” gắn liền với những ý nghĩa tích cực – những quan niệm và những ý nghĩa mà Lily cho là cửa ngỏ của tính đạo đức giả. Vợ chồng tôi đã trải qua một giai đoạn khó khăn do xung khắc như thế, cho đến khi tôi dần dần biết giảm bớt ‘máu giảng đạo’ của mình, và Lily dần dần biết nhận ra rằng có nhiều cấp độ Kitô giáo khác nhau (điều này cũng đúng cho mọi tôn giáo khác) và cô ấy biết tôi không đang ở cùng một cấp độ như bố mẹ cô ấy trước đây.

Ngay cả trước khi lãnh nhận Phép Rửa, tôi cũng đã hiểu rằng nếu tôi nói về các niềm tin tưởng của mình, sẽ có nhiều người ghét và bác bỏ mình do các thành kiến cố hữu của họ. Nhưng Đức Giêsu từng dạy rằng cuộc sống không phải là một cuộc thi đua chiếm cảm tình nơi người ta. Vì thế, Phép Rửa còn mang ý nghĩa một cái chết đối với tôi ở chỗ chính bản thân việc nhận Phép Rửa đã là một hành động công khai tuyên nhận rằng mình là Kitôhữu và do đó gắn liền với việc phải chấp nhận những thành kiến của nhiều người.

Trong ý thức chấp nhận như thế, tôi đã gặp thấy một sự an ủi nào đó trong một tờ tạp chí ban đầu có tên là The Wittenberg Door, nay đổi lại thành The Door. Đó là một tạp chí hài hước Kitô giáo – nhưng một số người có thể nghĩ nó không hài hước tí nào. Nhóm thực hiện tờ tạp chí là một nhóm người thuộc phái phục hưng Tin Mừng, rất dị ứng với những tội lỗi của Giáo Hội và những sự bóp méo tinh thần nguyên tuyền của Tin Mừng. Họ dùng sự trào lộng để bày tỏ thái độ của họ. Mỗi số báo đều có nêu giải thưởng “Green Weenie”, trao cho ai nói lên được khía cạnh dở tệ nhất của Kitô giáo. Một tháng nọ, giải thưởng được trao cho Dây Lưng Kinh Thánh (một loại dây thắt lưng bằng da rắn, có đính một quyển Thánh Kinh nhỏ xíu). Có một bài vịnh được kèm theo, như sau:

Drop kick me Jesus

through the goal posts of life,

Straight over, end over end,

through those righteous uprights.

(= Hãy sút con đi, hỡi Chúa Giêsu,

sút con xuyên qua những cột ‘gôn’của đời,

Qua, qua tuốt

qua khỏi những cây trụ công chính đứng thẳng băng kia.)

Tôi hiểu tại sao nhiều người Kitôhữu Chặng II chỉ trích tôi, một số trong họ thậm chí biểu tình cản trở các buổi diễn thuyết của tôi, gọi tôi là “tên phản Kitô”. Một số người thuộc phong trào Thời Đại Mới thì phê bình rằng tôi quá bảo thủ. Tôi vốn chẳng bao giờ chủ trương trung dung, thì đây, tôi nhận ra mình là một Kitôhữu trung dung. Và tôi thấy trung dung không ‘dở’ như mình vốn nghĩ. Trung dung không phải là trung lập, đứng giữa, không thiên về bên nào. Đúng hơn, nó là một lối đi đầy căng thẳng. Một giáo thuyết quan trọng của Phật giáo là Trung Đạo, đảm nhận trong mình nó những tính cách đối ngược nhau. Chính bản thân Đức Phật, sau khi theo hai con đường đối cực – con đường nghiên cứu đạo pháp và con đường tu khổ hạnh – cuối cùng đã chọn con đường trung đạo. Chỉ sau khi ngài nhịn đói đến gần chết và ngồi dưới cây bồ đề, ngài mới giác ngộ. Người Trung Hoa thích mô tả Đức Phật trong dáng người mập, bởi vì béo mập mang ý nghĩa sung túc trong văn hóa Trung Hoa. Song thỉnh thoảng bạn cũng có thể bắt gặp một tượng Phật gầy còm da bọc xương. Nhưng nói chung, người ta thường trình bày Đức Phật không gầy cũng không mập, theo con đường Trung Đạo của ngài!

BÊN KIA CÁI CHẾT

Trong khi tôi tiếp tục vận dụng những gì mình đã học hỏi được từ Phật giáo, thì vẫn có những khía cạnh của Phật giáo – chẳng hạn vấn đề hóa kiếp – rõ ràng đặt tôi vào chỗ ‘bất khả tri’. Nghĩa là, tôi không chống song cũng chẳng tin; tôi chỉ không biết.

Một đàng, có một chuyên gia tâm thần, Bác sĩ Ian Stevenson, đã khảo cứu về vấn đề hóa kiếp trong nhiều năm trời. Lần cuối cùng tôi nghe về công trình nghiên cứu của ông, cách đây khoảng chục năm, ông đã hoàn toàn lật tẩy hiện tượng ‘đi ngược về kiếp trước bằng thôi miên’, nhưng có ít nhất khoảng bảy trường hợp mà ông không thể giải thích được nếu không nại đến ý niệm về hóa kiếp. Nếu một đầu óc cứng cỏi như Bác sĩ Stevenson mà tin vào sự hóa kiếp, thì rõ ràng tôi không thể xem thường vấn đề này được. Đàng khác, tôi vô cùng dị ứng với bất cứ giả thuyết nào có khả năng giải thích mọi sự. Mà ý niệm hóa kiếp là một giả thuyết như thế – nó có thể được người ta sử dụng, hay lạm dụng, để giải thích hết mọi sự!

William James, trong quyển Tính Đa Dạng Của Kinh Nghiệm Tôn Giáo, đã giới thiệu ý niệm về “các linh hồn già”, một ý niệm mà tôi cũng phải quan tâm. Ông nói rằng có những người dường như được sinh ra với những kiến thức sống có sẵn trước đó. Tôi từng biết có những em bé khôn ngoan phi thường, và tôi đã viết quyển sách thiếu nhi The Friendly Snowflake (Bông Tuyết Thân Thương) – “dành cho những người trẻ với linh hồn già và những người già với linh hồn trẻ”.

Trong khi vẫn cởi mở với khả tính của hóa kiếp, có lẽ tôi sẽ càng quan tâm tới thuyết lý ấy nhiều hơn nếu như không có một khả năng khác giải quyết vấn đề. Và khả năng khác này gây ấn tượng cho tôi sâu sắc hơn rất nhiều – đó chính là niềm tin truyền thống của Kitô giáo về sự sống bên kia cái chết, với những ý niệm về Thiên Đàng, Hỏa Ngục, và Luyện Ngục. Mặc dù Luyện Ngục chủ yếu là một ý niệm của Công Giáo Rô-ma, trong tư cách là một bác sĩ tâm thần, tôi vẫn đón nhận nó hoàn toàn thoải mái. Tôi hình dung Luyện Ngục là một bệnh viện tâm thần tuyệt vời, với những kỹ thuật hiện đại nhất để giúp người ta học tập một cách êm ái và ít đớn đau nhất, dưới sự coi sóc của Thiên Chúa.

HỎA NGỤC

Quan niệm của tôi về Hỏa Ngục cũng không giống với truyền thống Kitô giáo, mặc dù ở đây tôi nhận ảnh hưởng rất nhiều từ C.S. Lewis, tác giả Kitô giáo vĩ đại nhất của thế kỷ này. Tiểu thuyết The Great Divorce(Cuộc Ly Dị Vĩ Đại) của ông là một câu chuyện kể về một nhóm người trong Hỏa Ngục – nơi mà ông mô tả như một thành phố u ám và khốn khổ ở miền Trung nước Anh. Nhóm người ấy xoay xở leo lên được một chuyến xe buýt chở họ về Thiên Đàng. Thiên Đàng là một nơi sáng sủa, rực rỡ và đầy hoan lạc. Họ được chào đón hết sức nồng nhiệt bởi các bạn hữu và thân quyến của họ. Nhưng, vào cuối ngày hôm ấy, tất cả họ – chỉ trừ một người – đã leo trở lên xe búyt để về lại Hỏa Ngục!

Tại sao thế? Lewis sử dụng rất nhiều ví dụ. Bạn có thể xem ví dụ mà tôi dẫn ra sau đây như đặc trưng về điều đã xảy ra với tất cả nhóm người nói trên. Thử hình dung một trong những người trên chuyến xe búyt đó là một người đàn ông được chào đón bởi đứa cháu họ mình. Ông ngạc nhiên trông thấy thằng cháu họ ấy trên Thiên Đàng, bởi vì ông nghĩ hồi trên trần gian nó chỉ là một thằng nhãi hết sức tầm thường thôi, không có gì hay ho đáng kể cả. Nhưng, đúng là nó đấy; nó đang nồng nhiệt tiếp đón ông – và Thiên Đàng thật sáng ngời, vui vẻ! Ông nói với thằng cháu họ: “Chà, Thiên Đàng quả là một nơi rất tốt. Cậu muốn ở lại đây. Mà này, cháu biết đó, cậu vốn là giáo sư sử học tại Đại Học Columbia. Ở đây cũng có các trường đại học chứ, hở cháu?”

“Dạ có ạ, thưa cậu” – Chàng thanh niên trả lời.

“Chắc cậu sẽ được nhận một chân giáo sư chính thức chứ?”

“Ồ, dĩ nhiên là cậu sẽ được làm giáo sư chính thức. Cậu biết đó, ở Thiên Đàng này ai cũng được làm giáo sư chính thức cả.”

Người đàn ông sửng sốt: “Ai cũng làm giáo sư chính thức! Sao kỳ quái vậy? Chứ bộ ở đây không phân biệt người giỏi và người thường sao?”

“Mọi người ở đây đều là người giỏi cả, thưa cậu!” – Đứa cháu đáp.

Ông cậu bắt đầu cảm thấy khó chịu, song ông tiếp tục điều tra thêm, cầu may: “À, cháu còn nhớ không, cậu vốn là chủ tịch khoa tại Đại Học Columbia, chắc cậu sẽ được làm chủ tịch khoa ở đây chứ?”

”Ồ, rất tiếc, ở đây không có chủ tịch khoa, cậu à. Ở đây không tổ chức theo lối đó. Mọi người ở đây đều có trách nhiệm, và làm việc tiếp ứng với nhau, chứ không cần chức vụ chủ tịch.”

Lúc ấy, người đàn ông lắc đầu: “Khỉ thật, tổ chức gì đâu mà hầm bà lằng: không phân biệt người giỏi với kẻ dở, coi ai cũng như ai!” Và ông quay lại, lầm lũi bước lên xe búyt để trở về Hỏa Ngục.

Nhãn quan của tôi về Hỏa Ngục rất giống với nhãn quan ấy của Lewis. Cánh cổng Hỏa Ngục mở rộng. Người ta có thể đi ra khỏi nó. Nhưng sở dĩ người ta ở trong nó là bởi vì họ quyết định không ra khỏi nó. Tôi biết đó không phải là quan niệm truyền thống của Kitô giáo về Hỏa Ngục. Nhưng, về Hỏa Ngục, tôi còn lạc xa quan niệm của Kitô giáo ở nhiều khía cạnh khác nữa. Tôi không thể chấp nhận cái nhìn Hỏa Ngục trong đó Thiên Chúa phạt con người trong vô vọng và linh hồn con người bị hủy diệt mà không có một cơ hội được cứu độ. Tôi cho rằng Thiên Chúa không thể mất công dựng nên linh hồn người ta, với tất cả tính chất phức tạp của nó, chỉ để cuối cùng thí đốt nó thiên thu!

THIÊN CHÚA, MỘT CHUYÊN GIA VỀ HIỆU NĂNG

Người ta thường yêu cầu tôi nêu tên quyển sách nào tôi đã đọc và đã ảnh hưởng trên tôi nhiều nhất. Tôi ước giá chi mình có thể nói đó là một quyển sách của Platon hay Aristote hay Tôma Aquinô. Nhưng thực tế đó chính là quyển Cheaper By The Dozen (Cả Chục, Rẻ Hơn) của Frank Gilbreth – quyển sách mà tôi tình cờ đọc được hồi năm lên 10 hay 11 tuổi. Quyển sách kể câu chuyện thật về một đôi vợ chồng có mười hai đứa con. Đôi vợ chồng này là những chuyên gia về hiệu năng, nên họ đã tổ chức gia đình đông đúc của họ một cách tuyệt vời, đầy hiệu quả. Đó là lần đầu tiên tôi làm quen với ý niệm “chuyên gia về hiệu năng”; và tôi nghĩ: “Chà, sau này lớn lên mình cũng sẽ là một chuyên gia như thế!” Một mức nào đó, tôi có thể nghĩ rằng mình quả đã trở thành điều mà mình ước mơ ngày xưa – trong tư cách là một nhà tâm lý trị liệu để giúp người ta sống cuộc sống của họ một cách hiệu quả hơn, rồi trong tư cách một diễn giả và một tác giả viết sách, cũng để cố giúp người ta sống cuộc sống của họ một cách hiệu quả hơn; rồi trong lãnh vực công tác cộng đồng, tôi cũng cố gắng giúp các nhóm hoạt động một cách có hiệu quả.

Trong tư cách một chuyên gia về hiệu năng – nếu tôi được phép tự nhận như thế – tôi rất ngưỡng mộ những chuyên gia khác có khả năng xuất sắc trong lãnh vực này. Và tôi phải sợ tính hiệu năng của Thiên Chúa. Chẳng hạn, vào năm 1982, tôi nhận một thù lao rất ‘bèo’ để đăng đàn tại một cuộc hội thảo của giáo phái Mormon ở Salt Lake City – tôi nghĩ đó sẽ là một cơ hội tuyệt vời để mình tìm hiểu thêm về giáo phái này. Vào giờ phút chót, tôi hỏi con gái lớn của tôi – lúc đó 20 tuổi – xem thử có muốn cùng đi với bố đến Salt Lake City hay không. Con gái tôi đồng ý. Và chuyến đi đó đã trở thành một thời gian hết sức quí giá đối với mối quan hệ giữa bố con tôi. Chúng tôi đã làm quen thêm một vài người bạn tốt. Riêng phần mình, tôi đã học biết thêm tất cả những gì mình cần biết về giáo phái Mormon, và cuộc gặp gỡ của tôi với họ cũng thành công mỹ mãn.

Khoảng ba ngày sau khi tôi trở về Connecticut, tôi nhận được một cú điện thoại từ một phụ nữ. Chị muốn xin tôi một cái hẹn. Sau đó vài ngày, chị đến gặp tôi. Thì ra, chị là một thành viên của giáo phái Mormon. Chị nói rằng một cách nào đó chị đã được bồi dưỡng đáng kể bởi Giáo Hội Mormon, song chị cũng cảm thấy bị Giáo Hội này đè nén rất nhiều, và thực tế đã xảy ra xung đột. Tôi cảm thấy chắc hẳn mình đã không thể cảm thông với thế lưỡng nan của người phụ nữ này sâu sắc đến thế nếu như mình đã không có mặt tại cuộc hội thảo kia. Lúc bấy giờ ở vùng thôn quê tây bắc Connecticut chẳng còn có mấy thành viên giáo phái Mormon, và trong 10 năm tôi làm việc ở đó, đây là trường hợp đầu tiên một bệnh nhân như thế đã bước qua ngưỡng cửa văn phòng mình. Tôi ngạc nhiên: “Lạy Chúa, phải chăng Chúa bảo con đi Salt Lake City chỉ nhằm để sửa soạn làm việc với người phụ nữ này thôi sao?” Nhưng ngay lập tức, tôi nhớ lại tất cả những ích lợi khác nữa mà mình đã gặt hái được trong chuyến đi nói trên. Tính hiệu năng của Thiên Chúa làm tôi vô cùng kinh ngạc. Ngài chẳng làm việc gì vu vơ cả!

