Tình yêu – nền tảng đời sống Đức tin

VRNs (26.10.2014) – Hà Nội – Thế giới phát triển về mọi mặt đang dần làm cho cuộc sống con người ngày hiện đại hơn. Tuy nhiên, đó cũng là một trong những nguyên nhân gây nên những khủng hoảng trầm trọng về khí hậu, môi trường, năng lượng… Hay nói cách khác, vấn đề này đã và đang đe dọa đến sự sống còn của con người.Nhưng điều đáng lo ngại hơn mà nhân loại đang đối điện đó chính là sự khủng hoảng “tình thương”. Điều mà làm cho cuộc sống ngày hôm nay mất đi căn tính đích thực, trở nên nhạt nhẻo và kéo theo bao nhiêu hệ lụy đau thương.

141026003Một cử chỉ yêu thương đang trở nên “đặc sản” bởi sự hiếm hoi của nó trong cuộc sống đời thường. Tình yêu, đó là cái đặc tính tự nhiên mà Thiên Chúa ban cho con người, đáng ra phải luôn được hiện hữu và gắn liền với sự tồn tại của chúng ta. Nhưng đời sống càng hiện đại bao nhiêu thì dường như tình yêu càng mờ nhạt bấy nhiêu.

Đâu đó người ta vẫn bảo: “thời nay cuộc sống văn minh hơn”. Vậy, phải chăng sự văn minh của con người chỉ được đánh giá dưới chiều kích vật chất? Khi mà tình yêu, tình cảm, lòng bác ái đang dần mai một, khi mà con người chỉ biết tranh giành vật chất, quyền lực và địa vị, khi mà con người trở nên độc ác, ích kỷ hơn, rồi cuộc sống này sẽ đi về đâu?

‘’Nhân phẩm từ đây giảm giá rồi

Chỉ còn lương thực tăng giá thôi

Lương tâm bán rẻ hơn lương thực

Chân lý chân giò một giá thôi!’’

Thật vậy, một thế giới quá chênh lệch giàu nghèo. Một xã hội quá đề cao tiền bạc và quyền lực mà quên đi phẩm giá con người. Một thế giới được xây dựng trên nền tảng kinh tế mà đánh mất đi những giá trị nhân văn và luân lý.Một thế giới tiến bộ về khoa học kỹ thuật nhưng đạo đức đang xuống dốc trầm trọng.Một thế giới mà chân lý chỉ đúng với những cái lý của kẻ mạnh. Đây là một trong những khủng hoảng đáng báo động hơn hết mà con người đang phải đối diện. Bởi, con người đang sống nhưng sống trong ghen ghét hận thù vì miếng cơm manh áo, sống trong sự dẫm đạp lẫn nhau vì tiền tài địa vị, và sống trong sư cô đơn, lẻ loi vì sự ích kỷ, vô cảm. Như ai đó vẫn nói: “con người ngày nay đang sống mà như đã chết”.

Nhữn điều này đang là một thách thức lớn đối với cả nhân loại, cách riêng là đối với mỗi người kitô hữu chúng ta. Trước xu thế đó, chúng ta có dám sống triệt để giới răn mến Chúa giữa một xã hội loại trừ Thiên Chúa hay không? Chúng ta có dám sống yêu người giữa một thế giới đang thiếu vắng tình thương hay không? Đó là lời mời gọi cấp thiết mà Chúa Giêsu đang kêu mời mỗi chúng ta: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi… Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” (Mt 22, 37-39)

“Mến Chúa, yêu người” là châm ngôn sống cho đời sống đức tin của mỗi người chúng ta ngày hôm nay. Lời mời gọi đó muốn chúng ta sống căn tính môn đệ Đức Kitô một cách triệt để giữa những xáo trộn của xã hội. Quả vậy, sống đức tin một cách sống động không những hệ tại ở lòng mến Chúa ,nhưng là hiện thực hóa lòng mến đó bằng chính hành động “yêu mến tha nhân như chính mình”.

Chính tình yêu là cốt lõi, là hơi thở, là sự sống của người kitô hữu.Không có tình yêu thì sức sống của người kitô hữu không còn.Không có bác ái thì người kitô hữu không còn là chứng nhân.Chúng ta được mời gọiđi ngược lại những dòng chảy của thế gian, mở rộng tấm lòng với tha nhân, đó là cách chúng ta làm chứng cho một tình yêu tuyệt vời, một sự tha thứ vô hạn và một tấm lòng bao dung vô bờ.

Để sống được như vậy, hãy nhìn lên Đức Giêsu Kitô – Thầy Chí Thánh của chúng ta. Ngài đã đi trọn con đường trần thế với một tình yêu vĩ đại, một tình yêu bất diệt, đó là tình yêu “dám chết cho người mình yêu”. Với cuộc đời dương thế ngắn ngủi, nhưng Ngài đã ẳm lấy biết bao thân phận nghèo hèn, đau thương, bệnh tật; Ngài đã tha thứ cho bao nhiêu con người sỉ nhục, đánh đập và thậm chí giết chết Ngài; Ngài trao ban chính mình để nhân loại được sống, được tự do và trở nên con cái Thiên Chúa. Chính Đức Kitô là gương mẫu cho đời sống đức tin của mỗi chúng ta. Chính cái chết tắc tưởi trên Thập giá vì yêu thương nhân loại, Ngài đã minh chứng cho tất cả. Do đó, người kitô hữu được mời gọi trở nên đồng hình, đồng dạng với Ngài, đó là sống một tình yêu như Ngài trong hành trình đức tin.

Thiết nghĩ, không dễ dàng để sống một tình yêu như vậy với biết bao nhiêu yếu đuối và nặng nề của con người. Cho nên, kết hợp với Chúa trong chính cuộc đời của mình, thực thi Lời của Ngài trong mọi lúc mọi nơi, lấy Ngài làm cùng đích cho hành trình dương thế, là sức mạnh để chúng ta vượt thắng được sự mỏng giòn của phận người. Thật vậy, chỉ có trong tình yêu của Chúa, chúng ta mới đủ sức mạnh và can đảm để sống yêu thương tha nhân như chính mình. Nếu sống trong Chúa, chúng ta sẽ trao ban sự sống sung mãn cho nhân loại bằng những cử chỉ yêu thương, bác ái và vị tha. Nếu ở trong Chúa, chúng ta sẽ đưa tình yêu, lòng bao dung, thương xót đến với than nhân..Nếu có Chúa trong đời, chúng ta sẽ đưa hình ảnh Chúa đến với nhân loại này ngang qua chính mình.

Nhìn lên tình yêu của Đức Kitô, sống một tình yêu như Ngài đã sống đó là nền tảng đời sống đức tin đối với mỗi người tín hữu hôm nay.

Hãy sưởi ấm những phận người cô đơn, thất vọng bằng việc thắp lên một ngọn lửa yêu thương. Hãy xoa dịu những bất công, hận thù bằng việc tha thứ, bao dung. Hãy tôn vinh phẩm giá con người bằng một đời sống công bằng và sự thật. Hãy đem Chúa đến với mọi người bằng chính đời sống chứng ta của một người kitô hữu. Được như vậy thì phần thưởng dành cho mỗi chúng ta trên Nước Trời sẽ thật lớn lao.

J.B Lê Đình Nam

Read more

Nhà văn Phạm Đình Trọng tố cáo nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội ra quốc tế

VRNs (26.10.2014) – Sài Gòn – Nhà văn Phạm Đình Trọng đã viết: “Tôi là nhà văn, nhà báo lương thiện, sống đúng pháp luật, có trách nhiệm công dân trong đời sống và trên trang viết, không làm gì xâm hại an ninh quốc gia. Nhưng nhân viên an ninh nhà nước Việt Nam đã ngang nhiên vi phạm pháp luật, tước đoạt quyền tự do đi lại của tôi trong thời gian dài. Tôi đã nhiều lần gửi thư kháng nghị và tố cáo lên lãnh đạo nhà nước Việt Nam. Đến nay quyền con người cơ bản là quyền đi lại của tôi vẫn bị tước đoạt”, trong Thư tố cáo nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội với quốc tế như vậy.

—-

141026001

THƯ TỐ CÁO CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM TƯỚC ĐOẠT QUYỀN TỰ DO ĐI LẠI CỦA CÔNG DÂN

Kính gửi: - QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ CÁC NƯỚC DÂN CHỦ:

- QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ MỸ, CANADA, AUSTRALIA

- LIÊN MINH CHÂU ÂU

- HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC VÀ CÁC TỔ CHỨC NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ

- CÁC TỔ CHỨC NHÀ BÁO QUỐC TẾ

Tôi là Phạm Đình Trọng, nhà văn, nhà báo, là thành viên Ban vận động Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam và hội viên hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam.