Lily và tôi có một vườn hoa xinh đẹp. Chúng tôi đã mất nhiều năm tỉ mỉ chăm sóc vườn hoa ấy. Không bao giờ có chuyện tự dưng người ta có một vườn hoa. Để có một vườn hoa xinh xắn, người ta cần phải bỏ ra khá nhiều tiền bạc, thời gian, và sự quan tâm săn sóc. Cũng không thể nào có chuyện tôi điên khùng lái một chiếc xe ủi hay dùng một súng phun lửa triệt phá khu vườn mà chúng tôi đã đầu tư bao tâm lực vào đó. Cảm nghĩ của tôi về cuộc sống bên kia cái chết cũng tương tự như thế. Đã nhìn nhận tính hiệu năng của Thiên Chúa, tôi không thể hình dung được rằng Ngài mất công tạo dựng linh hồn người ta chỉ để rồi phá hủy nó đi, coi nó như rác ruởi. Chắc hẳn Ngài phải hành động một cách nào đó khác!

THIÊN ĐÀNG

Tôi đã đề cập đến Hỏa Ngục và Luyện Ngục. Còn Thiên Đàng thì sao?

Một số người gọi tôi là một “thần học gia tay mơ”, chắc hẳn ám chỉ rằng tôi nói về Thiên Chúa mà chẳng hề đọc sách vở nào. Nhưng có một điều mà các nhà thần học ‘thứ thiệt’ hiện nay nói chung cùng nhất trí với nhau, đó là Thiên Chúa yêu thích sự đa dạng. Nào, bạn hãy ngồi xuống giữa một cánh đồng vào một chiều hè nhàn tản và hãy nhìn xung quanh bạn. Chỉ cần ngồi yên một chỗ, bạn cũng có thể trông thấy hàng chục loài cây cỏ khác nhau. Hàng trăm loại côn trùng khác nhau cùng lên tiếng làm rộn ràng bầu không khí. Nếu như bạn có thể nhìn thấy rõ tất cả những thứ nhỏ li ti – chẳng hạn với một kính hiển vi – thì ngay dưới chân bạn là cả một xã hội lúc nhúc những vi trùng và vi rút đang sinh hoạt xôn xao. Thật là đa dạng!

Bây giờ bạn hãy nhìn lại loài người chúng ta thử xem sao. Từ nhiều năm nay, tôi không chỉ ngày càng bị ấn tượng bởi tính đa dạng phi thường của con người mà còn bị cuốn hút bởi tính đa dạng ấy nữa. Chúng ta là nam và nữ, là già và trẻ, là da trắng và da đen hay da vàng, da đỏ, là Do Thái giáo hay Kitôgiáo, Hồi giáo, Aán giáo… Thế giới này sẽ buồn thảm biết chừng nào nếu tất cả mọi người đều giống hệt như tôi hay như bạn, phải không?

Vì Thiên Chúa yêu thích sự đa dạng, nên có một điều tôi có thể quả quyết về Thiên Đàng, đó là: Thiên Đàng không thể hợp với ý niệm rập khuôn kiểu các thiên thần giống hệt nhau với những vầng hào quang theo tiêu chuẩn như nhau, ôm đàn hạc ngồi cưỡi những đám mây trắng muốt. Có lẽ câu trích dẫn thông thuộc nhất tại các lễ tang là: “Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở.” Hồi còn bé, tôi nghĩ rằng câu ấy nhằm cho biết kích thước rộng lớn của “nhà Cha Ta” – tức Thiên Đàng. Tôi tưởng tượng Thiên Đàng rộng lớn đến nỗi có thể chứa đựng trong đó vô số những căn phòng cho người ta ở. Nhưng bây giờ tôi hiểu rằng câu nói ấy nhằm cho biết sự đa dạng của Thiên Đàng. Tôi hình dung khi chúng ta vào Thiên Đàng, chúng ta sẽ gặp thấy rất ‘nhiều chỗ ở’ – dĩ nhiên. Một số chỗ ở xây bằng gạch, một số bằng gỗ, một số lợp ngói, một số lợp tranh, một số có bể bơi, một số tọa lạc trên triền núi đá, một số ở giữa thung lũng … Vâng, “trong nhà Cha Ta, có nhiều chỗ ở” !

Ngoài ra, tôi chẳng biết gì hơn nữa về Thiên Đàng. Tất cả những gì liên quan đến Thiên Đàng, Hỏa Ngục và Luyện Ngục đều thuộc về “thần học giả đoán”. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là giả đoán. Chúng ta sẽ không biết cho tới khi chúng ta được giải thoát khỏi thân xác này bằng cái chết của mình.

Nói về việc nhận biết là, đó là ‘nghề’ chính của tôi. Bạn biết đó, tôi là một con người khoa học trước khi là một con người tín ngưỡng. Giới khoa học chúng tôi thường được mệnh danh là những “con người thường nghiệm”. Chủ nghĩa thường nghiệm (empiricism) chủ trương rằng con đường tốt nhất để hiểu biết – tốt nhất, chứ không phải duy nhất – là con đường kinh nghiệm. Vậy thì chúng tôi, những nhà khoa học, sẽ làm gì nếu không phải là tiến hành các thí nghiệm để tìm hiểu và cuối cùng đạt tới tri thức? Phần tôi, chính nhờ đi qua các kinh nghiệm cuộc đời mình – các kinh nghiệm về ân sủng – mà tôi đạt được chút tri thức nhỏ bé của mình về Thiên Chúa.

Về phương diện này, tôi thấy mình rất giống với Carl Jung, cũng là một nhà khoa học. Hồi cuối đời ông, có lần ông nhận trả lời phỏng vấn trong khuôn khổ một phóng sự điện ảnh. Sau nhiều câu hỏi ‘sáo’ thông thường, cuối cùng người phỏng vấn hỏi: “Thưa Bác sĩ Jung, sắc thái tôn giáo được thấy bàng bạc trong các tác phẩm của ông. Vậy, ông có tin rằng có Thiên Chúa?”

Ông già Jung bập một hơi thuốc lá từ ống tẩu, khẽ nhíu mày, lẩm bẩm: “Tin rằng có Thiên Chúa ư? Ờ, ờ, chúng ta dùng chữ “tin” khi chúng ta nghĩ rằng một điều gì đó là có thật song mình không có một chứng cứ cụ thể để chứng minh cho điều đó. Vậy thì … Không! Tôi không tin có Thiên Chúa. Tôi biết có Ngài.”

BẢN HỢP ĐỒNG BẤT THÀNH VĂN

Có một cơn đói đang cồn cào ngày nay, một nỗi bất mãn bứt rứt đối với những câu trả lời do chủ nghĩa duy vật và do các tiến bộ khoa học đem lại, một khát vọng quay quắt về cuộc sống nội tâm … Ngày càng có nhiều người Mỹ bắt đầu đi vào trong lãnh giới của tinh thần và tâm lý để tìm phương giải quyết cho cơn đói khát ấy của mình.

Những giòng trên không phải được trích từ một tác phẩm ‘best-seller’ nào đó mới đây đâu. Nó được trích từ tờ tạp chí U.S. News & World Report, số ra ngày 7 tháng 12, 1992. Trong số này, tờ tạp chí dành 5 trang để cố giải thích tại sao Carl Jung – hơn 30 năm sau khi qua đời – bỗng dưng được thiên hạ ngày nay nhắc đến nhiều như thế. Và tờ tạp chí kết luận rằng Jung đã dàn xếp được một cuộc hôn nhân hoàn hảo giữa tâm lý và tâm linh, giữa tín ngưỡng và khoa học.

Quyển Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi có thể được xem như ‘tiếng nói của Jung được chuyển thể cho thính giả đại chúng’. Và sự kiện quyển sách được đón nhận hết sức rộng rãi như thế chắc chắn có liên quan đến yếu tố rằng nó được xuất bản đúng thời điểm chín muồi, thời điểm mà ‘cơn đói’ ấy được người ta cảm nhận một cách cồn cào hơn bao giờ. Chính tôi cũng ngạc nhiên về sự nổi tiếng của quyển sách. Bởi vì tôi chẳng nói điều gì mới mẻ trong đó cả. Tôi chỉ lặp lại những gì mà Carl Jung, William James và những người khác đã nói từ rất lâu rồi. À, thì ra dù tôi không nói điều chi mới, song đối với người ta nó vẫn cứ ‘mới’ – bởi trước đây họ đã không lắng nghe. Bây giờ thì họ đã sẵn sàng lắng nghe hơn. Và chính sự khác biệt này giải thích vì sao quyển sách của tôi nổi tiếng.

Ít lâu sau khi xuất bản, Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi được đặc biệt xôn xao nhắc đến bởi những người thuộc học phái cơ yếu Thánh Kinh. Đầu tiên, phần lớn những lời mời tôi thuyết trình đều đến từ nhóm này. Thật lạ, vì tôi đâu phải là một người theo trường phái cơ yếu (fundamentalist)! (18) Tôi chợt nhận ra rằng những người muốn nghe tôi nói chuyện có thể ở trong môi trường cơ yếu Thánh Kinh nhưng không chia sẻ não trạng đặc trưng của môi trường ấy. Có vô số người giàu thiên hướng về Thiên Chúa và tâm linh nhưng được nhồi nhét một thứ niềm tin tôn giáo quá ‘đơn giản hóa’, thứ niềm tin trong đó người ta tự nhận rằng mình có lời giải đáp cho tất cả mọi sự và chẳng có chi là huyền nhiệm với họ cả. Những người ấy đang khao khát một luồng khí mới. Họ cần có một nhịp cầu nối qua hai bờ vịnh, giữa một bên là khoa học thuần tính duy vật và bên kia là một thần học giáo điều cứng ngắt.

Để hiểu tại sao có tồn tại một cái vịnh ngăn cách như thế, chúng ta phải đi ngược dòng thời gian, trở về thời mà thậm chí chưa hề có cái gọi là khoa tâm lý. Chúng ta cần khảo sát lịch sử mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học.

Cách đây khoảng hai mươi lăm thế kỷ, mối liên hệ ban sơ giữa tôn giáo và khoa học là một mối liên hệ hòa hợp. Mối hòa hợp này có một cái tên, đó là ‘triết học’! Vì thế, các triết gia đầu tiên như Platon và Aristote, rồi những triết gia sau này như Tôma Aquinô … đều là những người có khuynh hướng khoa học. Họ lập luận mạch lạc chặt chẽ và họ chất vấn các tiền đề, nhưng họ cũng hoàn toàn xác tín rằng Thiên Chúa là một thực tại khẩn thiết.

Nhưng rồi đến thế kỷ 16 thì mọi sự bắt đầu tệ hại đi, và điều tệ hại nhất đã xảy ra vào năm 1633 khi Galileo bị gọi đến trước Tòa Điều Tra. Biến cố ấy đã dẫn tới những hệ quả hết sức ‘chán’. Galileo bị ép tuyên bố rút lại niềm tin của mình đối với thuyết Copernic (thuyết cho rằng các hành tinh quay quanh mặt trời) – và ông bị quản thúc cho đến mãn đời. Tuy nhiên, về phía Giáo Hội, tình hình cũng ảm đạm không kém, ít là trong một thời.

Để nhận diện được diễn tiến của tình hình, tôi xin dựng ra một câu chuyện ở đây. Nào, chúng ta hãy đặt mình vào thời điểm năm 1705, nơi chốn là Luân-Đôn. Chúng ta được cho phép chứng kiến một cuộc gặp gỡ bí mật trong tư dinh của Nữ Hoàng Anne. Giáo Hoàng Clement XI đã bí mật vượt quãng đường từ Rôma đến đây để có mặt trong cuộc gặp gỡ ‘kín’ này. Và một nhân vật khác nữa, theo lệnh triệu tập của nữ hoàng, đã đến từ phòng thí nghiệm của mình ở Hội Hoàng Gia Luân-Đôn Phát Triển Kiến Thức Tự Nhiên – người ấy chính là Isaac Newton.

Nữ hoàng lên tiếng để bắt đầu cuộc họp: “Như các ngài biết đó, Thiên Chúa trao cho tôi trách nhiệm về trật tự chính trị và về kỷ cương của xã hội chúng ta. Tôi rất biết ơn Giáo Hoàng vì gần đây ngài có gửi cho tôi một thông điệp kín, đề nghị thực hiện một hành động nhằm – nhờ ơn Chúa – tạo điều kiện cho tôi chu toàn trách nhiệm của tôi. Vâng, cuộc gặp gỡ hôm nay chính là sáng kiến của Giáo Hoàng. Vậy, xin Giáo Hoàng vui lòng đích thân chuyển đạt ý kiến của mình cho ngài Newton.”

“Xin cảm ơn, xin cảm ơn.” – Giáo Hoàng quay nhìn Isaac Newton – “Ngài biết đó, thưa ngài Newton, vụ Galileo đã đặt Giáo Hội vào tình thế khó xử trong ít lâu nay. Điều tôi muốn đề nghị với nữ hoàng là cần gấp rút có một giải pháp nào đó để giải tỏa sự xung đột giữa khoa học và tôn giáo.”

“Vâng, đó chắc chắn là mối quan tâm hàng đầu của xã tắc hiện nay.” – Nữ hoàng nói xen vào.

Newton sốt sắng đưa ra lời giải thích rằng các phương tiện và mục tiêu của khoa học được phát triển trong thế kỷ vừa qua không hề giống với các phương tiện và mục tiêu của tôn giáo. “Thời đại của các triết gia sa-lông không còn nữa” – ông nói – “tôi thấy chúng ta không thể và không nên quay ngược bánh xe lịch sử.”

“Ồ, vâng, tôi hoàn toàn đồng ý thế, thưa ngài Newton.” Giáo Hoàng nói – “Việc thống nhất hai đàng trở lại là điều không thể được. Tuy nhiên, chắc chắn có thể có ít nhất là một sự hòa giải nào đó, có thể vãn hồi một mối hữu nghị giữa tôn giáo và khoa học.”

“Nhưng cụ thể các ngài muốn tôi làm gì?” – Newton hỏi.

“Một thỏa thuận, Isaac à. Đã đến lúc cần có một thỏa thuận.” – Nữ hoàng nói.

“Vâng, một thỏa ước” – Giáo Hoàng tiếp lời – “Nhân danh Tòa Thánh, tôi xin bảo đảm rằng Giáo Hội sẽ không bao giờ gây khó dễ cho bất cứ một nhà khoa học chân chính nào, miễn là bên phía quí vị là các nhà khoa học cũng đừng chõ mũi vào các vấn đề của tôn giáo.”