Sáng nay, thứ bảy, 25.10.2014, tôi có việc cá nhân và việc gia đình cần đi. Việc cá nhân là đi ăn sáng theo lời hẹn của mấy người bạn nhà báo. Việc gia đình là đưa thiệp mời mấy người bạn đến dự lễ cưới con gái út tôi vào thứ bảy tới, 1.11.2014. Nhưng từ sáng sớm tôi đã nhận ra cả hai ngả đường từ nhà tôi đi ra đều đã có những nhân viên an ninh quen mặt chốt chặn.

Là những việc bình dị của sinh hoạt cá nhân hàng ngày và việc cấp thiết của đời sống dân sự nên tôi vẫn đi. 7 Giờ sáng, ngồi xe máy vừa ra khỏi hầm xe tôi liền đối mặt với ông chỉ huy công an đã bắt tôi hôm 18.5.2014 ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh rồi tống tôi vào ô tô chạy hơn 70 km đưa tôi ra Cần Giờ, quản thúc tôi suốt một ngày. Thấy tôi, ông chỉ huy công an liền hướng mặt về phía quán nước cách đó vài chục mét, vẫy tay. Từ quán nước, bốn nhân viên an ninh quen mặt xô lại phía tôi cùng tiếng quát: Đi đâu! Quay về! Trước sự hung hăng và áp đảo đó, tôi buộc phải quay xe về!

Suốt mấy năm qua, tôi đã nhiều lần bị một lực lượng đông đảo công an và dân phòng đến chặn cửa không cho tôi ra khỏi nhà. Đặc biệt từ tháng 5. 2014 đến nay, tôi đã hai lần bị bắt cóc khi ra khỏi nhà. Một lần là ngày 18.5.2014 như đã nêu trên. Lần sau là ngày 24.8.2014, tôi vừa ra khỏi nhà liền bị bắt cóc, bị tống vào chiếc ô tô biển số 52N2654 đưa về đồn công an xã Phước Kiển giam giữ suốt một ngày. Từ ngày 26.8.2014 đến ngày 9.9.2014, suốt hai tuần liền, ngày nào cũng có từ 7 đến 10 nhân viên an ninh mặc thường phục cùng chiếc ô tô 52N2654 chở người bị bắt, đến chốt chặn trước nhà tôi, ngăn cản việc đi lại của tôi. Từ sau ngày 9.9.2014 tuy không liên tục, thường xuyên nhưng đột xuất, sự chốt chặn, ngăn cản tôi đi lại, lại diễn ra. Đó là các ngày: Chủ nhật 28.9.2014. Chủ nhật 5.10.2014. Chủ nhật 12.10.2014. Thứ ba 21.10.2014. Và hôm nay, thứ bảy 25.10.2014.

Tôi là nhà văn, nhà báo lương thiện, sống đúng pháp luật, có trách nhiệm công dân trong đời sống và trên trang viết, không làm gì xâm hại an ninh quốc gia. Nhưng nhân viên an ninh nhà nước Việt Nam đã ngang nhiên vi phạm pháp luật, tước đoạt quyền tự do đi lại của tôi trong thời gian dài. Tôi đã nhiều lần gửi thư kháng nghị và tố cáo lên lãnh đạo nhà nước Việt Nam. Đến nay quyền con người cơ bản là quyền đi lại của tôi vẫn bị tước đoạt.

Là thành viên của cộng đồng nhân loại trong thời đại dân chủ, văn minh, tôi buộc phải kêu cầu đến Quốc hội, Chính phủ các nước đang quan tâm đến tình trạng bi thảm về quyền con người ở Việt Nam. Tôi cũng gửi lời kêu cầu khẩn thiết này đến hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc, các tổ chức Nhân quyền quốc tế và các tổ chức Nhà Báo quốc tế.

Trân trọng cảm ơn.

Việt Nam  ngày 25 tháng 10 năm 2014

Kính thư

PHẠM ĐÌNH TRỌNG. Nhà văn. Nhà báo

Read more

Ông Ngô Đình Cẩn

VRNs (26.10.2014) – Sài Gòn – Ông Ngô Đình Cẩn sinh năm 1912 tại nguyên quán làng Đại Phong, Huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông là em trai áp út của ông Ngô Đình Diệm. Ông Cẩn có thói quen chân đi guốc gỗ, miệng nhai trầu bỏm bẻm, nên có hỗn danh là “Cố Trầu”, hoặc là “Lãnh Chúa Miền Trung”. Còn các nịnh thần thì thường gọi ông Cẩn bằng “Cậu Cẩn”.

Ông Ngô Đình Cẩn được giao làm Cố Vấn Trung Phần, phụ trách Miền Trung và vùng Tây Nguyên. Tổng Hành Dinh của ông đóng gần nhà thờ Phủ Cam, nay thuộc phường Phước Vĩnh, thành phố Huế và một khu biệt thự khác ở ấp Ngũ Tây làng An Cựu, nay thuộc xã Thủy An, thành phố Huế, gần khu di tích Chín Hầm nổi tiếng.

Bản thân ông Cẩn rất tôn trọng các vị Phật Giáo tu hành ở Huế, vì một lẽ rất dễ hiểu là, việc theo đạo Thiên Chúa của gia đình ông, chỉ mới bắt đầu từ đời thân phụ ông là cụ Ngô Đình Khả.  Và nhiều người đã nghĩ sai, cho rằng theo đạo Thiên Chúa, thì không được thờ ông bà trong nhà, không được đặt bát nhang. Nhưng gia đình ông Ngô Đình Cẩn đã thấm nhuần Nho Giáo khá sâu sắc, nên họ không thể từ bỏ việc thờ cúng tổ tiên, và đã nhờ chùa Từ Đàm thờ cúng. Cứ tới mỗi kỳ kỵ giỗ, gia đình ông đều được nhà chùa lo giúp hết mọi việc.

Những khi ông Cẩn có dịp tiếp xúc với các vị sư trên chùa, thì bao giờ ông cũng rất niềm nở, kính trọng. Sư Thích Trí Quang là người hay lui tới với ông Cẩn nhất.

Ông Cẩn là người rất quê mùa, cách xử sự không xa mấy so với các ông lý trưởng, chánh tổng ngày xưa. Sau nầy khi đời lên hương và hằng năm khi có lễ lược gì đó, “Cậu Cẩn” cho vật trâu bò, hạ heo gà mời nhiều người đến ăn. Ông mời từ các cán bộ Xã Ấp, cho tới hàng Bộ Trưởng, Thứ Trưởng ở Trung Ương. Cán bộ Xã Ấp, ai được mời tới ăn cỗ nơi nhà Cậu Cẩn, được coi như là điều vinh hạnh, và đi khoe với người khác rằng: tôi được Cậu Cẩn mời tới. Dĩ nhiên, những người nầy thì đông, họ ngồi quanh hai, ba dãy bàn dài, có gia nhân của Cậu Cẩn bưng chén đũa, thức ăn, ra đến tận nơi ngồi, mời rất lịch sự. Cũng lắm người tuy là khách, nhưng thích xông xáo, nhào vào bưng dọn, mong được Cậu để mắt tới. Trong khi khách ngồi ăn, thì Cậu Cẩn mặc quần lụa, cởi trần, tay cầm quạt giấy, quạt phành phạch, miệng nhai trầu bỏm bẻm, đi quanh từng bàn, hỏi thăm chung chung:

- Răng ?  Ăn ngon không ?  Rán ăn no hỉ ?.

Sau 1-11-1963, khi nói về ông Ngô Đình Cẩn, dư luận thưòng chê bai ông: nào là học dốt, ươn hèn, nhút nhát, hách dịch, kỳ thị Nam-Bắc v.v…

Nhưng sự thực thì khác hẳn với những lời đồn đại đầy ác ý có chủ mưu đó. Mặc dầu trình độ văn hóa, bằng cấp so ra với mấy ông anh, thì ông Cần không bằng. Nhưng không phải vì thế mà ông Cẩn không biết tính toán công việc chu đáo, và ông cũng không bao giờ tỏ ra hách dịch với ai, hoặc phân biệt Nam-Bắc. Trái lại ông là người nhiều tình cảm, có tâm hồn phóng khoáng, chuyện trò cởi mở, và ông cũng không ươn hèn, hoặc nhút nhát như những lời đồn đãi, ác ý gán ghép cho ông.

Và dù thương hay ghét, những người sống gần ông Cẩn, ai cũng phải công nhận rằng: ông là một người con rất hiếu thảo, ông không tham gia chính quyền, là để có trọn thời giờ sống bên cạnh, và đích thân lo lắng chăm sóc thân mẫu từng bữa ăn, giấc ngủ.  Với đời sống độc thân,  ngoài thời gian chăm sóc mẹ ra, ông Cẩn chỉ thích đi câu cá và trồng bông, trồng kiểng thật xinh đẹp quanh nhà.

Cũng chính vì cái thú thích đi câu này mà ông đã bị bọn “điếu đóm” làm ông mang tiếng không ít. Ở Huế ai cũng biết câu nói truyền miệng của người dân rằng “Công An thì Hoát, Cảnh Sát thì Vang”, vì hai tên này rất ác ôn, côn đồ, cậy oai cậy thế, cáo mượn lốt hùm, gây ra nhiều điều bất mãn cho người dân, khi chúng lợi dụng công việc bảo vệ an ninh cho ông Cẩn mà làm nhiều điều trái tai gai mắt, để nịnh bợ tâng công.

Chẳng hạn như mỗi khi ông Cẩn đi câu, nhân viên canh gác nhà ông Cẩn liền báo cho chúng biết, theo lời dặn. Thế là bọn công an, cảnh sát chúng cho xe Jeep hộ tống và kéo còi hụ inh ỏi để xua đuổi những người ngồi câu gần đó, trước khi ông Cẩn tới câu, vô tình làm cho ông Cẩn bị mang tiếng rằng đi câu, mà cũng tiền hô hậu ủng .

Cũng như các vị Tướng Tá khi ra Huế cũng thường ghé đến thăm ông Cẩn, và họ cũng bị bọn tay chân Hoát, Vang làm khó dễ, vì bọn chúng biết rằng các vị đó đến thăm ông Cẩn không ngoài mục đích lấy điểm với Tổng Thống, hoặc nhờ xin xỏ điều chi, nên chúng cũng giở trò làm khó dễ các vị đó để kiếm tiền.

Các vị đến hỏi cho vô gặp ông Cẩn thì chúng trả lời :

- Cậu đang ngơi!

Nhưng khi các vị biết ý câu trả lời của chúng mà xòe bao thư ra, thì bọn chúng trả lời mau lẹ rằng:

- Để tui vô coi Cậu đã dậy chưa?

Và một lát sau chúng chạy ra nói rằng:

- Cậu đã dậy, xin mời vô!

Sự thực ông Cẩn cũng chẳng ngủ hay bận làm gì cả, bọn chúng chỉ âm thầm chạy ra chạy vô kiếm cớ  khó dễ, để moi tiền mà thôi.

Tôi nhớ lại hồi 1956 hay 1957 gì đó, ông Huỳnh, nguyên Trưỏng Cảnh Sát Thương Khẩu, thấy những cảnh ngang tai chưóng mắt quá, nên khi về Saigon ông Huỳnh tìm mua được một con Nhồng (con Yểng) biết nói tiếng người, đem ra Huế biếu ông Cẩn. Ông Cẩn cũng rât thích con Nhồng này. Thích nhất là ông Huỳnh dạy cho con Yểng nói chỉ một câu, mỗi khi thấy người lạ đến nhà ông Cẩn.  Đó là câu:

- Ê ! Đồ điếu đóm!

Và cũng chính vì con Nhồng này, đã làm cho  các Tướng Tá điếu đóm nhột nhạt vô cùng, nên họ đã có dịp trả thù ông Cẩn sau này.

Bản tính ông Cẩn thích trò chuyện, hiếu khách, nên thường có nhiều khách đến thăm.  Nhưng khổ một nỗi vì bọn gia nhân chúng hay làm tiền, gây khó khăn cho khách và gây tai tiếng không tốt cho ông Cẩn.  Nhưng công tâm mà nói, thì chính các vị khách, không mời mà tới, lợi dụng ông Cẩn, đã tạo cho bọn gia nhân thói quen làm tiền xấu xa, để mang tai tiếng cho ông Cẩn.

Cũng như bản tính ông Cẩn ưa sạch sẽ, gặp bọn gia nhân biếng nhác, nhất là biếng nhác trong công việc lau chùi nhà cửa, nên khi khách khứa bước vô nhà thì chúng bèn rỉ tai nói khẽ:

- Xin quí vị cởi giày ra!  Tất  nhiên là “quí vị” nghe theo lời chúng răm rắp!  Còn tôi đã nhiều lần vô nhà ông Cẩn, tôi thường mang đôi botte de saut còn dính đầy bùn đất và cứ đi thẳng luôn vào nhà.  Bọn gia nhân thấy vậy chúng nhìn tôi đăm đăm. Tôi biết ý chúng nên nói thẳng:

- Nếu thấy bẩn thì lau cho sạch đi!

Nghe tôi nói vậy, bọn chúng lẳng lặng đi nơi khác.

Nói tóm lại, lúc ông Cẩn đương thời thì đủ mặt văn võ bá quan, tai to mặt lớn ra vô xum xoe khúm núm, đến khi ông Cẩn ngã ngựa thì họ xúm nhau vào bới lông tìm vết mà vạch ra các tội mà họ đã tự ý đem gán cho ông Cẩn .

Những người tập họp quanh Cậu Cẩn lúc ấy, một số thuộc bên văn, đỗ đạt trước 1945 như các ông công chức Võ Như Nguyện, Ngô Đình Thảng, Nguyễn Đôn Duyến, Nguyễn Đình Cẩn, Ngô Ganh (nhạc sĩ).  Bên quân sự có Thái Quang Hoàng, thiếu úy Pháp, tốt nghiệp trường sĩ quan quân sự TON, Nguyễn Ngọc Lễ, gốc là Hạ sĩ quan, lính Khố Đỏ Pháp. Hạ sĩ quan lính Khố Xanh có Đỗ Mậu, Phùng Ngọc Trưng, Đinh Sơn Thung. Trần Hữu Điểu, Đội Trưởng lính Khố Vàng, bảo vệ Đại Nội, Kỳ Quan Liêm, Huỳnh Hữu Hiến… Ông Lê Khương, tốt nghiệp trung học thời Pháp thuộc, khi quân đội Quốc Gia thành lập, ông được đồng hóa Đại Uý, cùng trong nhóm với các ông Đỗ Mậu, Đinh Sơn Thung…

Các vị nầy, trước khi cụ Ngô Đình Diệm về cầm quyền, thường lui tới nhà Cậu Cẩn, nhất là trong các dịp lễ tết.  Họ chỉ ủng hộ vậy thôi, chớ không có hoạt động gì mạnh, ngoại trừ vài lần rải truyền đơn trong Đại Nội hoặc tại thành phố Huế. Hoạt động của họ bị hạn chế vì số đông là công chức hoặc quân nhân, sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia thời Bảo Đại.  Tuy nhiên, khi việc tranh chấp giữa Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và Trung Tướng Tham Mưu Trưởng Nguyễn Văn Hinh đã trở nên gay gắt, thì họ đứng hẳn về phe Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, chống lại Nguyễn Văn Hinh và chống cả Quốc Trưởng Bảo Đại. Đặc biệt, ông Thái Quang Hoàng lúc đó là Thiếu Tá, đã kéo quân lính lên phía tây Phan Rang, lập chiến khu Sầu Đâu để chống lại phe tướng Hinh.  Ông Lê Khương lúc ấy đeo lon Thiếu Tá, cũng chống Tướng Nguyễn Văn Hinh và bị bắt đưa vào Saigon để xử tội.  Nửa đường, ông trốn thoát được.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, các Tướng Lãnh phản bội làm đảo chính, lật đổ chính phủ do Tổng Thống Ngô Đình Diệm cầm quyền, phe đảo chính đã giết chết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Trước biến cố chính trị này, ông Ngô Đình Cẩn đã chạy vào ẩn náu trong Dòng Chúa Cứu Thế, sau đó xin tỵ nạn ở Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Huế. Nhưng không may, ông đã bị Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ chuyển vào Sài Gòn, trao lại cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.  Và ông Ngô Đình Cẩn đã bị kết án tử hình, bị xử bắn lúc 5 giờ chiều ngày Thứ Bảy 9 tháng 5 năm 1964. Ông được an táng tại nghĩa trang trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, về sau được qui tụ về nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương) nằm chung với hai anh Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và thân mẫu Phạm Thị Thân.