Nữ hoàng gật gật: “Điều chúng tôi đề nghị, thưa ngài Newton, đó là có một sự tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta cần có một sự cân bằng ổn định về quyền lực và một mối quan hệ hợp tác trong đó đôi bên cùng có lợi. Chúng ta cần ký hiệp định nhìn nhận những ranh giới đang có sẵn. Thưa ngài Newton, mục đích của ‘Hội Hoàng Gia’ của ngài, mà hiện nay đang được tôi bảo trợ, là phát triển kiến thức tự nhiên – theo đúng như danh xưng của nó. Và, cần ghi nhận là kiến thức tự nhiên thì hoàn toàn khác với kiến thức siêu nhiên. Tôi tin rằng ngài Newton sẽ đồng ý nhìn nhận rằng kiến thức siêu nhiên là lãnh vực hoàn toàn thuộc riêng của Giáo Hội. Phải không nào?”

“Cũng như chính trị là lãnh vực hoàn toàn dành riêng cho các chính khách” – Giáo Hoàng phụ họa vào – “Rõ ràng là nỗ lực của khoa học nhằm phát triển kiến thức tự nhiên không thể bị bôi nhọ bởi những thói thất thường của chính trị phàm tục. Khoa học cần phải đứng trên các vấn đề chính trị và đứng ngoài lãnh vực tôn giáo. Tôi đề nghị nhà nước bảo trợ cho khoa học bằng cách chi ngân sách cho các phân khoa khoa học tại các trường đại học cũng như tài trợ cho việc sắm sửa các trang thiết bị ngày càng phức tạp hơn trong lãnh vực nghiên cứu khoa học.”

“Đúng vậy, ngài Isaac ạ,” Nữ hoàng nói – “nếu ngài nhất trí ủng hộ ý niệm về lãnh giới khoa học thuần túy như chúng tôi đề xuất, thì tôi chắc chắn Giáo Hội sẽ biểu dương các nhà khoa học chân chính như những bậc anh hùng.”

Giáo Hoàng gật gật, tỏ vẻ đồng ý: “Và như vậy, một phần ngân quĩ nhà nước sẽ có thể được sử dụng vào các chi phí nghiên cứu khoa học – dĩ nhiên là chỉ giới hạn trong lãnh vực nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên.”

Newton ngồi yên, trầm ngâm hồi lâu. Cuối cùng, ông lên tiếng: “Ờ, ờ, nghe có vẻ hay đấy!”

Nữ hoàng mỉm cười: “Ngài Isaac, trong tư cách là chủ tịch Hội Hoàng Gia, ngài là nhà khoa học có nhiều ảnh hưởng nhất trong giới Kitô giáo. Nếu ngài ủng hộ quan điểm về khoa học thuần túy như chúng tôi vừa trình bày, tôi tin chắc rằng đây sẽ là yếu tố quyết định có tính bảo đảm cho sự ổn định của nền văn minh Kitô giáo trong những thế kỷ sắp tới. Nhưng, dĩ nhiên, tất cả phải được thực hiện một cách âm thầm. Vì đây là vấn đề quan điểm, một loại vấn đề rất tế nhị. Tôi nghĩ chúng ta không cần tiết lộ cho bất cứ ai biết về cuộc họp này. Chúng ta sẽ triển khai tất cả những nghị quyết đã nêu ra mà không cần kèn trống gì cả. Tôi tin rằng ngài sẽ tích cực cộng tác với tôi trong vấn đề này.”

“Tôi hứa sẽ làm hết khả năng mình, thưa nữ hoàng.” Newton nói.

“Ồ, tốt lắm, ngài Isaac.” Nữ hoàng cười thật tươi – “À, tôi biết ngài có thể bảo mật nên tôi không ngại tiết lộ với ngài rằng tôi đã có dự tính phong cho ngài tước hiệp sĩ nội trong năm nay!”

Đó là tất cả những gì tôi tưởng tượng ra. Dĩ nhiên, đã không hề xảy ra một cuộc gặp gỡ như thế. Tuy nhiên, một hợp đồng xã hội ngầm với nhau trong việc phân chia lãnh giới giữa nhà nước, khoa học và tôn giáo như thế đã được triển khai vào khoảng cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18. Người ta đã không triển khai bản hợp đồng đó một cách ý thức. Nó dường như là một sự đáp ứng vô thức đối với các nhu cầu của thời bấy giờ. Dù sao đi nữa, bản hợp đồng xã hội bất thành văn ấy đã đóng vai trò chủ chốt trong việc xác định bản chất của khoa học cũng như của tôn giáo kể từ đó.

Thật vậy, bản hợp đồng ngầm ấy có thể được xem như là một trong những sự kiện tri thức vĩ đại của loài người. Nó đem lại bao nhiêu điều tốt đẹp: Tòa Điều Tra bị xóa sổ, các pháp sư không còn bị thiêu sống nữa, các két tiền của Giáo Hội vẫn đầy ắp trong vài thế kỷ, chế độ nô lệ bị bãi bỏ, thể chế dân chủ được thiết lập mà không có biến loạn, và – có lẽ nhờ tự giới hạn mình trong lãnh vực hiện tượng tự nhiên – khoa học đã chắp cánh, khai sinh ra cuộc cách mạng kỹ thuật ngoạn mục đến mức không thể tưởng tượng được, thậm chí có khả năng mở đường cho một nền văn hóa hành tinh.

Chỉ có một vấn đề duy nhất, đó là bản hợp đồng ngầm ấy không còn có tác dụng tích cực nữa. Thật vậy, một hợp đồng như vậy đối với chúng ta thời nay rõ ràng là một hợp đồng ma quỉ! Ma quỉ xúi quẩy chuyện phân chia, tách biệt (19). Bản hợp đồng ngầm ấy đang xé rách chúng ta ngày nay.

CÁI HẠI CỦA VIỆC PHÂN NGĂN

Hồi năm 1970-71, tôi đang làm việc trong quân đội; tôi thường rảo bước qua các hành lang của Lầu Năm Góc, nói chuyện với người ta về cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Hiểu mối ưu tư của tôi, những người đối thoại với tôi thường đưa ra lời giải thích đại khái là: “Ờ, vâng, thưa Bác sĩ Peck, chúng tôi hiểu quan điểm của ông. Nhưng, ông cũng biết đó, chúng tôi chỉ là bộ phận tiếp liệu, chúng tôi chỉ có bổn phận lo sao cho các quả bom na-pan được sản xuất và được gửi sang Việt Nam kịp thời. Còn chính vấn đề cuộc chiến tranh ấy thì chúng tôi thực sự không có trách nhiệm quyết định. Đó là phần việc của bên bộ phận đặc trách chính sách. Tốt hơn, ông nên đi xuống hành lang và trao đổi với những người ở phòng chính sách về chuyện ấy.”

Tôi nghe lời, đi xuống hành lang và nói chuyện với những người trong phòng chính sách, và họ nói: “Vâng, thưa Bác sĩ Peck, chúng tôi hiểu mối quan tâm của ông. Nhưng ở đây là phòng chính sách, chúng tôi chỉ có trách nhiệm thi hành các chính sách; chúng tôi không phải là những người đề ra các chính sách, đó là công việc của bên Nhà Trắng.” Thế đấy, xem chừng toàn thể Lầu Năm Góc hoàn toàn không có chút trách nhiệm gì về cuộc Chiến Tranh Việt Nam!

Kiểu phân ngăn như vậy cũng xảy ra trong bất cứ tổ chức lớn nào. Người ta có thể nhận thấy lề thói này trong các xí nghiệp, các cơ quan nhà nước, các bệnh viện, các trường đại học, các Giáo Hội… Khi một cơ chế nào đó trở nên to lớn và được phân thành các ngành các ban, thì lương tâm của cơ chế ấy thường sẽ bị xé ra manh mún và nhạt nhòa đến như không còn tồn tại nữa, và chính bản thân tổ chức ấy sẽ trở thành một sự dữ.

Kiểu phân ngăn như thế cũng xảy ra nơi các cá nhân nữa. Chúng ta có một khả năng đáng kể trong việc xử lý những vấn đề nhạy cảm, dễ gây đụng chạm giữa mình và người khác: chúng ta nhốt những vấn đề ấy vào trong những buồng kín riêng rẽ nhằm để tránh đụng chạm nhau và tránh gây đau đớn nhiều cho nhau. Tất cả chúng ta đều không lạ gì những người đi nhà thờ vào sáng Chủ Nhật, nghĩ rằng mình yêu Chúa, yêu các tạo vật của Ngài và yêu đồng loại, nhưng vào sáng thứ hai, ở công ty mình, thì thoải mái đổ chất thải độc hại xuống sông rạch một cách vô tội vạ. Anh ta làm thế vì nơi con người mình, anh ta chứa tôn giáo trong một ngăn và công việc của anh ta trong một ngăn khác. Anh ta quả xứng đáng với danh hiệu “Kitôhữu sáng Chủ Nhật”! Thật là thoải mái, song chẳng nhất quán tí nào.

Từ “nhất quán” (integrity) cùng gốc với từ “hội nhập” (integrate). Nó có nghĩa là đạt đến tính toàn bộ, tính trọn vẹn, đối ngược với sự phân chia, tách ngăn. Phân ngăn ra là điều dễ dàng. Hội nhập cho nhất quán mới khó, bởi nó gây đau khổ. Nhưng nếu không hội nhập thì không thể có được sự trọn vẹn. Sự nhất quán đòi chúng ta phải hoàn toàn cởi mở đón nhận những áp lực, những ý tưởng và những căng thẳng xung đột nhau trong cuộc sống.

ĐIỀU GÌ BỊ BỎ SÓT?

Đứng trước bất cứ giải pháp nào được đề xuất cho xã hội, tôi luôn luôn có một qui tắc vàng, đó là tự hỏi: “Điều gì đang bị bỏ sót ở đây?” Lần đầu tiên tôi học biết phải tìm kiếm điều bị bỏ sót là trong cuộc Chiến Tranh Triều Tiên. Lúc ấy tôi mười bốn tuổi, sáng nào cũng chạy ra sạp báo mua tờ New York Times. Bữa nọ tôi đọc thấy trong bản tin rằng 37 chiếc MIG bị bắn hạ – một chiến thắng đậm đà cho Không Lực Hoa Kỳ, vì phe ta chẳng có thiệt hại nào. Hôm sau, tôi càng phấn khởi hơn, khi đọc thấy rằng 41 MIG bị bắn hạ, và tất cả các máy bay chiến đấu Mỹ đều trở về căn cứ an toàn. Hôm sau nữa, 43 MIG bị bắn hạ, chỉ một máy bay Mỹ mất tích. Hôm sau nữa, 39 MIG bị hạ, phía Không Lực Mỹ hoàn toàn vô sự. Rồi hôm sau nữa, 43 MIG bị bắn hạ, một máy bay Mỹ bị hư hại nhẹ. Tôi vừa thầm tiếc cho chiếc máy bay Mỹ bị hư hại nhẹ và chàng phi công Mỹ bị mất tích kia, vừa rất phấn khởi với những con số thiệt hại của đối phương như được nêu trong các bản tin. Cũng chính tờ Times ấy giải thích rằng sở dĩ Không Lực Mỹ chiến thắng lẫy lừng như vậy là nhờ ở trình độ vượt trội của Mỹ trong việc sản xuất máy bay so với Nga. Tờ Times ấy cũng nói rằng các phi công Mỹ chúng ta được huấn luyện tốt hơn nhiều so với các phi công Trung Quốc và Bắc Triều Tiên vừa nghèo vừa đói rách!

Rồi cũng trong chính tờ New York Times ấy, tôi đọc thấy rằng Nga và Trung Quốc là những quốc gia rất kém cỏi, chưa phát triển. Cứ thế, năm này qua năm khác, tôi tự hỏi tại sao những nước có nền công nghiệp tồi như thế lại sản xuất ra những chiếc MIG tội nghiệp ấy chỉ để cho người ta bắn rơi! Và rồi, tôi chợt nhận ra rằng chắc chắn có một điều gì đó bị bỏ sót trong các bản tin kia. Từ ấy, tôi không thể nào tin hết mọi điều mà mình đọc thấy trong tờ New York Times nữa.

Tôi gặp lại bài học đó lần nữa ở trường y, khi tôi và Lily đọc quyển Atlas Shrugged của Ayn Rand, một quyển sách tuyên truyền mạnh mẽ chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng vị kỷ cực đoan. Quyển sách ấy suýt chút nữa đã đẩy tôi đứng vào hàng ngũ Cộng Hòa cánh hữu! Nhưng, có một điều gì đó quấy rầy tôi về quyển sách ấy. Và khoảng mười ngày sau khi đọc xong quyển sách, tôi mới nhận ra rằng trong trọn câu chuyện của quyển sách 120 trang đó, hầu như không có bóng dáng một đứa trẻ nào! Trẻ em bị bỏ sót. Và đó chính là yếu huyệt làm cho triết lý vị kỷ của Rand phải phá sản.

Tất cả những bài học ấy lại được xác nhận lại trong quá trình học ngành tâm thần của tôi, khi tôi học biết rằng những gì bệnh nhân nói ra thì không quan trọng bằng những gì họ không nói ra. Nếu thân chủ của bạn thoải mái nói đủ thứ về hiện tại và tương lai nhưng không bao giờ hé một lời nào về quá khứ, thì bạn có thể nắm chắc rằng thân chủ ấy có một điều chi đó không ổn trong quá khứ của mình. Hoặc nếu thân chủ chỉ nói toàn chuyện quá khứ và tương lai nhưng không hề đề cập đến hiện tại, thì hầu chắc anh ta hay cô ta đang có vấn đề gì đó trong hiện tại. Cũng vậy, nếu thân chủ chỉ nói về quá khứ và hiện tại mà không bao giờ nói chuyện tương lai thì bạn có thể đoán rằng thân chủ có trục trặc với tương lai – một trục trặc gì đó về niềm tin hay về hy vọng.

SỰ PHÂN NGĂN TRONG TÂM THẦN HỌC

Khi vấn đề của bệnh nhân là một vấn đề về niềm tin hay về hy vọng, thì tâm lý trị liệu sẽ thấât bại nếu nó phân ngăn thay vì hội nhập, hoặc nếu nó không giải quyết vấn đề giá trị. Hồi tôi học ngành tâm thần, chúng tôi được dạy rằng tâm lý trị liệu – theo mẫu thức của khoa học thuần túy – phải cố gắng đứng ngoài các giá trị. Nhà trị liệu phải đứng ở thế hoàn toàn khách quan đối với các vấn đề giá trị, và cần lưu ý đừng áp đặt các giá trị của mình lên bệnh nhân. Vì nếu có sự áp đặt như vậy, cuộc trị liệu sẽ đi vào lãnh giới nguy hiểm của đối chuyển vị (countertransference) (20), trở thành bị vẩn đục và không còn trong sáng nữa.

Vị khoa trưởng của chúng tôi đã từng dạy các sinh viên rằng một nhà trị liệu giỏi là nhà trị liệu phải nói với bệnh nhân ngay từ đầu rằng “Tôi không ở đây để phán xét bạn!” Ghi nhớ bài học ấy, khi tôi bắt đầu làm việc dài hạn với các bệnh nhân ngoại trú, tôi đã nói với khoảng hơn chục người đầu tiên rằng tôi không ở đó để phán xét họ. Và tôi thấy điều ấy thật chẳng có nghĩa lý gì. Sở dĩ việc người ta nhận trị liệu tâm lý là một hành vi can đảm là bởi vì họ hiểu rằng họ sẽ không đạt được gì khả quan hơn trừ phi họ sẵn sàng nhận sự phán xét.