Và để có được bản án tử hình, giành cho ông Ngô Đình Cẩn, Tướng Nguyễn Khánh đã phải điều động cho Đại Tá Nguyễn Văn Mầu, đương quyền Giám Đốc Nha Quân Pháp lúc bấy giờ, được biệt đãi đưa lên làm Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp. Trong khi chức Bộ Trưởng Tư Pháp thường phải được tuyển chọn trong số những thẩm phán hay luật sư chuyên ngành Tư Pháp tài giỏi, đạo đức, được mọi người, nhất là giới luật sư kính nể. (Trong khi Nguyễn Văn Mầu chuyên ngành về Quân pháp)

Sở dĩ có việc chọn Bộ Trưởng Tư Pháp tréo cẳng ngỗng như vậy là vì chỉ có Đại Tá Nguyễn Văn Mầu mới chịu làm theo lệnh của Tướng Nguyễn Khánh, cho dù lệnh đó có sai nguyên tắc luật pháp.

Vì thế, qua sự  “làm việc” của Bộ Tư Pháp, do ông chuyên ngành Quân Pháp đứng đầu, đã có được Sắc Luật số 4/64, theo đúng tinh thần “Cách Mạng” trình cho Tướng Nguyễn Khánh ký và ban hành ngày 28-2-1964.

Và Sắc luật số 4/64 này đã là vòng vây khép chặt của luật pháp “cách mạng “, ông Cẩn không thể nào sống sót, qua mấy điều luật mới, điển hình như sau:

Điều 5, cấm Toà Án Cách Mạng không được quyền giảm khinh, cũng như không được phạt án treo.

Điều 15, quy định rằng Toà Án Cách Mạng tuyên án liền sau phiên họp nghị án, không đình hoản.  Những án khuyết tịch coi như đương tịch.

Điều 16, cấm các bị cáo không được kháng cáo hoặc thượng tố.

Nhận xét về khả năng của ông Ngô Đình Cẩn, VC nằm vùng Phạm Xuân Ẩn đã nói: “Ngô Đình Cẩn là một người rất tài giỏi, nếu anh em Diệm – Nhu nghe lời Cẩn thì chưa chắc chế độ Ngô Đình Diệm đã sụp đổ lúc đó”

14102600

Sau hơn 40 năm, khi ôn lại lịch sử phiên Tòa đã xử ông Cẩn, nhà báo Lữ Giang viết hỏi:

“Đại Tướng Khánh có biết ông Cẩn đã nhìn các sĩ quan được Đại Tướng cử làm phụ thẩm quân nhân tại Toà Án Cách Mạnh như thế nào không? Luật Sư Võ Văn Quan người biện hộ cho ông Cẩn, cho biết khi nhìn mấy tên phụ thẩm quân nhân ngồi xét xử, ông Cẩn đã nói với Luật Sư Quan:

“Luật Sư biết không, lúc mấy tên đó tới lui tại nhà tôi, khúm núm xưng “con”, xin xỏ, cầu cạnh.  Bây giờ bọn nó tiếp tay để ngồi phiên xử này xử tôi, mặc dầu họ có thể từ chối.  Đúng là một lũ phản phúc…”

Luật sư Quan cho biết thêm, lúc ở phiên toà, ông Cẩn ngồi dựa vào ghế, nhìn thẳng vào các phụ thầm quân nhân. Một vài phụ thẩm Quân nhân, khi nhìn xuống, chạm phải mắt ông Cẩn, liền quay về hướng khác.

Còn Tướng Nguyễn Khánh thì sao?

Đại Úy Nguyễn Văn Minh, người phụ trách về an ninh của ông Cẩn lúc đó có kể lại năm 1956, sau khi nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn I Bộ Binh ở Huế, Đại Tá Khánh đến xin được vào chào ông Cẩn, nhưng không hiểu tại sao ông Cẩn không tiếp.  Đại Tá Khánh liền áp dụng chiến thuật “lỳ”.  Từ hôm sau, mỗi buổi sáng, đầu giờ làm việc, Đại Tá Khánh đều mặc quân phục chỉnh tề, tự mình lái xe đến đậu ngay trước nhà ông Cẩn. Sau khi yêu cầu nhân viên gác cổng vào trình xin cho ông được gặp, ông trở ra ngồi trên xe đợi hàng tiếng đồng hồ. Không được gặp, hôm sau Tướng Khánh lại lái xe đến và làm như thế, liên tiếp trong ba bốn sáng.  Cuối cùng, ông đã được ông Cẩn tiếp.

Luật Sư Quan đã kết luận bài biện hộ cho ông Cẩn như sau:

“Trong cuộc Cách Mạng năm 1789 của Pháp, Quốc Hội gọi là Convention National, bầu trong thời kỳ La Terreur (Khủng Bố) gồm đa số là những người do tên độc tài khát máu Robespierre dùng áp lực để đưa vào.  Trước khi đem vua Louis XVI ra xét xử tại Quốc Hội, Robespierre đã tuyên bố là phải cho án tử hình.  Trong phiên tòa đặc biệt đó, nhiều người của Convention National đã cật vấn hằn học, mạt sát thậm tệ vua Louis XVI, cho biết trước rằng họ sẽ bỏ phiếu tuyên án tử hình. Khi đứng lên biện hộ cho vua Louis XVI, Luật Sư Sège đã can trường nói thẳng với họ: “Je viens ici chercher des juges, mais je ne trouve que des bourreaux.” (Tôi đến đây tìm những vị thẩm phán quan, nhưng tôi chỉ gặp những tên đao phủ thủ).

Trong lịch sử tư pháp Việt Nam, chúng tôi chưa thấy có luật sư nào dám xúc phạm các quan tòa như vậy. Nhưng vì những điều Luật Sư Quan nói là sự thật nên các “phán quan” chỉ ngồi chịu trận chứ không có phản ứng nào. (trích từ bài “Yêu cầu Tướng Khánh trả lời trước lịch sử” của Lữ Giang)

Trong lúc ông Cẩn đang bị giam giữ, thì Cụ Cố Ngô Đình Khả tức Cụ bà  Phạm thị Thân được di chuyển từ Huế vào Sài Gòn, sống ở nhà anh Nguyễn Linh Tuyên, được ít lâu sau thì Cụ Cố từ trần. Tôi được gia đình anh Tuyên báo tin buồn này sớm nhất. Khi tôi và anh Tuyên đang bàn bạc cùng ông bà Ấm và Đức cha Thuận, sắp đặt công việc cho buổi lễ an táng cụ cố, thì ông bà Trần Trung Dung đến cho biết:

- “Hội Đồng Tướng Lãnh” ấn định chỉ cho phép quàn trong 24 tiếng thôi, đến 5g30 sáng hôm sau thì phải di quan ra khỏi nhà. Việc mai táng tôi đã giao cho nhà hòm Tôbia lo liệu mọi việc.

Nghe nói vậy, tôi mới hỏi ông bà Dung:

- Việc di quan, thì anh chị tính chuyển linh cửu Cụ Cố bằng phương tiện nào?

Ông Dung Đáp:

- Tôi bảo họ dùng xe hơi.

Mọi người có mặt im lặng, nhưng  tôi gạt phăng đi và nói:

- Không! Để tôi gọi Tobia thay xe hơi bằng xe ngựa, mà phải là 4 ngựa kéo cho trang trọng, chứ không phải chỉ có 2 ngựa kéo là đủ.

Ông Dung nói:

- Nhưng Hội Đồng Tướng Lãnh nói phải di quan ra khỏi nhà lúc 5g30 sáng.

Tôi đáp:

- Tôi đồng ý di quan ra khỏi nhà theo đúng giờ qui định, và chỉ xin cho thay phương tiện di quan mà thôi.

Sở dĩ tôi yêu cầu được di quan bằng xe ngựa là có lý do, vì xe ngựa đi chậm rãi, thong thả từ nhà anh Tuyên đến nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế, cốt là để chờ đồng bào từ các họ đạo, kịp đến nhà thờ dự đám táng và dự lễ cầu nguyện cho cụ Cố.

Nghe tôi nói vậy, ông bà Ấm, Đức Cha Thuận đều đồng ý với tôi.  Sau đó tôi hỏi anh Tuyên:

- Hà Di đâu mà chưa thấy đến chụp hình ?

Anh Tuyên cho biết:

- Tôi đã gọi, song Hà Di sợ liên lụy nên từ chối.