Thực tế thì chẳng bao giờ có cái gọi là ‘tâm lý trị liệu đứng ngoài các giá trị’. Chí ít thì các nhà tâm lý trị liệu cũng có hệ thống giá trị của mình trong vô thức, và hệ thống giá trị chiếm ưu thế hơn lúc bấy giờ được gọi là nhân bản thế tục (secular humanism). Đó là một hệ thống giá trị nhấn mạnh đến các vấn đề của cuộc sống trần thế này và đào thải các mối ưu tư về thế giới khác. Về nhiều phương diện, nó là một hệ thống giá trị rất tốt, và nhiều người chống đối nó sẽ được khuyên nên bắt chước chính những nhà nhân bản thế tục mà họ tố cáo.

Tôi xin kể vài ví dụ về các giá trị nhân bản thế tục. Freud, một con người vô thần, đã định nghĩa sự lành mạnh tâm thần bằng hai thuật ngữ là lieben và arbeiten – nghĩa là ‘yêu’ và ‘làm việc’. Yêu đúng đắn là một giá trị nhân bản thế tục, cũng vậy, làm việc một cách đầy hiệu suất là một giá trị nhân bản thế tục. Một ví dụ khác: Cách đây khoảng 15 năm, tôi gặp một nữ thân chủ cực kỳ trầm uất. Thật khó mà cạy được một lời từ môi miệng chị ta. Trong suốt năm đầu tiên của cuộc trị liệu, chị cứ đến đúng giờ và nói: “Ôi, tuần này tôi cảm thấy nản hơn!”. Tôi hỏi: “Này, tại sao chị nghĩ thế?” Và chị lập tức trả lời: “Tôi không biết.” Cũng có đôi lần, chị đến và nói: “Tuần này tôi nghe đỡ nản hơn.” Và tôi hỏi: “Này, tại sao chị nghĩ thế?” Chị vẫn trả lới tức thì: “Tôi không biết.”

Cuối cùng, tôi nói: “Này chị, tôi yêu cầu chị nghĩ về một điều gì đó. Và chị trả lời ‘tôi không biết’ chỉ trong một phần triệu giây! Như vậy, chị đã không làm điều mà tôi yêu cầu chị làm – nghĩa là chị đã không suy nghĩ chút nào cả. Thế mà, chúng ta không thể đạt được một sự tiến triển nào nếu trước hết chị không học biết suy nghĩ.” Suy nghĩ – đó cũng là một giá trị nhân bản thế tục.

Hệ thống giá trị nhân bản thế tục có thể đáp ứng sự trị liệu cho khoảng 60% các bệnh nhân tâm thần. Nhưng đối với khoảng 40% còn lại, chỉ nguyên hệ thống giá trị ấy thôi vẫn không đủ. Và đó là lý do tại sao AA, chẳng hạn, tỏ ra có tác dụng hơn ngành tâm thần trong việc điều trị các con nghiện rượu – là những người thường rơi vào nhóm 40% nói trên. Sở dĩ thế một phần bởi vì, như chúng ta đã đề cập, AA nhắm đến các nhu cầu tâm linh của những người ấy – loại nhu cầu mà tâm lý trị liệu truyền thống, với những giá trị nhân bản thế tục của nó, không hề nhắm tới.

Những ý tưởng và quan niệm tâm linh tín ngưỡng là yếu tố cần cho việc trị liệu đối với rất nhiều người – chứ không chỉ đối với những kẻ nghiện rượu hay ma túy mà thôi. Những người bị ám ảnh sợ hãi cực độ một điều gì đó, chẳng hạn, là những người thuộc trong số này. Trong nghề nghiệp của tôi, bất cứ ai đến với tôi trong một nỗi ám ảnh đặc biệt về một đường phố nào đó, về những con mèo, về những máy bay… thì rồi cuối cùng đều té ra rằng đó là những người không ham thích lắm với các xa lộ, với loài chó, hay với xe lửa! (21) Và quả thực, tôi nhận ra họ bị ám ảnh bởi chính đời sống. Nhân cách của họ được gọi là nhân cách hoảng loạn.

Qua nhiều năm làm việc với một số bệnh nhân như vậy, tôi chú ý sự kiện rằng cái nhìn của họ về thế giới có hai điểm chung: Thứ nhất, họ xem thế giới như một nơi vô cùng nguy hiểm; và thứ hai, họ cảm thấy rằng họ hoàn toàn một mình trong cái thế giới nguy hiểm đó, một mình họ phải tự xoay xở để sống còn. Vì cảm nghĩ như vậy, họ sợ hãi và có xu hướng giới hạn tầm hoạt động của mình lại, thu hẹp thế giới của mình lại chỉ còn một khoảnh mà mình có thể hoàn toàn kiểm soát được – và trong thế giới đó mình có thể cảm thấy an toàn được.

Chẳng hạn, cách đây khoảng mười lăm năm, tôi làm việc một phụ nữ mắc rất nhiều nỗi ám ảnh – trong số đó có nỗi sợ đối với nước và việc bơi lội trong nước. Chị có hai đứa con, một đứa năm tuổi, đứa kia bảy tuổi – tức độ tuổi tập bơi. Vì vậy, nỗi ám ảnh kia trở thành một vấn đề rất rắc rối đối với chị. Sau khi theo đuổi trị liệu khoảng một năm, một buổi sáng nọ chị đến và kể với tôi rằng chị vừa trải qua một cuối tuần tuyệt vời. Chị cho biết vào sáng Chủ Nhật chị đã đưa các con đến bể bơi, nơi chị đã cùng bọn trẻ đùa nghịch thỏa thích dưới nước. Tôi hoàn toàn bất ngờ, vì thời gian ấy tôi không thấy có biến chuyển tâm lý gì mới lạ nơi người phụ nữ này, vì thế tôi gãi đầu và nói:

“Tôi vẫn tưởng chị sợ chuyện bơi lội chứ ?”

Chị đáp: “Vâng, nhưng tôi không sợ các bể bơi.”

Tôi càng khó hiểu.

“Sao kỳ thế?” – tôi hỏi.

Và chị trả lời: “Vì ở bể bơi, nước trong chứ không đục.”

Thì ra chị không sợ bơi mà chỉ sợ biển, sông, hồ … những nơi mà chị không bao giờ lội xuống quá đầu gối – bởi vì nếu lội sâu hơn, chị không còn nhìn thấy được các ngón chân của mình. Ai biết được điều gì có thể xảy ra cho các ngón chân của chị khi chị không nhìn thấy chúng!

Sau một thời gian, tôi nhận thấy rằng không có cách nào để điều trị những người như vậy nếu không chuyển hóa thế giới quan của họ về hướng tích cực hơn: giúp họ nhìn thế giới như một nơi ít nguy hiểm hơn, hay ít nhất một nơi mà họ không phải xoay xở một mình song còn có ân sủng của Thiên Chúa bảo vệ họ nữa.

Tôi tin rằng việc sử dụng các quan niệm tôn giáo cách thích đáng có thể hỗ trợ đắc lực cho tâm lý trị liệu trong rất nhiều trường hợp quá nhạy cảm đối với phương pháp truyền thống. Những quan niệm tôn giáo ấy có thể được sử dụng cả để thách thức lẫn để an ủi bệnh nhân. Chẳêng hạn, khi người ta cần ngừng day dứt xót xa cho chính mình, tôi có thể nhắc họ rằng Đức Giêsu đã dạy chúng ta vác thập giá mình một cách vui tươi tự nguyện. Nhưng đối với những người có lương tâm đặc biệt sáng suốt và chín chắn, thì có thể cứ để cho họ day dứt lúc này lúc khác. Với những người như thế, tôi sẽ giải thích rằng khi Đức Giêsu dạy chúng ta vui tươi vác thập giá mình, Ngài không có ý kỳ vọng chúng ta vác thập giá một cách vui tươi 24/24 giờ. Chỉ những ai bị tổn thương não bộ cách nào đó thì mới có thể vui tươi vác 24/24 giờ như vậy. “Theo bạn tưởng tượng thì Đức Giêsu cảm thấy thế nào khi Ngài leo lên Núi Gôn-gô-tha với cây gỗ 300 cân đè trên vai?” – tôi hỏi. Và các bệnh nhân này trả lời: “Hẳn Ngài cảm thấy xót xa phận Ngài.” Tôi kết luận: “Vậy thì bạn cũng có quyền tự cho phép mình cảm thấy xót xa phận mình mỗi ngày hai lần, mỗi lần dăm phút chứ.”

TRẦM CẢM VÀ HOANG TƯỞNG

Trong khi hành nghề trị liệu, tôi thường gặp những người trầm cảm mà tôi gọi là các Hoàng Tử hay Công Chúa. Người đầu tiên tôi gặp là một phụ nữ. Trước đó chị đã tiến triển tốt trong việc xử lý chứng trầm cảm của chị nhờ theo đuổi trị liệu với một bác sĩ tâm thần khác. Và chị đến với tôi chỉ vì cảm thấy “còn một chút xíu nữa cần giải quyết nốt”. Sau khi làm việc với tôi được gần một năm, bữa nọ chị đề cập đến một vấn đề rất phức tạp với con cái chị. Chị như hoàn toàn lúng túng, không biết phải làm gì. Khi đang xem xét vấn đề ấy của mình, chị bỗng thốt lên: “Ôi, tôi sẽ thật sung sướng khi cuộc trị liệu này kết thúc!” Tôi hỏi: “Tại sao chị nói như thế?” Chị đáp: “Tôi sẽ sung sướng khi cuộc trị liệu kết thúc và tôi sẽ không còn phải khổ sở với những vấn đề này nữa!”

Tôi cảm thấy có một hoang tưởng nơi người phụ nữ này – hoang tưởng rằng tâm lý trị liệu sẽ tống khứ không chỉ mọi phiền não của hiện tại mà cả những phiền não của tương lai nữa. Đó là sự hoang tưởng rất thường gặp nơi các ‘Hoàng Tử’ và các ‘Công Chúa’.

Để giải thích làm sao người ta có thể có những hoang tưởng như thế, tôi phải nhắc lại ở đây bối cảnh tâm lý trẻ em. Theo những gì chúng ta nhận định được, trẻ em trong năm đầu tiên bắt đầu nhận biết cái mà chúng ta gọi là các vành đai bản ngã của chúng. Trước khi chúng nhận biết được điều đó, chúng không thực sự nhận ra sự khác biệt giữa, chẳng hạn, bàn tay của chúng và bàn tay của mẹ chúng; chúng nghĩ rằng bởi vì chúng đau bụng nên mẹ chúng cũng đau bụng và cả thế giới này đều đau bụng. Qua tuổi thứ hai, chúng học biết các vành đai thể lý (dù chưa nhận ra các vành đai quyền lực) của mình. Vì thế chúng vẫn nghĩ rằng chúng là trung tâm của vũ trụ, còn cha mẹ, anh chị, chó mèo … chỉ thuần túy là những thuộc hạ phục vụ cho vương quyền riêng của chúng.

Rồi trong độ tuổi lên hai – tuổi ‘bạo chúa’ – ấy của đứa trẻ, cha mẹ bắt đầu ngăn cản chúng trong nhiều việc mà nó muốn làm. Như vậy, chỉ trong một năm, đứa trẻ từ vị trí của một đại tướng rớt bịch xuống chỉ còn là binh nhì. Chẳng lạ gì khi đó là một giai đoạn của suy sụp và quạu quọ, những tính chất đặc trưng cho lứa tuổi lên hai.

Tuy nhiên, nếu cha mẹ tỏ ra dịu dàng với đứa trẻ và nâng đỡ nó hết sức có thể để giúp nó vượt qua giai đoạn này, thì vào khoảng thời gian giã từ tuổi lên hai, đứa trẻ đã có thể bước được một bước dài ra khỏi chứng tự yêu (narcissism) nơi mình. Tiếc là trong thực tế thì sự việc không luôn luôn xảy ra như vậy. Đôi khi cha mẹ không dịu dàng cũng chẳng nâng đỡ đứa trẻ trong giai đoạn hụt hẫng này, thay vào đó lại đẩy nó vào chỗ hụt hẫng nhiều hơn.

Người phụ nữ có hoang tưởng trên kia là một người đã lớn lên trong một gia đình rất khắc nghiệt. Chị không thể nhớ cái tuổi lên hai kinh khủng của mình, nhưng chị có thể nhớ giai đoạn mà mình lên ba hay bốn tuổi – với những khuôn thức cụ thể rành rành định sẵn cho mình bất cứ khi nào mình làm điều chi sai trái. Làm quấy ư? A lê, hãy bước lại lấy cây roi đang treo trên tường, đem roi lại và đưa cho bố. Rồi, kéo quần ra, lật váy lên, nằm sấp xuống, nằm yên như thế để bị quất roi cho đến khi đau quá phải thét rống lên và giãy đành đạch – và bố ngừng đánh đòn. Rồi, kéo quần lên, đem cây roi trả về chỗ cũ. Rồi, đi lại chỗ mẹ để được dỗ cho khuây bớt. Mẹ dỗ một chặp, nín khóc. Mẹ sẽ bảo: “Nào, hãy quì xuống và nói lời xin lỗi Chúa.” Thế là răm rắp quì xuống, xin lỗi Chúa. Xong, mẹ sẽ bảo: “Được rồi đó. Nào, bây giờ bước lại xin bố tha lỗi.” Con bé ngoan ngoãn bước lại chỗ bố, hoàn thành thủ tục cuối cùng này. Vậy là xong, chờ đến lần giở chứng sai quấy khác thì mọi sự sẽ lại diễn ra y như thế.

Bằng cách nào những đứa trẻ ‘bị’ đối xử kiểu ấy có thể sống còn được? Chắc chắn không phải bằng cách chúng vứt bỏ cảm thức toàn năng và tự yêu ấu trĩ nơi mình; trái lại, chúng sống còn bằng cách cố bám giữ những cảm thức ấy. Sự cố giữ này được thúc đẩy bởi một động lực chuyên biệt đến nỗi các bác sĩ tâm thần phải đặt một cái tên riêng, đó là “lãng mạn gia đình”. Những đứa trẻ như thế sẽ tự nhủ: “Hai người này tự nhận là cha mẹ mình, nhưng thật sự họ không phải là cha mẹ mình. Mình là con gái của Vua và Hoàng Hậu. Mình là Công Chúa, và một ngày kia mình sẽ được nhìn nhận đúng như vậy. Lúc ấy, mình sẽ cho mọi người biết tay!”

Đây là một hoang tưởng đầy an ủi, giúp đứa trẻ vượt qua sự hụt hẫng của nó. Chỉ có điều là khi đứa trẻ lớn lên, mối hoang tưởng ấy chìm dần vào vô thức, và chẳng có ai dẫn nó tới với Vua hay với Hoàng Hậu cả. Chẳng có ai nhìn nhận nó như nó mường tượng cả. Thế là, nó trở nên suy sụp. Những người suy sụp như vậy là những người gặp trục trặc về nhận thức; và cốt lõi của trục trặc này nằm ở chỗ họ nghĩ rằng những điều tệ hại không nên xảy ra cho họ. Dĩ nhiên, về những gì tiêu cực, họ đón nhận một cách có lựa lọc và miễn cưỡng (vì họ nghĩ rằng đáng ra họ không phải bị những điều đó); đồng thời, họ không cảm nghiệm được những điều tích cực mà họ cho rằng đương nhiên phải thuộc về họ – bởi họ là ‘con Vua’ kia mà!

M. Scott Peck

Lm. Lê Công Đức chuyển ngữ

————————–

(17) Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II trong ngày khai mạc Mùa Chay Thánh, 12-3-2000, đã công khai nhân danh Giáo Hội đã xin lỗi nhân loại về tội bài Sê-mít này, cùng với nhiều tội khác nữa.

(18) trường phái của những người hiểu Thánh Kinh theo sát nghĩa mặt chữ.

(19) từ Anh ngữ “diabolic” (= thuộc ma quỷ) có gốc ở từ Hy lạp “diaballein” (= tách rời ra, phân ngăn ra)

(20) để hiểu thuật ngữ này, xin xem Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi của cùng tác giả

(21) nghĩa là điều mà họ thực sự lo sợ không phải là điều mà họ tưởng rằng họ lo sợ

Read more

Huyện Đắk Tô: Sẽ triệt hạ 22 “công trình sinh hoạt tôn giáo” trong năm 2015

VRNs (25.03.2015) – Kontum – Một bản Kế hoạch được đóng dấu “Mật” của huyện Đăk Tô, tỉnh Kontum do ông Cao Trung Tin, chủ tịch huyện ký ngày 30.01.2015 cho biết trong năm 2015 này, huyện Đăk Tô sẽ phải triệt hạ/xóa sổ 22 “công trình sinh hoạt tôn giáo” của người các sắc tộc thiểu số trong huyện này.

Theo kế hoạch này, những “công trình sinh hoạt tôn giáo” phải triệt hạ thuộc về 7 đơn vị hành chánh xã, thị trấn. Nơi nhiều nhất là 7 trong xã Đăk Trăm. Còn các xã khác ít hơn: Diên Bình (1), Pô Kô (4), Văn Lem (4), Ngọc Tụ (1), Đăk Rơ Nga (2), Tân Cảnh (1), và thị trấn Đăk Tô (2).

Kế hoạch được triển khai làm ba bước. Bước một, trực tiếp vận động yêu cầu các hộ gia đình cam kết không sử dụng nhà vào mục đích sinh hoạt tôn giáo. Bước hai, theo dõi, nếu tiếp tục sử dụng nhà cho sinh hoạt tôn giáo thì sẽ bị lập biên bản, phạt hành chánh và buộc tháo dỡ hoặc đập phần nhà sử dụng cho việc thờ phượng. Bước ba, những hộ chấp nhận triệt hạ nhà nguyện thì phần cơi nới hay nhà mới làm thêm được tiến hành làm giấy tờ hợp thức hóa nhà ở, những hộ không chấp nhận thì dứt khoát không làm thủ tục chuyển đổi mục tiêu sử dụng đất.

Kế hoạch còn chỉ đạo: “Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, không để xảy ra tình trạng các hộ dân xây dựng công trình riêng biệt nằm bên cạnh công trình nhà ở hoặc tự ý cơi nơi nhà ở để sử dụng vào mục đích sinh hoạt tôn giáo”.

Theo luật pháp hiện hành, nhà ở thuộc về sở hữu cá nhân, nên gia chủ có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Cho đến nay chưa có một văn bản có hiệu lực pháp luật nào cấm công dân không được sinh hoạt tôn giáo trong nhà mình cả. Ngược lại Khoản 1 Điều 9 Pháp lệnh Tín ngưỡng – Tôn giáo qui định: “Người có tín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo”.

Hình minh họa

Hình minh họa

Do đó, việc ông Chủ tịch huyện Đăk Tô chỉ đạo các cán bộ của ông phải “trực tiếp vận động yêu cầu các hộ gia đình cam kết không sử dụng nhà vào mục đích sinh hoạt tôn giáo” là chính ông vi phạm Pháp lệnh Tin ngưỡng – tôn giáo. Việc ông Cao Trung Tin ra lệnh cho công an, du kích và các lực lượng khác phải “theo dõi, nếu tiếp tục sử dụng nhà cho sinh hoạt tôn giáo thì sẽ bị lập biên bản, phạt hành chánh và buộc tháo dỡ hoặc đập phần nhà sử dụng cho việc thờ phượng” là việc dùng công quyền khủng bố dân không đúng tư cách công chức và quan chức. Còn việc ông Tin đòi cán bộ phải kiên quyết thực hiện chính sách “những hộ chấp nhận triệt hạ nhà nguyện thì phần cơi nới hay nhà mới làm thêm được tiến hành làm giấy tờ hợp thức hóa nhà ở, những hộ không chấp nhận thì dứt khoát không làm thủ tục chuyển đổi mục tiêu sử dụng đất” là bằng chứng phân biệt đôi xử với các hộ có tôn giáo thuần thành, trung thành với đức tin sẽ bị nhà cầm quyền tước đoạt quyền lợi.

Các “công trình sinh hoạt tôn giáo” này của giáo hội Công giáo thuộc giáo phận Kontum là một giáo phận Công giáo Việt Nam lâu đời nhất ở vùng Tây Nguyên. Địa giới giáo phận rộng 25.728 km², tương ứng chủ yếu với các tỉnh Gia Lai và Kontum. Dân cư cũng như các tín hữu chủ yếu là người dân tộc Xơđăng, Bahnar, Giẻ, Triêng, Jarai… Niềm tin Công giáo đã được người thuộc các sắc tộc thiểu số ở vùng đất này đón nhận từ giữa thế kỷ 19. Hiện nay, giáo phận có hơn 250.000 giáo dân.

Chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ mới có ở VN 40 năm, sự tồn tại chỉ chưa bằng 1/4 chiều dài lịch sử của niềm tin Kitô giáo có trên đất Kontum, nhưng do thâu tóm mọi quyền lực, nên nhà cầm quyền đã bất chấp nhu cầu chính đáng và phong tục làng sắc tộc thiểu số đã tồn tại lâu dài để rắp tâm triệt hạ các nhà nguyện, là những nơi do chính người dân tự nguyện sử dụng nhà mình, đất mình rồi cùng nhau dựng nên cách tạm bợ, sau khi đã xin phép một thời gian rất dài, mà không được phép xây dựng nhà thờ, nhà nguyện tạm.

Việc giáo dân tự nguyện dành một khoảnh của gia đình làm nơi thờ phượng của tôn giáo sẽ trực tiếp góp phần củng cố đạo đức xã hội, nhưng nhà cầm quyền huyện Đăk Tô đã luôn luôn xem hành vi đó là vi phạm pháp luật.

Kế họach này trực tiếp củng cố nhận định của ông Bielefeldt, báo cáo viên đặc biệt về tự do tôn giáo LHQ vừa trình bày ở Geneva, Thụy Sỹ, rằng tại Việt Nam đang diễn ra tình trạng vi phạm tự do tôn giáo nghiêm trọng. Kế hoạch này đóng dấu “Mật” là chuẩn bị cửa hậu cho ông chủ tịch và quan chức huyện Đăk Tô chạy tội khi sự việc bị dư luận lên án. Lúc đó họ sẽ nói rằng đó là việc làm sai trái của thôn của xã chứ không phải của huyện. Bài ca “trên bảo dưới không nghe” sẽ được cất lên lu loa.

PV. VRNs

Read more

Sứ điệp vĩ đại

VRNs (25.03.2015) – Sài Gòn – Sứ điệp đa dạng và nhiều mức độ. Sứ điệp có thể vui hay buồn, bình thường hoặc quan trọng, cũng có thể là sứ mệnh, trọng trách. Lễ Truyền Tin là Sứ Điệp từ Thiên Chúa trao cho Đức Maria, là tin mừng, là hỷ tín, nhưng cũng là trách nhiệm nặng nề.

Dù sợ, nhưng khi hiểu ra vấn đề, Đức Maria đã mau mắn vui vẻ chấp nhận, không so đo, không tính toán. Từ đó, Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa bắt đầu trở nên hiện thực. Và rồi Thánh sử Gioan xác nhận: “Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng ta, và chúng ta đã nhìn thấy vinh quang của Người” (Ga 1:14ab).

150321010

Trình thuật Is 7:10-14 ngắn gọn nhưng chứa một sứ điệp tuyệt vời. Ngày xưa, vua A-khát được Thiên Chúa cho phép: “Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh”. Nhưng ông e ngại với lòng khiêm nhường, và ông trả lời: “Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa”. Sứ điệp này cảnh báo chúng ta “đừng đùa với lửa”, vì có những lần chúng ta đã từng thử thách Thiên Chúa mà chúng ta không biết hoặc tìm cách biện hộ cho mình.

Ông I-sai-a đưa ra một sứ điệp cho dân chúng với lối “hỏi–đáp” đơn giản: “Nghe đây, hỡi nhà Đa-vít! Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao, mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa? Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en”. Đó là lời tiên báo về Đức Maria, một thôn nữ miền Na-da-rét, được Thiên Chúa tuyển chọn làm Mẹ Thiên Chúa.

Là thục nữ và được giáo dục đạo đức của Cha Mẹ – ông Gioakim và bà Anna, nên Cô Gái Trẻ Maria không chỉ thánh thiện mà còn khiêm nhường – nhân đức nền tảng của mọi nhân đức. Thiên Chúa ưa thích tính khiêm nhường chứ không cần thứ gì khác, như Thánh Vịnh xác nhận: “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con; lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi” (Tv 40:7). Cô Gái Trẻ Maria cũng luôn “xin vâng” trong mọi sự, theo cách mà Kinh Thánh đã đề cập: “Này con xin đến! Con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con!” (Tv 40:8-9). Cả cuộc đời Đức Maria đã sống vuông tròn theo Thánh Ý Chúa, và cuộc đời Mẹ là “lời nói” vang ngân mãi mọi thời đại: “Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa lòng đại hội; lạy Chúa, Ngài từng biết: con đâu có ngậm miệng làm thinh” (Tv 40:10).

Vì khiêm nhường mà người ta mới có thể vâng lời. Hai nhân đức này là nhân đức đối nhân, không là nhân đức đối thần, nhưng vẫn có tầm quan trọng lắm, và luôn có hệ lụy với nhau theo tính liên đới. Thánh Phaolô chứng minh và đề cập đức vâng lời: “Máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi. Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con” (Dt 10:4-7).

Thánh Phaolô tiếp tục dẫn chứng về ý muốn của Thiên Chúa Cha và đức tuân phục của Thiên Chúa Con: “Trước hết, Đức Kitô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. Theo ý đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (Dt 10:8-10). Tương tự, phàm nhân cũng luôn yêu quý những người biết tự nguyện, chứ không miễn cưỡng.

Chúa Giêsu là Chiên Hiến Tế Thánh, vô giá, dâng một lần nhưng có hiệu lực từ hồng hoang tới tận thế. Chúng ta chỉ là phàm nhân tội lỗi, bất xứng, nhưng nếu biết khiêm nhường thì vẫn có giá trị đối với Thiên Chúa, nhưng chúng ta phải dâng lễ tế nhiều lần, dâng lễ đền tội cho chính mình và cho người khác.

Thánh sử Luca cho biết về việc Sứ thần truyền tin cho Đức Maria. Sự kiện này chỉ được ghi lại trong Tin Mừng theo Thánh Luca (Lc 1:26-38), ba Tin Mừng kia không có. Thánh Luca cho biết: “Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Maria”. Rất rõ ràng các chi tiết!

Cuộc đối thoại siêu nhiên nhưng có vẻ rất tự nhiên, như một đoạn video clip, rất sống động, rất đời thường.

Sứ thần vào nhà và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Chị”. Nghe lời ấy, Đức Maria rất bối rối vì “kỳ thí mồ” đi, chả hiểu ất giáp chi ráo trọi. Lạ thế nhỉ! Nhưng Sứ thần liền nói một hơi dài: “Này Chị Maria, xin đừng sợ, vì Chị đẹp lòng Thiên Chúa. Chị sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận”. Đức Maria vẫn thấy chưa ổn, vẫn ngại lắm, nên thưa với Sứ thần: “Mèn ơi, việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”.

Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa”. Và để chắc cú, Sứ thần dẫn chứng cụ thể: “Này nhé, Cô Êlisabét, người họ hàng với Chị đấy, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: Cô ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”. Lạy Chúa tôi, nhẹ cả mình! Hai năm rõ mười, thế là an tâm, chả lo sợ chi nữa. Bấy giờ Đức Maria liền nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Lời “xin vâng” này là điều quyết định rất quan trọng để rồi “chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người, và ở cùng chúng ta”.

Xin vâng là tuân phục Thánh Ý Chúa, dù biết rằng “vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9), nhưng chắc chắn không là điều dễ thực hiện, mà phải nỗ lực rất nhiều và phải cậy nhờ ơn Chúa.

Xin tạ ơn Thiên Chúa, vì thương xót nhân loại mà Ngài lập Kế Hoạch Cứu Độ rất kỳ diệu. Xin cảm ơn Đức Maria, nhờ lời xin vâng của Mẹ mà chúng con diễm phúc được Chúa Giêsu đến ở cùng và chia sẻ vui buồn với chúng con, đồng thời chúng con cũng được làm con cái Mẹ.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin Ngài hành động nơi chúng con theo Thánh Ý Ngài, xin giúp chúng con luôn can đảm “xin vâng” trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong lúc gian nan khốn khó. Xin Đức Mẹ nguyện giúp cầu thay và đồng hành với chúng con, giúp chúng con kiên cường sống trọn ba đức đối thần suốt cuộc đời này. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Read more

Bước tiếp (8): Nghiện – một bệnh thánh thiêng!

VRNs (25.03.2015) – Sài Gòn – Tôi phải thú nhận rằng tôi là một con nghiện. Nói rõ ra, tôi dường như nghiện ni-cô-tin đến mức không hy vọng cưú vãn. Tôi viết và thuyết trình rất nhiều về ý thức kỷ luật bản thân; tuy nhiên chính tôi không có đủ ý thức ấy để từ bỏ thuốc lá.

Tôi nhìn nhận như thế. Bây giờ tôi xin chỉ ra rằng việc lạm dụng ma túy và rượu là những vấn đề đa diện, đa chiều kích. Ở đây tôi chỉ xem xét những phương diện tâm lý và tâm linh của tình trạng nghiện, nhưng tôi cũng ý thức rằng nó còn có những gốc rễ thâm sâu về sinh học và xã hội học nữa. Nghiện rượu là một tình trạng rối loạn có tính di truyền. Hiện nay chúng ta đã biết điều đó. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng vì bạn có một gien nghiện rượu nên bạn tất nhiên sẽ trở thành một con sâu nghiện, hay là rằng một khi bạn đã trở thành một con sâu nghiện thì bạn phải tiếp tục nốc rượu li bì. Điều nói trên chỉ có nghĩa rằng có những gốc rễ sinh học liên can đến sự rối loạn này.