Nghe vậy, tôi nói anh Tuyên để tôi đi thông báo cho các họ Đạo và báo chí biết tin này. Đồng thời tôi chạy vội đến Tòa Báo Sàigòn Mai của Ngô Quân. May quá, tôi gặp nhà báo Nguyễn Bảo Sỹ, em Tướng Nguyễn Bảo Trị làm ở đây. Gặp Sỹ tôi nói :

- Có tin sốt cho cậu đây.

- Tin gì thế?

- Tin thân mẫu cố Tổng Thống mới từ trần.

- Ở Huế hay ở đâu ?

- Ở tại Sàigòn này. Cậu có muốn theo tôi đến chụp hình, lấy tin không?

- Trời ơi, muốn lắm chứ !

Thế là tôi đưa Sỹ đến nhà anh Tuyên chụp hình, và hai đứa tôi đưa phim ra ngay tiệm chụp hình Kinh Đô, trên đường Phan Đình Phùng, rửa hình cấp tốc, để Sỹ đưa lên báo cho kịp giờ phát hành. Sau đó, tôi đến các nhà thờ Chợ Quán, Huyện Sĩ,… thông báo tin thân mẫu cố Tổng Thống đã qua đời, đồng thời cũng cho tin đến các ông: Stuart, Bryan Mills, v.v … để họ đến chia buồn .

Và thật đáng tiếc, những tài liệu tôi đưa cho Sỹ đăng báo, và những hình Sỹ chụp linh cửu Cụ Cố tại nhà anh Tuyên đưa đăng báo, đã bị “bà kiểm duyệt” tàn nhẫn cắt bỏ một cách bỉ ổi, chỉ rộng lượng cho đăng vài dòng tin “Cáo Phó” ngắn ngủi thôi.

Khi Cụ Cố mất, bà Nguyễn Văn Ấm khuê danh Ngô Đình Thị Hiệp, có làm đơn xin Hội Đồng Tướng Lãnh cho phép ông Ngô Đình Cẩn về chịu tang mẹ, nhưng họ đã ác độc và nhất là còn sợ vía ông Cẩn, nên không chấp thuận. Sau đó tôi đích thân lái xe đưa bà Ấm lên gặp Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình xin can thiệp, song cũng không được.

Rốt cuộc ông Cẩn phải lãnh cái án Tử Hình, khiến cho dư luận rất bất mãn, và cho tới lúc bản án Tử Hình được áp dụng, thì thiên hạ mới thấy lòng can đảm của ông Ngô Đình Cẩn, ông không hèn yếu, nhút nhát, như dư luận được hướng dẫn, nên thiên hạ thưòng chê bai ông.

Cứ theo như luật tử hình, thì trưóc khi xử tử, tội nhân phải được bịt mắt, nhưng ông Cẩn đã không chịu bịt mắt, vẫn ngang nhiên, dõng dạc nói:

-Không, khỏi cần bịt mắt tôi, để tôi đưọc nhìn quê hương tôi lần chót.

Và ông mỉm cười, sẵn sàng đợi nhận những viên đạn vô tình và oan nghiệt, do những kẻ trưóc đây đã từng quị lụy, hàm ơn mưa móc của ông, nay họ đã cố tình ra lệnh giết ông.

Chung qui, ông Cẩn phải lãnh án tử hình, cũng vì chúng nghĩ ông có nhiều tiền, mà lại không chịu đem tiền bỏ vào túi tham của Tướng đảo chánh Nguyễn Khánh, khi hơi tiền đã làm mờ mắt, che lấp cả lưong tri, của những kẻ đang có quyền hành, thì họ chẳng nghĩ gì đến Đạo lý, Nhân nghĩa cả.

Tin xử Bắn Ông Ngô Đình Cẩn

Báo Chính Luận số ra ngày 10-5-64 đưa tin:

* 5 giờ chiều thứ Bảy 9-5-64 xử bắn ông Ngô Ðình Cẩn tại khám đường Chí Hòa.

*  Tử tội Phan Quang Ðông bị bắn ở Huế.

SÀI GÒN – Nguồn tin thông thạo cho biết tử tội Ngô Ðình Cẩn sẽ bị hành quyết ngày 9-5, tại Trung Tâm Cải Huấn Chí Hòa vào lúc 5 giờ chiều. Cũng theo nguồn tin trên, Phan Quang Ðông cũng sẽ bị hành quyết tại Huế cũng nội trong ngày thứ Bảy.

Theo tin chánh thức thì mỗi một tờ báo ở Sài Gòn được cử một ký giả theo dõi. Và theo lời hứa của Thủ Tướng thì cũng có cả đại diện dân chúng ở Huế được chứng kiến. Hiện giờ, chung quanh khám Chí Hòa sự canh phòng trở nên rất nghiêm ngặt. Ngô Ðình Cẩn sẽ được xử bắn tại đây .

Còn theo tin thông thạo thì có lẽ Phan Quang Ðông được xử bắn, vì Việt Nam chỉ có một máy chém. Trung Tướng Khánh sẽ đi Huế dự cuộc biểu tình vĩ đại và sẽ tuyên bố đôi lời với quốc dân đồng bào.

Những tiết lộ mới chung quanh vụ án Ngô Ðình Cẩn

Theo tin của tờ báo Quân Ðội Mỹ “Stard and Stripes” thì Ðại sứ Mỹ Cabot Lodge có tìm cách cứu ông Cẩn khỏi chết.

Nhiều nguồn tin Mỹ khác còn xác nhận rằng Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn “đã làm đủ mọi điều có thể làm được trong mấy tuần qua để cứu Cẩn”.

Thêm nữa, những nguồn tin trên cũng còn nói rằng Ðức Hồng Y Spellman ở Nữu Ước, cũng xin giùm cho Cẩn, và Hội Ðồng Quân Ðội Cách Mệnh, cũng nhận được hàng chục lá đơn xin ân giảm cho Cẩn, từ các tư nhân và các tổ chức Mỹ gửi tới.

Ðại Sứ Lodge còn phủ nhận tin đồn: trước đây Hoa Kỳ đã từ khước, không cho Cẩn tỵ nạn chính trị và trao Cẩn cho Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mệnh, Ðại Sứ giải thích rằng nếu Cẩn đã xin tỵ nạn tại Sứ Quán Mỹ, thì Ðại Sứ đã cho Cẩn được hưởng quyền tỵ nạn rồi, như là Ðại Sứ đã cho các vị Thượng Tọa tỵ nạn dưới Chính Phủ Diệm. Nhưng Cẩn lại vô Tòa Lãnh Sự tại Huế và Tòa Lãnh Sự không có quyền cho tỵ nạn.

Ðại Sứ Lodge còn cho biết rằng Hoa Kỳ đề nghị chở Cẩn bằng phi cơ đi Ma Ní, nhưng Chánh phủ Việt Nam không cho phép, và máy bay đã đưa Cẩn vào Sàigòn.

Bà Trần Lệ Xuân thỉnh cầu Đức Giáo Hoàng can thiệp cho ông Ngô Đình Cẩn

SÀI GÒN (VTX) – Theo một nguồn tin của hãng thông tấn Reuter, Trần Lệ Xuân vừa gởi đến Giáo Hoàng Phao Lồ VI một bức điện thỉnh cầu Giáo Hoàng can thiệp với Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa để xin ân xá cho em chồng là ông Ngô Ðình Cẩn sẽ bị hành quyết tại Sàigòn một ngày gần đây.

Trong bức điện gửi Ðức Giáo Hoàng và được công bố tối ngày thứ Tư vừa qua, bà quả phụ Ngô Ðình Nhu có nói: “Tôi sợ rằng sự im lặng của Giáo Hoàng sẽ gây ảnh hưởng không hay cho thái độ của tín đồ Thiên Chúa Giáo và những người ngoại giáo đối với Tòa Thánh Vatican.”

Ông Ngô Đình Cẩn, trước khi ra pháp trường, được Linh Mục Lê Văn Thi ban phép lành.

Ngô Đình Châu

Read more

Tối mai: Lễ cầu nguyện cho công lý hòa bình tại Sài Gòn

VRNs (25.10.2014) – Sài Gòn – Người dân Việt Nam tiếp tục bị trở thành con bài của nhà cầm quyền trong các ván bài chính trị độc tài.

Trong tuần lễ qua, chúng ta có cơ hội tạ ơn Thiên Chúa vì nhà cầm quyền đã trả tự do cho blogger Điếu cày – Nguyễn Văn Hải và trục xuất ông Hải ra khỏi Việt Nam. Việc ông Hải được tự do là một niềm vui lớn, nhưng việc ông Hải phải định cư ở nứơc ngoài là một việc làm tồi tệ của nhà cầm quyền, vi phạm nghiêm trọng quyền con người là công dân được sống trên quê hương của mình.