150314009

Cũng vậy, dù chưa được nghiên cứu tường tận, tôi vẫn cho rằng có những dấu hiệu sinh học rõ ràng liên can đến loại ma túy mà người ta ưa chuộng, và trở thành nghiện. Chẳng hạn, dù không hẳn là nghiện, tôi đôi khi dính bén đến rượu và những loại ma túy có tính an thần khác, tất cả chúng đều được gọi là các tác nhân xoa dịu hệ thần kinh trung ương. Nói cách khác, tôi thích những chất có tác dụng xoa dịu, giảm đau; tôi không chuộng những loại thuốc gây hưng phấn. Nhưng tôi biết có những người có thể giết người để có thuốc hưng phấn, và không quan tâm chút nào đến những loại thuốc xoa dịu. Cũng có những dấu chỉ xã hội học liên can đến tình trạng nghiện. Việc lạm dụng ma túy sẽ nghiêm trọng nhất ở những nơi mà không có gì để hy vọng về xã hội, những nơi mà người ta không còn cách nào tốt hơn để cảm thấy thoải mái ngoại trừ ‘phi’ một điếu và ‘lên mây’!

Một cách để khảo sát tình trạng nghiện là nhìn nó như những dạng sùng bái ngẫu tượng. Đối với người nghiện rượu, chai rượu trở thành một ngẫu tượng. Sự sùng bái ngẫu tượng xảy ra trong nhiều hình thức, một số hình thức này rất quen thuộc đối với chúng ta. Nghĩa là, có những chứng nghiện không liên quan gì đến ma túy, chẳng hạn nghiện cờ bạc hay nghiện khoái cảm tình dục. Tiền bạc cũng là một ngẫu tượng. Và ngẫu tượng cũng có thể xảy ra trong nhiều hình thức khác nữa mà chúng ta ít nhận ra. Chẳng hạn, gia đình cũng có thể là ngẫu tượng. Bất cứ khi nào việc nói hay làm điều chi đó để giữ cho gia đình (phụ hệ hay mẫu hệ) được hạnh phúc lại quan trọng hơn việc nói hay làm điều Thiên Chúa muốn chúng ta nói hay làm, thì bấy giờ chúng ta đã làm mồi cho ngẫu tượng gia đình! Sự đoàn tụ gia đình đã trở thành một ngẫu tượng, và thường là một ngẫu tượng có sức gây áp lực nhất.

Vì thế, để nhìn mọi sự đúng trong viễn tượng của nó, cần phải nhớ rằng có vô số loại ngẫu tượng hay chứng nghiện – nhiều loại trong đó có thể nguy hiểm hơn tình trạng nghiện ma túy rất nhiều. Nghiện quyền lực, nghiện sự yên ổn, … chẳng hạn. Xét một số phương diện, tình trạng nghiện ma túy hay nghiện rượu có thể thuộc vào số những chứng nghiện ít tai hại nhất – trong tham chiếu đến cái giá toàn diện của chúng đặt ra cho xã hội.

Từ cái nhìn khái lược như vậy, bây giờ chúng ta hãy giới hạn sự khảo sát của mình trong lãnh vực nghiện ma túy mà thôi. Tôi nghĩ rằng những người trở thành nô lệ cho rượu và các thứ ma túy khác là những người muốn, tha thiết muốn, trở về Vườn Ê-đen. Họ muốn đạt tới thiên đàng, đạt tới trời, về đến nhà … hơn so với đa số người khác. Họ cố lấy lại cảm giác nên một với phần còn lại của thiên nhiên, một cảm giác chất ngất sung sướng mà chúng ta vẫn có hồi còn ở trong Vườn Ê-đen (cf. chương 1 Sáng Thế). Chẳng thế mà Mark, con trai của Kurt Vonnegut, khi viết về sự suy nhược tâm thần và sự lạm dụng ma túy của chính mình, đã đặt tựa đề cho quyển sách là Chuyến Tàu Tốc Hành Về Ê-đen(The Eden Express). Nhưng dĩ nhiên, người ta không thể quay trở lại Ê-đen. Người ta chỉ có thể đi tới, tiến về phía trước xuyên qua sa mạc đầy gian truân. Con đường duy nhất để về nhà là con đường đau khổ. Nhưng những người nghiện, những người có lòng khao khát mãnh liệt muốn về nhà, đang đi con đường sai lạc – họ đang quay lui thay vì tiến tới.

Có hai cách để nhìn nỗi khao khát cháy bỏng muốn về nhà này. Một là nhìn nó như một loại hiện tượng thoái hóa, một lòng khao khát không chỉ trở về nhà mà còn muốn bò trở lui vào bụng mẹ. Cách thứ hai là nhìn nó như một loại hiện tượng có tiềm năng tiến bộ: trong nỗi khao khát về nhà này, những người nghiện là những người có tiếng gọi mãnh liệt hơn phần đông chúng ta để hướng về tinh thần, về Thiên Chúa – chỉ có điều là họ làm lộn xộn các phương hướng của cuộc hành trình.

JUNG VÀ HIỆP HỘI AA (16)

Ít người biết rằng Carl Jung – người góp phần lớn hơn bất cứ ai khác trong cố gắng kết duyên giữa tâm lý và tâm linh – quả thực đã đóng một vai trò gián tiếp trong việc sáng lập ra Hiệp Hội AA. Jung có một bệnh nhân vào thập niên 1920, một người đàn ông nghiện rượu, sau một năm theo đuổi sự trị liệu tâm lý, vẫn không thấy có dấu hiệu tiến bộ nào. Cuối cùng, Jung xoa tay và nói: “Này, anh đang phung phí tiền để chi trả cho tôi. Tôi không biết cách nào để giúp anh. Tôi không thể giúp anh được.” Và người đàn ông nói: “Nghĩa là không còn có hy vọng gì cho tôi à? Bác sĩ không còn một đề nghị nào sao?” Jung đáp: “Điều duy nhất tôi có thể đề nghị là bạn nên có một cuộc hoán cải về tôn giáo. Tôi đã nghe nói về một vài người trải qua sự hoán cải ấy và đã ngừng việc uống rượu. Và tôi rất chú ý đến sự kiện đó.”

Người đàn ông ấy ghi nhận những lời nói của Jung, và bắt đầu tìm kiếm một cuộc hoán cải về tôn giáo. Hãy tìm thì sẽ gặp? Vâng, anh ta đã gặp. Sau đó khoảng sáu năm, anh ta trải qua một cuộc hoán cải và ngừng luôn việc uống rượu.

Ít lâu sau khi sự việc ấy xảy ra, anh ta tình cờ gặp lại một tay bạn nhậu cũ, tên là Ebby. Và Ebby nói: “Chà, làm một ly đi chứ!” Nhưng anh đáp: “Không, mình không còn uống rượu nữa.” Ebby ngạc nhiên: “Cậu muốn nói gì vậy? Cậu bỏ rượu rồi à? Cậu là một con sâu rượu, y như mình vậy mà?” Thế là anh chàng thân chủ của Jung kể cho bạn mình nghe về lời khuyên của vị bác sĩ ấy, và rằng nhờ đó anh ta đã chừa được tật nghiện rượu.

Ebby nghĩ đó là một ý kiến hay. Thế là đến lượt anh ta đi tìm một sự hoán cải về tôn giáo. Anh ta đã mất hai năm. Và cuối cùng thì Ebby bỏ được rượu.

Sau đó, một tối nọ, Ebby ghé thăm một người bạn cũ khác tên là Bill W. Anh chàng Bill W. này cũng rủ Ebby làm một ‘chầu’, và cũng bị Ebby từ chối. Đến lượt Bill W. sửng sốt, vì anh ta biết rằng Ebby vốn là một tay nghiện rượu không kém anh ta. Thế là Ebby thuật lại sự việc mình gặp thân chủ của Jung như thế nào, mình bắt chước tìm kiếm một cuộc hoán cải tôn giáo ra sao và kết quả gì đã xảy ra liên quan đến chứng nghiện rượu của mình.

Bill W. nghĩ đó là một ý kiến hay. Vì thế cả anh ta nữa, cũng khởi sự tìm kiếm một cuộc hoán cải tôn giáo. Anh mất có vài tuần, và không lâu sau đó anh đã bắt đầu buổi họp mặt AA đầu tiên tại Akron, Ohio.

Khoảng hai mươi năm sau, khi AA đã thật sự thành hình là một tổ chức được mọi người biết đến, Bill W. đã viết cho Jung và kể cho vị bác sĩ này về vai trò mà vị bác sĩ ấy đã đóng một cách vô tình trong việc thành lập AA. Jung hồi âm cho Bill W. bằng một lá thư hết sức ấn tượng. Ông nói rằng ông vô cùng sung sướng vì Bill W. đã viết cho ông, ông vui mừng biết rằng thân chủ của mình trước kia đã thành công, ông mừng nhận ra vai trò mà ông đã đóng một cách tình cờ kia. Nhưng ông nói ông đặc biệt mừng vì – trong khi không có nhiều người sẵn sàng nghe ông trao đổi về những chuyện như thế – thì điều đã xảy ra cho ông là té ra không phải tình cờ việc xưa nay chúng ta vẫn gọi các thứ rượu là ‘tinh thần’* (Anh ngữ: spirits) – và hầu như những người nghiện rượu là những người khao khát cháy bỏng về tinh thần hơn những người khác, và rằng có lẽ chứng nghiện rượu là một rối loạn tâm linh, hay có thể nói, một tình trạng tâm linh!

Như vậy, có hai cách để nhìn nỗi ‘khao khát về nhà’ nơi những người nghiện, và cả hai cách đều đúng. Sẽ sai lầm nếu hoàn toàn gạt bỏ khía cạnh thoái hóa của chứng nghiện; tuy nhiên, khi làm việc với người ta, tôi đã nhận ra rằng kết quả ngoạn mục nhất thường xảy đến khi nhấn mạnh đến các phương diện tích cực. Vì thế, đối với những người nghiện, kết quả ngoạn mục nhất đến từ việc nhấn mạnh không phải những khía cạnh thoái hóa của chứng rối loạn đó mà đúng hơn là từ việc nhấn mạnh đến khía cạnh tích cực – tức nỗi khát khao tinh thần, nỗi khát khao Thiên Chúa.

MỘT CHƯƠNG TRÌNH HOÁN CẢI

Cách đây khoảng ba chục năm, khi tôi đang theo học ngành tâm thần, các bác sĩ tâm thần đã biết rằng khi làm việc với các con nghiện, Hiệp Hội AA có một thành tích tốt hơn nhiều so với giới bác sĩ tâm thần chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã xem thường AA, coi nó như không phải gì hơn là một dạng bù trừ cho những quán rượu mà các ‘con sâu’ hay lui tới. Chúng tôi tin rằng những người nghiện rượu có cái mà chúng tôi gọi là “những rối loạn nhân cách về miệng”, và rằng thay vì mở miệng để nốc rượu, họ tụ tập lại tại cuộc gặp gỡ AA và khua miệng tán phét, uống nhiều cà phê và hút nhiều thuốc lá – và bằng cách đó, họ thỏa mãn những “nhu cầu về miệng” của họ. Giới bác sĩ tâm thần chúng tôi cao ngạo cho rằng đó là lý do mà AA có tác dụng.

Tôi rất xấu hổ để cho bạn biết rằng đa số các bác sĩ tâm thần – gồm cả những người hiện nay đang được đào tạo – vẫn tiếp tục tin rằng lý do AA tỏ ra hiệu quả là ở chỗ vì nó là một ‘dạng nghiện bù trừ ‘. Tôi không có ý khẳng quyết rằng không hề có yếu tố nào về chuyện bù trừ. Nhưng ‘dạng nghiện bù trừ’ có lẽ chỉ là một yếu tố vô cùng nhỏ trong toàn bộ lý do. AA có hiệu quả rất tốt. Và lý do thực giải thích tính hiệu quả đó là ở chỗ nó có ‘một chương trình’. Và có ít nhất ba lý do giải thích vì sao chương trình ấy có tác dụng.

Lý do thứ nhất: Chương trình 12 bước của AA là chương trình duy nhất đang tồn tại để hướng đến sự hoán cải về tôn giáo, mặc dù các hội viên AA gọi đó là sự hoán cải ‘tâm linh’, bởi vì họ không muốn hàm ý một cách nào đó rằng AA là một tôn giáo có cơ cấu. Vì sự thật AA không hề là một tôn giáo. Tuy nhiên, cốt lõi của chương trình 12 bước ấy là ý niệm về quyền lực cao hơn, và chương trình này thực tế dạy cho người ta biết tại sao họ phải tiến về phía trước xuyên qua sa mạc – nghĩa là, tiến về với Thiên Chúa, “như chúng ta hiểu về Ngài”.

Vì đó là chương trình duy nhất cho việc hoán cải, nên AA có thể được xem như ‘giáo hội’ thành công nhất tại đất nước này hiện nay. Bất cứ giáo phái nào khác cũng sẽ ghen tị với sự phát triển có tính hiện tượng phi thường của nó. Các thành viên AA khôn ngoan một cách không ngờ. Họ khôn đến nỗi họ thậm chí không bận tâm đến tiền bạc, nhà cửa. Thật vậy, họ dùng chính những ngôi nhà thờ có sẵn cho các cuộc gặp gỡ của họ. Đây là một trong những vai trò tích cực mà Giáo Hội cơ chế đảm nhận ngày nay: làm nơi tổ chức các cuộc họp của AA!

Cách đây khoảng một năm, tôi có dịp nói chuyện trong một nhà thờ nho nhỏ tại một thị trấn của Connecticut. Trong những phút giải lao, tôi nhìn vào bảng thông báo và nhận ra rằng nhà thờ đó tổ chức khoảng 14 buổi gặp AA mỗi tuần, ngoài ra còn có 4 cuộc gặp gỡ của nhóm Những Người Nghiện Rượu Vô Danh và 2 buổi gặp của nhóm Những Người Ăn Thái Quá nữa.

Như vậy, trong khi những người AA sử dụng các nhà thờ cho các cuộc gặp gỡ của họ, thì đồng thời họ vẫn không tháp nhập vào tôn giáo cơ cấu. Họ cũng sẽ giảm nhẹ ngay cả khía cạnh ‘tâm linh’ của chương trình để thu hút những thành viên mới vốn dị ứng với khía cạnh ấy. Người ta không muốn được cải hóa nhiều lắm. Người ta đề kháng sự cải hóa. Vì thế, AA là chương trình rất dai dẳng.

Câu chuyện sau đây sẽ cho bạn một ý niệm về mức độ dai dẳng của AA. Một tay nghiện rượu đến gặp tôi cách đây quãng hơn 10 năm, vì “AA không có tác dụng”. Anh ta có ý nói rằng trong sáu tháng qua anh đã tham dự những buổi gặp gỡ do AA tổ chức cách đêm một lần, và vào những đêm còn lại, anh vẫn … tiếp tục uống rượu li bì. Anh nói anh không biết tại sao AA không có tác dụng, bởi vì anh đã nắm hiểu rất rõ 12 bước của chương trình này.

Khi anh kể với tôi điều đó, tôi nói với sự ngạc nhiên: “Này bạn, trong mức độ mà tôi hiểu về 12 bước đó, thì đó là một sự khôn ngoan tâm linh rất thâm sâu, thường người ta phải mất ba năm để thậm chí chỉ bắt đầu hiểu các bước ấy.”

Lúc ấy anh ta nhận ra rằng có lẽ tôi đang muốn anh hiểu ra điều gì đó – vì rõ ràng anh chưa hiểu gì về cái gọi là sức mạnh cao hơn. Nhưng anh ta vẫn khẳng quyết rằng anh hiểu ít nhất là bước đầu tiên của 12 bước ấy.

“Anh hiểu thế nào về bước đầu tiên?” – Tôi hỏi.

“Bước đầu tiên là nhìn nhận rằng tôi bất lực đối với rượu.” Anh trả lời.

“Anh nói vậy nghĩa là gì?” – Tôi ‘kích’ cho anh nói tiếp.

“Nghĩa là tôi bị một khiếm khuyết sinh hóa trong não, bất cứ khi nào tôi uống một ly, rượu sẽ ngấm vào và tôi mất hết sức mạnh ý chí. Vì thế tôi không được phép uống ly đầu tiên.”

“Vậy sao anh vẫn cứ uống?”

Anh ta im lặng, có vẻ rất lúng túng. Tôi nói: “Anh biết đó, có lẽ bước đầu tiên không chỉ có nghĩa rằng anh bất lực đối với rượu sau khi đã uống ly đầu tiên, nhưng còn có nghĩa rằng anh bất lực đối với rượu ngay cả trước khi uống ly đầu tiên nữa kia!”

Anh lắc đầu, giãy nảy: “Không. Không phải vậy. Chính tôi quyết định có nên uống ly đầu tiên hay không.”

“Đó là anh nói thế. Còn thực tế thì không đơn giản, phải không?”

Anh ta vẫn quyết liệt: “Không, chính tôi quyết định tất cả.”

Bấy giờ, tôi vỗ vai anh: “Tốt, anh hãy cứ vậy mà thực hiện.”

Thì ra, anh chàng nói trên đã chưa trải qua sự đầu hàng cần thiết của bước đầu tiên trong 12 bước. Anh ta càng chưa đầu hàng đối với 11 bước còn lại!

MỘT CHƯƠNG TRÌNH CHO LÃNH VỰC TÂM LÝ

Lý do thứ hai giải thích hiệu quả ngoạn mục của AA là rằng đó là một chương trình thuộc lãnh vực tâm lý. Nó không chỉ dạy cho người ta biết vì sao phải tiến lên phía trước xuyên qua sa mạc để đến với Thiên Chúa, mà nó còn dạy nhiều cách thế để làm công việc tiến về phía trước ấy. Nó dạy bằng hai cách chủ yếu.

Một là qua việc sử dụng các câu châm ngôn và ngạn ngữ. Tôi đã từng nhắc đến một số câu như thế: “Hãy làm như thật!”, và “Tôi không ổn, anh không ổn, nhưng như thế là ổn!” Còn có rất nhiều câu khác nữa – tất cả đều là những ‘viên ngọc quí’: “Người duy nhất bạn có thể thay đổi là chính bạn”, hoặc “Đắc nhất nhật, quá nhất nhật”.

Tôi sẽ kể cho bạn một câu chuyện riêng về lý do tại sao tôi rất xác tín tầm quan trọng của những câu ngạn ngữ ấy. Tôi có một ông nội rất tuyệt vời. Ông cụ không phải là một người đàn ông giỏi giang đặc biệt. Và lời nói của ông cụ thường chỉ kết dệt bằng những câu nói rập khuôn sẵn. Ông nói với tôi: “Đừng qua cầu khi cháu chưa đi tới cầu!”, hoặc “Đừng đặt tất cả số trứng của cháu vào chỉ một chiếc giỏ!” Không phải tất cả đều là những câu răn bảo. Một số câu nói của ông rất có tính an ủi, chẳng hạn: “Làm một con cá lớn trong ao nhỏ hơn là làm một con cá nhỏ trong ao lớn”, hay “Cố xác làm việc và không chơi đùa, Jack hóa thành thằng ngố”.

Tuy nhiên, ông nội tôi có ‘tật’ lặp đi lặp lại nhiều lần điều ông đã nói. Nếu tôi nghe ông nói “Không phải cái gì óng ánh cũng là vàng”, thì hầu chắc câu đó ông đã nói với tôi cả ngàn lần rồi! Ông nội rất yêu tôi, và kể từ khi tôi lên tám hay chín tuổi cho đến năm tôi mười ba tuổi, tháng nào tôi cũng đi ngang qua Manhattan Island để trải qua một kỳ nghỉ cuối tuần với ông bà nội. Mọi sự diễn ra trong dịp cuối tuần ấy trước sau vẫn vậy: Tôi đến đó vào sáng thứ bảy, kịp giờ ăn trưa với ông bà nội. Rồi, sau cơm trưa, (hồi ấy chưa có TV), ông nội tôi đưa tôi tới một rạp chiếu bóng và cùng xem chiếu bóng với tôi. Rồi ông đưa tôi về nhà ăn tối. Sau cơm tối, ông lại đưa tôi tới một rạp chiếu bóng thứ hai. Vào các sáng Chúa Nhật, các rạp chiếu bóng đóng cửa. Nhưng chiều Chúa Nhật, ông lại đưa tôi đến rạp chiếu bóng thứ ba, trước khi gửi tôi về lại nhà. Và đó là tình yêu!

Chính trong những khi sóng bước bên ông nội, từ nhà đến rạp hát và từ rạp hát về nhà, mà tôi đã có thể không chỉ nghe nhưng còn tiêu hóa và thấm nhuần các câu ngạn ngữ của ông. Những lẽ khôn ngoan hàm súc trong các câu ngạn ngữ ấy đã hữu ích cho cả đời tôi. Như chính ông nội tôi đã nói: “Một muỗng đường giúp uống trôi chén thuốc đắng!”

Nhiều năm sau, khi tôi đang hành nghề bác sĩ tâm thần, một cậu bé 15 tuổi đến gặp tôi, nhà trường của cậu yêu cầu tôi giúp đỡ về chuyện thành tích học tập của cậu bé quá tệ. Khi tôi nói chuyện với cậu, tôi cũng có ấn tượng ngay rằng đây là một cậu bé hơi đần độn. Có lẽ đó là lý do chính khiến cậu bé bị điểm kém ở trường. Các bác sĩ tâm thần có một cách trắc nghiệm trí thông minh – như là một phần của cái gọi là ‘khảo sát tình trạng tâm thần’ (mental status exam). Phương pháp trắc nghiệm đó là yêu cầu người ta diễn dịch các câu ngạn ngữ. Vì thế, tôi hỏi cậu bé: “Tại sao người ta nói ‘Ở trong nhà bằng kính thì đừng ném đá’?”

Cậu bé lập tức trả lời: “Dạ, ở trong nhà bằng kính mà ném đá thì nhà sẽ bị vỡ”.

“Nhưng phần đông người ta không thực sự sống trong những nhà bằng kính. Vậy cháu áp dụng lời nói ấy như thế nào vào mối tương quan giữa con người với nhau?”

“Dạ, cháu không biết ạ!”

Tôi thử lần nữa: “Tại sao người ta nói ‘Đừng tiếc xót chỗ sữa tràn’?”

Cậu bé đáp: “Nếu cháu làm vung đổ vài giọt sữa, cháu sẽ gọi con mèo đến liếm đi.”

Câu trả lời ấy cho thấy phần nào khả năng tưởng tượng, nhưng đã không giải thích gì về nội dung mà người ta gửi gắm trong câu nói kia. Cuối cùng, vì trí thông minh là một vấn đề quan trọng, tôi đã giới thiệu cậu bé đến một nhà tâm lý để được kiểm tra chính xác hơn. Nhà tâm lý ấy là một phụ nữ đứng tuổi, rất nổi tiếng trong lãnh vực trắc nghiệm. Tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nhận bản kết quả trắc nghiệm của cậu bé. Chỉ số IQ của cậu bé là 105! Đó là một chỉ số không lớn lắm, và thấp đối với nhà trường mà cậu bé đang theo học – có lẽ giải thích được tại sao cậu bị điểm kém. Nhưng đây cũng là một chỉ số trên trung bình. Tôi vẫn đoán chừng chỉ số IQ của cậu ở mức khoảng 85 thôi. Và vì có sự khác biệt như vậy, tôi đã gọi cho nữ chuyên gia kia và nói rằng tôi không thể tin chỉ số IQ của cậu bé là 105; tôi nói chắc chắn chỉ số thực phải thấp hơn nhiều – vì cậu bé quá kém trong việc hiểu các câu ngạn ngữ. Nữ chuyên gia ấy trả lời: “Ồ, điều đó chẳng có gì lạ đối với chúng tôi. Ngày nay chẵng còn cô cậu nào ở lứa tuổi ấy hiểu biết ất giáp gì về các câu ngạn ngữ truyền thống nữa.”

Tôi thường nghĩ rằng sẽ rất ích lợi nếu chúng ta có thể triển khai một chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần nào đó trong các trường học của chúng ta. Nhưng tôi biết nhiều người sẽ phản đối một chương trình như thế. Có một phong trào chống lại việc săn sóc sức khỏe tâm thần tại đất nước này, phong trào ấy được tham gia bởi những người sợ hãi những ảnh hưởng của tinh thần nhân bản thế tục và của các phong trào tâm lý trong cuộc sống chúng ta. Họ sợ rằng có người sẽ nghĩ là tốt việc trẻ em chất vấn lại cha mẹ chúng; họ cho rằng cách nghĩ như vậy là do quỉ xúi quẩy! Nhưng chắc hẳn họ không thể phản đối một chương trình dạy các câu ngạn ngữ trong các trường học chúng ta, phải không? Tôi hy vọng một ai đó sẽ bắt đầu một chương trình như thế. Và tôi hy vọng điều đó sẽ sớm được thực hiện. Vì, như ông nội tôi nói: “Khâu kịp thời một mũi, tránh khỏi phải khâu chín mũi”.

TÂM LÝ TRỊ LIỆU PHỔ THÔNG

AA sử dụng các câu ngạn ngữ một cách rất công hiệu. Song hiệp hội này cũng có một cơ chế khác nữa, đó là một hệ thống bảo trợ. Khi bạn tham gia AA hay chương trình 12 bước nào khác, sau một thời gian bạn sẽ có thể chọn một người bảo trợ; người ấy sẽ thực sự là một nhà trị liệu tâm lý phổ thông của bạn.

Nếu bạn cảm thấy cần sự trị liệu tâm lý, nhưng bạn không đủ khả năng tài chánh, thì bạn có một cách để làm, đó là giả vờ đóng vai một tay nghiện rượu, đến với AA, và nhận một nhà bảo trợ. Thực tế có một số người đã làm như vậy. Tôi không ủng hộ chuyện mánh lới, vì vậy đó không phải là điều mà tôi thực sự muốn đề xuất với bạn. Thay vào đó, tôi đề nghị rằng bạn giả vờ mình có một người thân nghiện rượu, và bạn tới với AA để nhận một người bảo trợ. Kỳ thực, chuyện này thì bạn không phải giả vờ. Vì hầu chắc trong gia đình bạn, có một người thân nào đó đang mắc chứng nghiện.

Dĩ nhiên, không phải mọi người bảo trợ trong các chương trình 12 bước đều có khả năng chuyên môn như những nhà tâm lý trị liệu chuyên nghiệp. Về nhiều phương diện, họ không giỏi bằng. Đã từng có nhiều thân chủ đến gặp tôi sau nhiều năm tham gia chương trình AA; các thân chủ này cảm thấy rằng có lẽ tôi – trong tư cách là một bác sĩ tâm thần – có một cái gì đó có thể bổ sung vào cho họ, và cái đó họ không thể nhận được từ những người bảo trợ của họ. Trong tiến trình cố gắng trao cho họ yếu tố bổ sung kia, tôi học hỏi được rất nhiều từ họ.

Trong các chương trình 12 bước, việc ‘vượt qua’ người bảo trợ của bạn là chuyện hết sức bình thường. Và, trong phương diện này, hệ thống bảo trợ tiến bộ hơn lề lối trị liệu tâm lý theo truyền thống. Sẽ là chuyện bình thường nếu bạn đi tới gặp người bảo trợ của bạn và nói: “Này, tôi hết sức biết ơn về những gì ông đã làm để giúp tôi trong ba năm qua, nhưng tôi nghĩ đã đến lúc tôi nên tìm một vị bảo trợ khác sâu sắc và phóng khoáng hơn.” Và bạn sẽ nghe vị bảo trợ của mình đáp: “Tôi hoàn toàn đồng ý với anh. Tôi vui mừng vì tôi đã giúp được anh cho đến nay, và anh đã tiến đến mức như hiện nay.” Không có nhiều bác sĩ tâm thần có thái độ phóng khoáng và thoải mái đến như vậy khi có một thân chủ ‘vượt qua’ mình.

MỘT CHƯƠNG TRÌNH CỘNG ĐỒNG

Như vậy, AA có tác dụng bởi vì nó là một chương trình cải hóa tâm linh, dạy cho người ta biết tại sao họ phải tiến lên trong sa mạc – nghĩa là, tiến về phía Thiên Chúa. Nó cũng có tác dụng bởi vì nó là một chương trình tâm lý, dạy cho người ta rất nhiều về cách thế để tiến về phía trước qua sa mạc. Nó làm công việc đó qua các câu châm ngôn, ngạn ngữ và qua các người bảo trợ. Còn một lý do thứ ba nữa: AA có tác dụng bởi vì nó dạy người ta rằng họ không phải một mình tiến lên phía trước qua sa mạc. AA là một chương trình hành động có tính cộng đồng!

Trong vài năm nay, từ khi tôi không còn hành nghề bác sĩ tâm thần, tôi làm việc với những người khác trong công cuộc triển khai tổ chứcFoundation for Community Encouragement (Tổ Chức Vận Động Cộng Đồng). Quyển sách The Different Drum của tôi là nằm trong nỗ lực đó. Trong quyển sách, tôi vạch ra rằng tính cộng đồng chỉ phát triển một cách tự nhiên trong các tình huống đối mặt với các cơn khủng hoảng. Những người xa lạ cùng ngồi trong phòng đợi của một Phòng Cấp Cứu Đặc Biệt sẽ nhanh chóng chia sẻ với nhau những nỗi lo sợ của mình, bởi vì những người thân của họ đang nằm trong phòng săn sóc đặc biệt kia, đang trải qua những phút giây hệ trọng nhất. Hay chỉ vài giờ sau khi xảy ra một trận động đất, như hồi 1985 ở Mexico City, hơn 4000 người bị chết … thì những thanh niên quí tộc giàu có vốn thường nặng tinh thần cá nhân, ích kỷ cũng làm việc sát cánh suốt ngày suốt đêm với những người lao động nghèo trong nỗ lực cứu trợ khẩn cấp.

Vấn đề duy nhất là vừa khi cơn khủng hoảng qua đi thì tinh thần cộng đồng cũng … chẳng còn. Kết quả là: có hàng triệu người than khóc vì những cơn khủng hoảng của họ không còn nữa. Tôi có thể đảm bảo rằng tối thứ bảy này, nếu không phải tối thứ năm này, hàng chục ngàn ông già ở VFW và các câu lạc bộ cựu quân nhân Mỹ sẽ uống say túy lúy với nhau, tiếc nuối những ngày Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ II. Họ nhớ những ngày ấy với tình cảm dạt dào, bởi vì dù thuở ấy họ lạnh giá, ướt đẫm và thường xuyên bị cái chết rình rập nhưng đó là thời gian mà họ đã kinh nghiệm được một tính tập thể rất sâu sắc trong cuộc đời họ – kinh nghiệm mà kể từ đó họ chưa bao giờ gặp lại được trong cuộc đời mình.