141024008

Một chuyện nghiêm trọng khác là những người bạn tù đã công khai làm chứng nhà cầm quyền cộng sản đã bạc đãi anh Phanxicô X. Đặng Xuân Diệu trong tù một cách tàn nhẫn, khiến tình trạng sống của anh đang trong cảnh nguy cấp. Anh Diệu là một doanh nhân Công giáo, anh tham gia các hoạt động Bảo vệ sự sống, lập quỹ giúp học sinh nghèo, tham gia các khóa đào tạo của Truyền thông Chúa Cứu Thế và trực tiếp đưa tin về những hoạt động bất công trong vùng Nghệ An. Nhà cầm quyền đã trả thù bằng cách nhốt tù, và trong tù tiếp tục trả thù cho việc anh đã trực tiếp tố cáo những bất công do giám thị và các quản giáo áp đặt trên các tù nhân chính trị và thường phạm.

Một việc nghiệm trọng xảy ra trong tuần qua là nhà cầm quyền Hà Nội ngang nhiên vi phạm pháp luật Việt Nam là triển khai dự án xây dựng ngay trên đất Hồ Ba Giang, thuộc Tỉnh DCCT VN do tu viện Hà Nội quản lý. Việc DCCT đang quản lý khu đất này dược chính các văn bản của nhà cầm quyền Hà Nội xác nhận những năm 1990s.

Những sự kiện này cho thấy nhà cầm quyền đang biến con dân nước Việt thành vật trao đổi cho mục đích chính trị của tập đoàn lãnh đạo, và tiếp tục gây bức xúc cho dân chúng vì những chính sách loại trừ tôn giáo, và nhất là cố tình vi phạm pháp luật cách công khai.

Nhìn ra thế giới, tình trạng bệnh Ebola cũng đang gây ra mối đe dọa cho con người, và nhóm IS, tiếp tục tấn công các Kitô hữu tại Iraq và các nước khác ở Trung Đông.

Thánh lễ cầu nguyện cho Công lý hòa bình cuối tháng 10, lúc 20 giờ, ngày 26.10, tại DCCT Sài Gòn, số 38 Kỳ Đồng, quận 3, Sài Gòn sẽ hiệp thông cầu nguyện cho các ý lễ trên.

Thánh lễ do cha Phanxicô Nguyễn Văn Nhứt, OP chủ tế và cha Phaolô Lê Xuân Lộc, CSsR chia sẻ Lời Chúa.

Xin mời anh chị em gần xa tham dự và cầu nguyện cho quê hương Việt Nam.

Ban Tổ Chức

Read more

Buồn và lo vì có vị bộ trưởng quốc phòng quá dớ dẩn

VRNs (24.10.2014) – Hà Nội – Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quanh Thanh vừa dẫn đầu một đoàn 13 tướng lĩnh sang phụng bái Bắc Triều từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 10 năm 2014. Đoàn gồm các ông: Trung tướng Bế Xuân Trường – Phó tổng Tham mưu trưởng; Trung tướng Lương Cường – Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Dương Đức Hòa – Tư lệnh Quân khu 2; Trung tướng Phương Minh Hòa – Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân; Trung tướng Võ Trọng Việt – Tư lệnh Bộ đội 141024007Biên phòng; Trung tướng Phạm Hồng Hương – Tư lệnh Quân khu 3; Chuẩn đô đốc Phạm Hoài Nam – Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân; Thiếu tướng Phan Văn Tường – Phó tư lệnh Quân khu 1; Trung tướng Vũ Văn Hiển – Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng;Thiếu tướng Vũ Anh Văn – Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc; Thiếu tướng Vũ Chiến Thắng – Cục trưởng Cục Đối ngoại – Bộ Quốc phòng; Thiếu tướng Ngô Quang Liên – Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng.

Thực tế không biết họ đã bàn thảo với nhau những gì nhưng qua lời khai báo của Phùng Quang Thanh trong bài trả lời phỏng vấn các nhà báo bên lề cuộc họp Quốc hội hôm 20 tháng 10 năm 2014 thì không người Việt Nam nào không khỏi buồn lo, căm tức.

Nhà báo Vũ Đông Hà nhận xét:

Phùng Quang Thanh đã chính thức hùa theo Bắc Kinh để xem những vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông không còn là của Việt Nam nữa mà là khu vực chung của các quốc gia cùng khai thác. Ông ta “mượn” Đài Loan, Philippines, Malaysia để biện hộ cho những hành vi xâm lược của Bắc Kinh trên biển Đông. Phùng Quang Thanh đã trở thành người phát ngôn Việt Nam tích cực nhất cho chủ trương tằm ăn dâu của Bắc Kinh: “biến vùng thuộc chủ quyền của Việt Nam thành vùng tranh chấp, biến vùng tranh chấp thành vùng khai thác của Trung Quốc, và sau cùng biến vùng khai thác chính thức thuộc chủ quyền không thể chối cãi của Trung Quốc””.

Mở đầu buổi phỏng vấn, Phùng Quang Thanh tí tởn khoe: “Chúng tôi sang thăm và làm việc thì bạn đón tiếp rất nhiệt tình, trọng thị, chu đáo và rất hữu nghị”.

Cái hoạt cảnh “nhử kẹo” này Thanh chẳng cần khoe thì tướng Nguyễn Trọng Vình, đại sứ lâu năm ở Trung Quốc cũng đã phác họa tử trước: “Chắc hẳn đoàn Bộ trưởng được đón tiếp trọng thị, khoản đãi hậu tình, có quà cáp đáng giá và được nghe những lời đường mật giả dối”.

Trả lời câu hỏi: “Thưa ông, trong các cuộc làm việc, hai bên có bàn về việc phía Trung Quốc đốc thúc nhiều hoạt động xây dựng trên khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam cũng như chuyện giàn khoan đã xảy ra ít tháng trước không?” Thanh nói:

Chúng tôi có trao đổi là bây giờ phải giữ nguyên hiện trạng trên biển Đông và phải thực hiện cho đầy đủ DOC. Tinh thần, quan điểm chung là không mở rộng tranh chấp, không cắm mới vào những nơi mà các bên chưa cắm”.

Chết rồi! Ai đã cử Thanh sang Trung Quốc để lạy lục, cầu xin bọn chúng “giữ nguyên hiện trạng” chiếm biển, chiếm đảo của mình?

Chẳng nhẽ Thanh đành cúi đầu dâng bái trước cái hiện trạng biển đảo của ta đã bị xâm lăng, chiếm đoạt rất đau lòng ư?

Chẳng nhẽ Thanh không biết rằng chúng đã chiếm Hoàng Sa và đang tiếp tục lấn chiếm Trường Sa của ta ư?

Từ cuối năm ngoái, Quân đội Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động xây dựng và cải tạo đất trên nhiều rạn san hô và đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa. Hình ảnh mà vệ tinh Mỹ thu được gần đây cho thấy các hoạt động của Trung Quốc đã làm tăng diện tích Đá Chữ Thập hơn 11 lần, từ 0,08 km vuông thành 0,96 km vuông. Đá Chữ Thập của ta bị Trung Quốc chiếm đóng phi pháp từ năm 1988 giờ đã trở thành đảo lớn thứ 5 ở Biển Đông sau đảo Phú Lâm, đảo Đông Sa, đảo Linh Côn và đảo Tri Tôn. Trên Đá Chữ Thập Trung Quốc đã xây dựng bãi đậu trực thăng, bến cảng, một tòa nhà hai tầng và một nhà kính 500 mét vuông. Hai trăm binh sĩ Trung Quốc đang đồn trú tại đó. Sau sân bay trên đảo Phú Lâm, Trung Quốc sẽ xây sân bay Đá Chữ Thập.

Đá Chữ Thập được coi có vị trí chiến lược quan trọng ở Biển Đông, cách đảo Trường Sa Lớn của Việt Nam khoảng 110 km.

Nhẽ ra khi đàm phán Thanh phải nói: tạm thời giữ nguyên hiện trạng, không mở rộng tranh chấp, không làm phức tạp thêm tình hình, Thế cũng đã là nhún lắm rồi. Nhún tạm thời nhưng nhất định sẽ chờ thời cơ đòi lại chủ quyền toàn vẹn.

Trả lời câu hỏi: “Vậy Trung Quốc có đưa ra cam kết hay lời hứa nào về việc giữ nguyên hiện trạng không, thưa ông?” Thanh cho biết:

Hứa thì bạn không hứa nhưng nói chung hai bên đều thống nhất phải thực hiện DOC – nghĩa là không mở rộng, làm phức tạp thêm tranh chấp. Còn hiện nay trên biển, nói thật là các bên đều có xây dựng. Đài Loan cũng xây dựng, Philippines cũng tiến hành xây dựng đường băng, Malaysia có xây dựng và Việt Nam cũng có hoạt động xây dựng. Đều là tôn tạo, nâng cấp, mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, cho các lực lượng đóng quân trên đảo để đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão, đảm bảo điều kiện sinh hoạt trên đảo”.

Sao lại lập lờ đánh lận con đen như vậy được? Sao lại hùm bà làng địch ta như vậy được! Tất cả như nhau ư? Tất cả đều được quyền tôn tạo để “tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, cho các lực lượng đóng quân trên đảo” ư? Nhân dân nào? Nhân dân hay thực dân? Lực lượng đóng quân nào? Đóng quân để giữ chủ quyền hay để xâm lăng?

Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh, đại biểu Quốc hội tỏ ra tỉnh táo khi ông nói:

Theo tôi, việc Trung Quốc cơi nới các đảo, xây dựng các công trình ở Trường Sa vừa rồi không phải vì mục đích kinh tế, cũng không phải vì mục đích nhân đạo, mà họ phục vụ mục đích và ý đồ độc chiếm biển Đông”.

Khi phóng viên bầy tỏ mối quan ngại sâu sắc qua câu hỏi: “Nhiều chuyên gia nêu ý lo ngại hướng xây dựng của Trung Quốc là để hình hành một căn cứ quân sự tấn công. Điều đó đe dọa mối an ninh hàng hải trong khu vực. Cảnh báo đó có đáng suy nghĩ, lo ngại?” thì Thanh lại cố tình bình thường hóa vấn đề: “Đó là các nhà nghiên cứu dự báo. Đương nhiên bên nào mà tiến hành xây dựng thì đó cũng là một căn cứ quân sự cả”.

Đó là dự báo của các nhà nghiên cứu, còn Thanh thì sao? Có đáng suy nghĩ, lo ngại? hay Thanh cho rằng địch xây căn cứ quân sự trên lảnh thổ mình là chuyện đương nhiên?

Nhảm nhí đến thế là cùng! Mù mờ đến thế là cùng!

Các hãng tin Trung Quốc thì tiết lộ:

Ngày 17/10, tại Bắc Kinh, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã cho biết: Hai bên đã đạt được ba nhân thức chung nguyên tắc về tiếp tục phát triển quan hệ giữa hai quân đội. Một là, thể theo phương châm 16 chữ “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, từng bước khôi phục và thúc đẩy quan hệ giữa hai quân đội phát triển lành mạnh. Hai là, tăng cường đoàn kết giữa hai quân đội, cung cấp sự bảo đảm vững chắc cho củng cố vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản ở hai nước, bảo vệ sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Ba là, tuân thủ các nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo hai Đảng và hai nước Trung-Việt, phát huy vai trò tích cực vì xử lý thoả đáng vấn đề trên biển, giữ gìn cục diện hoà bình và ổn định”.

Thì ra, họ đến vời nhau chủ yếu là để: “tăng cường đoàn kết giữa hai quân đội, cung cấp sự bảo đảm vững chắc cho củng cố vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản ở hai nước”,

Đến nước này thì không thể còn nén chịu mà phải chửi thẳng vào mặt họ: “Chúng mày là lũ gian tặc, là tội đồ dân tộc, nếu chưa treo cổ ngay chúng mày lên được thì nhân dân cũng sẽ đời đời nguyền rủa chúng mày”.

Nếu Thường Vạn Toàn nói sai sự thật thỉ Phùng Quang Thanh phải nghiêm túc cải chính ngay để không bị dư luận khẳng định là thằng phản bội tổ quốc.

Cách đây mấy năm Nguyễn Phú Trọng đã chính thức ngỏ lời mời công an Trung Quốc sang đàn áp nhân dân ta, khi cần (Tìm đọc “Mấy nghi vấn đối với tuyên bố chung Việt Nam- Trung Quốc do ông Nguyễn Phú Trọng ký kết” trong thư viện online “www.nguyenthanhgiang.com”). Có phải nay anh ta, với cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương, lại cử Phó Bí thư Quân ủy TW Phùng Quang Thanh mời Trung Quốc chuẩn bị sang chiến đấu với nhân dân Việt Nam để bảo vệ Đảng Cộng Sản Việt Nam!

Rõ ràng họ đang dụ voi về giầy mả tổ, chuẩn bị dâng giang sơn gấm vóc ta cho Tầu. Họ sẵn sàng lấy máu xương nhân dân ta chêm vững ngai vàng thống trị của họ (mà họ nhân danh Đảng).

Báo Quân đội Nhân dân thì đưa tin:

Chuyến thăm này (của Phùng Quang Thanh) nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện giữa quân đội hai bên và bàn các biện pháp thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương để duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác hữu nghị giữa nhân dân và Quân đội hai nước”.

Sao Phùng Quang Thanh lại ngồi với Thường Vạn Toàn để bàn các biện pháp thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương? Có phải Quân đội Trung Quốc sẽ sung sướng được “quốc phòng” Việt Nam và quân đội Việt Nam sẽ phải đổ máu ra mà quốc phòng cho Trung Quốc?

Cầu hòa, cầu thân thì phải cử lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ, Ngoại giao … đi đàm phán chứ sao lại cử quân đội đi tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện giữa quân đội hai bên. Ôm chặt lấy nhau thì còn tay nào cầm súng khi cần thiết.

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh dạy rằng: “Sinh ra bộ Quốc phòng là để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải quốc gia. Lẽ ra ông Bộ trưởng phải phân biệt rõ bạn, thù, ra sức tăng cường lực lượng quốc phòng về mọi mặt, luôn sẵn sàng chuẩn bị đối phó với tình hình xấu nhất theo tinh thần “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn” như dân tộc ta đã thực hiện”.

Không biết do phản bội tổ quốc hay vì quá non kém, ngu xuẩn mà Nguyễn Phú Trọng lại xuất tướng trong trường hợp này.

Nói về thao lược thì một người đàn bà Việt Nam làm thơ cũng biết khi bí phải ghểnh sỹ, còn tốt đầu phải để dành mà dú dí vô cung.

(Thơ Hồ Xuân Hương: “Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sỹ/ Chàng lừa thiếp đang khi thất ý/ Đem tốt đầu dú dí vô cung”).

Đằng nay, họ thấp cơ thua trí đàn bà thế này thì đúng như tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lo ngại: “Có một ông Bộ trưởng Quốc phòng như thế thì việc mất biển, đảo và mất nước là khó tránh khỏi”.

Từ nay đến Đại hội ĐCSVN thứ XII còn những hơn một năm nữa. Trong khoảng thời gian này không biết cái cặp đôi Nguyễn Phú Trọng – Phùng Quang Thanh sẽ còn gây biết bao nguy hại cho đất nước.

Chúng tôi khẩn thiết kiến nghị: “Truất phế ngay Nguyễn Phú Trọng và Phùng Quang Thanh” .

Hà Nội 24 tháng 10 năm 2014                                                                                                                Nguyễn Thanh Giang                                                                                                                                       Số nhà 6, ngõ 235, đường Trung Văn                                                                                                      Quận Nam Từ Liêm – Hà Nội

Read more

DCCT HN: Yêu cầu nhà cầm quyền tuân thủ pháp luật Việt Nam

VRNs (24.10.2014) – Hà Nội – Hôm qua, các tu sĩ và linh mục DCCT tại Hà Nội đã đồng ký tên trên một văn thư gởi đến ông Chủ tịch Tp. Hà Nội, và ông Phó chủ tịch quận Đống Đa, người đã gởi công văn đến DCCT hôm 21.10 vừa qua.

Trong văn thư, DCCT HN trình bày những suy luận và áp dụng sai pháp luật của văn bản do Ông phó chủ tịch quận Đống Đa trả lời, và yêu cầu nhà cầm quyền phải căn cứ trên pháp luật để xem xét giải quyết chứ không thể tự ý từ chối giải quyết bằng cách nói: “không có cơ sở xem xét giải quyết yêu cầu của Giáo xứ Thái Hà đòi giao trả quyền sử dụng khu đất Hồ Ba Giang”.

VRNs lưu ý, thẩm quyền giải quyết đất đai tôn giáo thuộc UBND tỉnh thành trực thuộc trung ương, không thuộc phạm vi trách nhiệm của quận huyện.