NGHIỆN RƯỢU, MỘT ÂN PHÚC !

Những người nghiện rượu trong Hiệp Hội AA có một ân phúc lớn và một khả năng ‘trời cho’.

Aân phúc là ân phúc của chính bản thân chứng nghiện này. Nó là một ân phúc bởi vì nó là một bệnh làm đổ vỡ con người cách rõ ràng. Những kẻ nghiện rượu không đổ vỡ nhiều hơn so với những người không nghiện rượu. Tất cả chúng ta đều có mớ thống khổ và âu lo của mình. Có thể chúng ta không ý thức về chúng, nhưng tất cả chúng ta đều có chúng. Tất cả chúng ta đều là những con người đổ vỡ. Có điều, những người nghiện rượu không che giấu được sự đổ vỡ này, trong khi đó số còn lại trong chúng ta thì có thể che giấu nó đằng sau những mặt nạ ‘tỉnh như không’ của mình. Chúng ta không thể nói chuyện với nhau về những gì quan trọng nhất đối với chúng ta, về những gì cốt yếu đang làm cho trái tim chúng ta đổ vỡ. Vì thế, ân phúc lớn nhất của chứng nghiện rượu là chính bản thân của chứùng nghiện ấy. Nó đặt người ta vào cơn khủng hoảng rõ ràng. Và kết quả là họ đi vào một tập thể: một nhóm AA.

Điều tuyệt vời nơi những người nghiện rượu trong AA đó là họ xem mình như những con nghiện đang hồi phục. Họ không xem mình như đã hồi phục, như là ‘những người trước đây vốn nghiện’, mà là những người nghiện đang hồi phục. Và khi sử dụng ý niệm ‘đang hồi phục’, họ không ngừng tự nhắc nhở mình rằng tiến trình hồi phục đang diễn ra, cơn khủng hoảng của họ đang diễn ra. Và, vì cơn khủng hoảng đang diễn ra, nên tính cộng đồng cũng đang tồn tại.

Một trong những khó khăn lớn nhất mà tôi gặp phải khi làm việc vớiFoundation for Community Encouragement (Tổ Chức Vận Động Cộng Đồng) là cố gắng giải thích cho người ta về mục đích của nó. Chỉ những người đang ở trong các chương trình 12 bước mới hiểu ngay được mục đích của tổ chức này – bởi vì tôi có thể nói với họ rằng Foundation for Community Encouragement cố gắng giúp người ta biết cách đi vào một tập thể mà không cần phải là một con nghiện, không cần phải có một cuộc khủng hoảng trước. Hay có thể nói, nó cố gắng dạy cho người ta thấy rằng họ vốn đang ở trong khủng hoảng – chúng ta vốn đang ở trong khủng hoảng.

ĐỐI MẶT SỚM VỚI NHỮNG KHỦNG HOẢNG

Trong nền văn hóa tránh khổ của chúng ta, chúng ta có một thái độ rất kỳ cục đối với sức khỏe tâm thần. Người Mỹ chúng ta dường như nghĩ rằng đặc trưng của sự lành mạnh tâm thần là sự vắng mặt của khủng hoảng. Sai bét! Đó không phải là đặc trưng của sự lành mạnh tâm thần. Chính khả năng đối mặt sớm với những khủng hoảng của mình mới là dấu cho thấy chúng ta lành mạnh tâm thần.

Hai tiếng ‘khủng hoảng’ đã trở thành rất thời thượng ngày nay. Chẳng hạn, thiên hạ đang bàn tán sôi nổi về sự khủng hoảng của tuổi trung niên. Nhưng rất lâu trước khi chúng ta tạo ra từ ngữ đó, chúng ta đã có nói đến khủng hoảng tuổi trung niên nơi phụ nữ. Đó là giai đoạn mãn kinh. Nhiều phụ nữ, khi đến độ tuổi 50 và chu kỳ kinh nguyệt của họ chấm dứt, có xu hướng xuống tinh thần trầm trọng. Nhưng thật lạ là điều đó không xảy ra với hết mọi phụ nữ – và tôi sẽ giải thích tại sao.

Một người phụ nữ lành mạnh tâm thần sẽ không gặp một khủng hoảng lớn nào ở tuổi mãn kinh khi chị 56 tuổi – bởi vì chị đã giải quyết rất nhiều cơn khủng hoảng nho nhỏ suốt thời gian dài trước đó. Ở tuổi 26, chẳng hạn, chị thức dậy một buổi sáng, soi gương và nhận thấy rằng mình bắt đầu có những nếp nhăn trên khóe mắt. Đó là khi chị tự nhủ: “Chà, thế là mất nhiều cơ hội được tuyển vào Hollywood rồi!” Và mười năm sau, khi chị 36 tuổi, và đứa con út của chị đi nhà trẻ, chị nghĩ: “Mình phải làm một cái chi đó cho cuộc sống mình, chứ không thể chỉ tập trung cho con cái mà thôi!” Khi một phụ nữ như thế bước vào độ tuổi 50 và chấm dứt hành kinh, chị sẽ bước qua cột mốc này khá dễ dàng. Chị sẽ hoàn toàn không bị cú sốc nào, vì xét về mặt tâm lý, chị đã đối mặt với hiện tượng mãn kinh của mình trước đó hai mươi năm rồi!

Đàng khác, những phụ nữ gặp rắc rối là những người cố mơ mộng ‘xâm nhập Hollywood’(dù đã bắt đầu phát hiện những vết nhăn trên khóe mắt mình), và là người không phát triển một mối quan tâm nào khác ngoài gia đình. Khi đến tuổi 50, thời gian mãn kinh, thời gian mà bao nhiêu mỹ phẩm cũng không che giấu được các vết nhăn nữa, cũng là thời gian mà con cái rời khỏi mái nhà – để chị lại với không chỉ một ngôi nhà trống rỗng mà còn là một cuộc sống trống rỗng nữa. Chị xuống tinh thần là điều đương nhiên thôi.

Tôi không muốn đóng khung dù là phụ nữ hay là tình trạng mãn kinh ở đây, bởi vì tôi biết rằng sự khủng hoảng trung niên cũng phổ biến và nghiêm trọng không kém nơi đàn ông. Cách đây không lâu, tôi trải qua cơn khủng hoảng trung niên lần thứ ba của mình. Lúc đó tôi suy sụp hơn bất cứ lúc nào trước đây kể từ khi tôi 15 tuổi, và thật là khổ sở. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng điều đặc trưng cho sự lành mạnh tâm thần nơi cả đàn ông lẫn phụ nữ không được đo lường bởi khả năng chúng ta tránh khủng hoảng, nhưng là bằng mức độ mau mắn mà chúng ta đối mặt với một cơn khủng hoảng và có thể tiếp bước đi tới một cơn khủng hoảng khác – và có lẽ cả bởi số lượng bao nhiêu cơn khủng hoảng mà chúng ta có thể vượt qua trong đời mình.

Có một dạng rối loạn tâm lý hiếm hoi nhưng đầy sức tàn phá, gây khốn khổ cho khoảng 1% số người ta – sự rối loạn này đòi họ sống một đời sống thường xuyên phải ở trong tình trạng kích động và hưng phấn. Nhưng còn có sự rối loạn tâm lý tàn phá gấp nhiều lần hơn – ảnh hưởng đến ít nhất 95% người Mỹ chúng ta – đó là chúng ta không sống đời sống mình với một cảm thức kịch tính đủ, và không tỉnh ngộ được về bản chất quan trọng của cuộc sống chúng ta mỗi ngày.

Ở đây ta nhận ra một trong những phẩm chất phải có để làm một con người ‘tín ngưỡng’. Những người khác chỉ có những đợt ‘lên lên xuống xuống’ trong cuộc sống của họ, trong khi chúng ta – những con người ‘tín ngưỡng’ – phải có những ‘cơn khủng hoảng tâm linh’. Bị một khủng hoảng tâm linh thì tốt hơn là bị một vố suy sụp tinh thần chứ, phải không?. Thật vậy, bạn hoàn toàn có thể vượt qua cơn suy sụp của bạn nhanh chóng hơn nếu bạn nhận ra nó là một cơn khủng hoảng tâm linh – mà thường nó đúng là thế. Tôi xác tín sâu sắc rằng trong nền văn hóa của mình, chúng ta cần bắt đầu đề cao các cơn khủng hoảng – gồm cả một số loại suy sụp và tất cả những nỗi khổ đau cần thiết. Chúng ta chỉ có thể lớn lên xuyên qua những nỗi khổ và những cơn khủng hoảng như thế.

Các thành viên AA, vì họ luôn luôn ở trong tình trạng đang hồi phục, nên họ sống với sự khủng hoảng kéo dài. Và họ đương đầu được với khủng hoảng kéo dài bởi vì họ giúp nhau. Đó là ý nghĩa của tính cộng đồng.

Tôi có thể nói cho bạn biết cộng đồng là gì, nhưng tôi không thể cảm nghiệm cộng đồng thay cho bạn được. Đức Giêsu đã gặp một khó khăn tương tự. Ngài đã nắm được cái mà Ngài gọi là Nước Trời, và Ngài vô cùng tâm đắc với nó. Nhưng khi Ngài cố mô tả nó cho người ta, thì mí mắt họ nặng trĩu và họ ngáp. Vì thế, Ngài tạo ra những dụ ngôn để giải thích rõ hơn. Ngài nói: “Nước Trời giống như người kia bắt được viên ngọc quí …”, hoặc “Nước Trời giống như người kia có một vườn nho và cần một số người làm vườn nho …”, hay “Nước Trời giống như người kia có một đứa con hoang đàng, trác táng …” Rốt cục, người ta vẫn không hiểu điều Ngài đang nói với họ.

Hai ngàn năm sau, dù các dụ ngôn của Ngài đã thành nổi tiếng trong văn chương, người ta vẫn không hiểu Ngài đang nói gì. Đa số các Kitôhữu vẫn không thực sự hiểu Đức Giêsu muốn nói gì khi nói “Nước Trời”. Tôi tưởng không hề ngẫu nhiên sự việc khi nói về Nước Trời, Đức Giêsu đã gặp cùng loại khó khăn mà chúng ta gặp khi chúng ta nói về cộng đồng. Bởi vì Nước Trời, theo tôi nghĩ, là loại suy gần nhất đối với cộng đồng.

Bạn đã từng nghe trích dẫn lời của Đức Giêsu rằng “Nước Trời ở bên trong anh em”, nhưng thực ra Đức Giêsu đã không hề nói như thế. Đức Giêsu nói tiếng Aram, và các Sách Tin Mừng được viết bằng tiếng Hy lạp, rồi lại được dịch ra mọi ngôn ngữ khác. Vì thế, không thể tránh những nhầm lẫn, và đã có hàng ngàn quyển sách được viết ra nhằm cố gắng đạt được những bản dịch chính xác và những lời thực của Đức Giêsu.

Một trong những cách mà các học giả dùng để trắc nghiệm sự chính xác của một bản văn Phúc Âm, đó là xem thử có thể dịch bản văn Hy lạp ấy ngược lại tiếng Aram hay không. Đa số các học giả ngày nay đồng ý rằng Đức Giêsu đã không nói: “Nước Trời ở bên trong anh em”, nhưng là nói: “Nước Trời ở giữa anh em”. Và tôi tin rằng chỗ tốt nhất để tìm ra Nước Trời là tìm nó ở giữa chúng ta, trong cộng đồng!

Trong quyển Hương Vị Tình Yêu (The Scent of Love) của mình, Keith Miller viết về điều này khi nhắc đến cộng đồng các Kitôhữu đầu tiên. Người ta nói rằng các Kitôhữu đầu tiên là những người loan báo Tin Mừng thành công một cách rất ngoạn mục bởi vì Chúa Thánh Thần xuống và ban cho họ những ân sủng khác nhau – các ơn đặc sủng và các ơn ngôn ngữ – để họ có thể nói mọi ngôn ngữ, và nhờ đó Kitô giáo lan rộng nhanh chóng. Nhưng Miller cho rằng đó không phải là lý do chủ yếu.

Điều thực sự xảy ra là qua Đức Giêsu, các môn đệ và các tín hữu đầu tiên đã khám phá ra bí mật về cộng đoàn. Một người nào đó rảo bước xuống một con hẻm nhỏ ở Ê-phê-sô hay Cô-rin-tô và thấy người ta đang ngồi xúm xít nói chuyện về những điều rất lạ, rất vô nghĩa: có một người đã bị hành hình trên một cây gỗ, và rồi người ấy đã hiện ra chỗ này chỗ kia …! Nhưng có một chất lượng đặc biệt trong cách mà những người này nói chuyện với nhau, than khóc với nhau, cười với nhau, đụng chạm nhau, giao tiếp với nhau … Chất lượng ấy có sức thu hút mãnh liệt đến nỗi những người xa lạ đi qua đều không thể không quan tâm và ghé lại. Chất lượng ấy chính là hương vị tình yêu tỏa lan bàng bạc, hấp dẫn người ta như những bông hoa lôi cuốn đàn ong vậy. Và người ta bắt đầu nói: “Tôi chưa hiểu, nhưng tôi muốn vào.”

Chúng ta đã có những cuộc hội thảo về việc xây dựng cộng đoàn được tổ chức trong những hội trường khách sạn sang trọng bậc nhất, và những người bồi phòng hay bồi bàn bước đến và nói: “Tôi không biết các vị đang bàn về chuyện gì ở đây, nhưng tôi xong việc lúc 3 giờ, vậy tôi có thể tham gia với các vị được không ạ?”

Thế là tôi hiểu rằng cuộc hội thảo ấy đã có tác dụng.

Vì thế, tôi nghĩ biến cố tích cực nhất của thế kỷ 20 đã xảy ra tại Akron, Ohio vào ngày 10 tháng 6 năm 1935, khi Bill W. và Bác sĩ Bob triệu tập cuộc gặp gỡ AA đầu tiên. Đó không chỉ là biến cố đánh dấu sự bắt đầu của phong trào tự giúp mình và sự bắt đầu cuộc ‘hôn phối’ giữa khoa học và tâm linh, nhưng đó còn là sự bắt đầu của phong trào cộng đoàn.

Đó là lý do khác nữa giải thích tại sao tôi nghĩ về bệnh nghiện rượu như là một chứng bệnh thánh thiêng. Trong các cuộc gặp gỡ giữa tôi và các bạn AA, chúng tôi thường có cảm tưởng rằng có lẽ Thiên Chúa cố ý muốn tạo ra sự rối loạn về nghiện rượu để tạo ra những người nghiện rượu – để những người nghiện rượu này có thể tạo ra AA, và qua đó họ làm thành mũi xung kích của phong trào cộng đoàn, phong trào trở thành phương tiện cứu độ không chỉ của những người nghiện rượu hay ma túy, mà còn là của tất cả chúng ta.

M. Scott Peck

Lm. Lê Công Đức chuyển ngữ

—————————

(16) Hội Những Người Nghiện Rượu Vô Danh

Read more