—-

 141024001

Kính gửi:         – Ông Nguyễn Thế Thảo – Chủ tịch UBND Tp. Hà Nội

-           Ông Phan Hồng Việt – Phó Chủ tịch UBND quận Đống Đa, Hà Nội

Chúng tôi, các linh mục tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế cùng toàn thể giáo dân Giáo xứ Thái Hà, đã nhận được Văn bản số 991/UBND-TTr đề ngày 21/10/2014 về việc trả lời đơn của linh mục Giuse Nguyễn Văn Phượng (“Văn bản số 991/UBND-TTr”) liên quan đến khu đất Hồ Ba Giang của Giáo xứ Thái Hà.

Sau khi đọc Văn bản số 991/UBND-TTr, chúng tôi thật sự thất vọng và phẫn nộ cách trả lời của Quý vị đối với các khiếu nại chính đáng và hợp pháp của chúng tôi. Quý vị gần như không hề xem xét đến các chứng cứ, các căn cứ pháp lý – mà đã rất nhiều lần, rất nhiều văn bản – chúng tôi gửi Quý vị. Quý vị chỉ nhai đi nhai lại các căn cứ hoàn toàn trái pháp luật, không phù hợp khách quan để áp đặt Giáo xứ Thái Hà phải chấp nhận hành vi “cố ý làm trái qui định về quản ký đất đai” của Quý vị.

Dù thừa nhận Quyền sử dụng hợp pháp của Dòng Chúa Cứu Thế và Giáo xứ Thái Hà – Hà Nội đối với diện tích “hơn 60.000 m2 đất (trong đó có 14.182 m2 đất Hồ Ba Giang)”, nhưng lại căn cứ vào “linh mục Vũ Ngọc Bích đã bàn giao sang Nhà nước quản lý từ năm 1961”; căn cứ vào khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 1, Điều 2 Nghị quyết số 23/2003/QH11 của Quốc Hội để gọi là “không có cơ sở xem xét giải quyết yêu cầu của Giáo xứ Thái Hà đòi giao trả quyền sử dụng khu đất Hồ Ba Giang”.

Giáo xứ Thái Hà – Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội (Dưới đây gọi tắt là: Nhà Thờ – và Tu viện Thái Hà”) trả lời Quý vị:

1.         Nhà Thờ – và Tu viện Thái Hà khẳng định Quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích khu đất Hồ Ba Giang. Xét thấy không cần thiết lặp lại các căn cứ pháp lý chứng minh nội dung này, chúng tôi đề nghị Quý vị xem lại các văn bản chúng tôi đã gửi Quý vị suốt những năm qua.

2.         Đại diện có thẩm quyền của Nhà Thờ – và Tu viện Thái Hà chưa bao giờ tự nguyện gọi là “bàn giao sang cho nhà nước quản lý”cách hợp pháp khu đất Hồ Ba Giang: Chúng tôi đã có văn bản trình bày rõ, xét về Luật giáo Hội Công Giáo lẫn Pháp luật Nhà nước thời điểm 1961, linh mục Vũ Ngọc Bích không phải là người có thẩm quyền để “bàn giao” khu đất Hồ Ba Giang (nếu có). Và Quý vị cũng chưa bao giờ trưng ra được căn cứ hợp pháp chứng minh Nhà nước đã làm thủ tục pháp lý cần thiết theo qui định pháp luật lúc bấy giờ để được “nhận bàn giao” khu đất Hồ Ba Giang từ linh mục Vũ Ngọc Bích “bàn giao sang” nếu có.

3.         Như vậy, chưa bao giờ Nhà nước đã có “quản lý” hợp pháp khu đất Hồ Ba Giang: nên không thể áp dụng các qui định sai luật về nội dung “Nhà nước đã quản lý…”. Quý vị căn cứ Luật Đất đai 2003 và Nghị quyết 23/2003/QH11 của Quốc Hội để cho rằng “Nhà nước không xem xét, không thừa nhận đòi lại đất … trong quá trình thực hiện chính sách đất đai…”. Chúng tôi yêu cầu Quý vị trưng dẫn ra “Chính sách đất đai” nào vào thời điểm năm 1961, Nhà nước qui định “được nhận bàn giao đất Tôn giáo đang sử dụng”? Trái lại, Quý vị lại cố tình bỏ qua các “chính sách đất đai” đối với Tôn giáo vào thời điểm này rằng: “Đối với các hội hè, Tôn giáo: chính sách cụ thể chỉ quản lý đối với diện tích đất cho thuê, cho người khác sử dụng nhờ …” nhưng phải “chú ý làm tốt về mặt chính trị …” và ngay cả “Đất cho thuê, cho sử dụng nhờ thuộc phạm vi nội tự….. thì Nhà nước cũng không quản lý đất này” (tiết 2, mục III Thông tư số 10-TTG ngày 04/2/1963 của Thủ tướng chính phủ). Và “các việc mua bán, cho … nhà cửa, ruộng đất bắt buộc phải trước bạ rồi mới sang tên trong… bộ và sổ thuế…”; “Trước khi đem trước bạ, văn tự phải đưa Ủy ban hành chính xã hay thị xã nhận thực chữ ký người mua bán, cho, nhận…” (Điều 1 và điều 2 Sắc lệnh số 85-SL ngày 29/2/1952 của Chính phủ nước VNDCCH).

Đã không được “giao đất” trong quá trình “thực hiện chính sách về quản lý nhà – đất và chính sách cải tạo XHCN…” hợp pháp thì không thể căn cứ khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai 2003 và Điều 2 Nghị quyết 23/2003/QH11 của Quốc Hội.

4.         Nhà nước “vì dân – do dân” thì không thể cưỡng đoạt trái phép tài sản Tôn giáo để “triển khai dự án xây dựng khu cây xanh, sân chơi và tiêu cảnh”; không thể sử dụng “biện pháp trái pháp luật” cho mục đích “đem lại lợi ích chung cho cộng đồng dân cư”. Đồng bào Công giáo chỉ có “lợi ích chung” khi “đất Tôn giáo” được sử dụng “đúng mục đích Tôn giáo”. Chỉ thị số 1940/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ: “Nhà, đất liên quan đến Tôn giáo mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng … trong trường hợp cơ sở Tôn giáo có nhu cầu chính đáng sử dụng nhà, đất đó vào mục đích Tôn giáo thì tùy trường hợp cụ thể, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trưng ương có thể xem xét giao nhà, đất với diện tích phù hợp…”

5.         Vì những căn cứ kể trên, mọi hành vi: qui hoạch, san lắp, xây dựng… trên tài sản hợp pháp của Nhà Thờ – và Tu viện Thái Hà tại khu đất Hồ Ba Giang của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào – nếu không được đồng ý của Nhà Thờ – và Tu viện Thái Hà đều là “đơn phương”, là “trái pháp luật”, và là “sử dụng không đúng mục đích”. Trong khi Nhà Thờ – và Tu viện Thái Hà – như đã trình bày rõ tại các văn bản – hiện đang rất bức thiết, có nhu cầu chính đáng sử dụng nhà – đất đã bị chiếm dụng trái phép này vào mục đích Tôn giáo.

Chúng tôi phản đối và dành quyền dùng mọi biện pháp cần thiết – theo qui định pháp luật – bảo vệ tài sản khu đất Hồ Ba Giang của Nhà Thờ – và Tu viện Thái Hà.

6.         Kiến nghị: Qua nội dung trên, Nhà Thờ – và Tu viện Thái Hà đề nghị Quý vị trong quyền hạn, chức năng – xem xét, giải quyết vụ việc công bằng, trên tinh thần tôn trọng sự thực, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức Tôn giáo, phù hợp với chỉ thị 1940/CT –Ttg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ có quyết định giao trả ngay khu đất Hồ Ba Giang của Nhà Thờ – và Tu viện Thái Hà chúng tôi.

Trước mắt dừng ngay các công việc qui hoạch, san lắp, xây dựng … làm thay đổi công năng, mục đích sử dụng Tôn giáo của khu nhà – đất tại khu đất Hồ Ba Giang.

Trân trọng,

Toàn thể Linh mục, Tu sĩ DCCT VN tại Hà Nội

Read more

Ngẫu tượng

VRNs (24.10.2014) – Sài Gòn – 1 Tx 1,5c-10

 

Anh em đã từ bỏ ngẫu tượng,

để phụng sự Thiên Chúa và chờ đợi Con của Người.

 

Lạy Chúa,

con đã từ bỏ ngẫu tượng,

để phụng sự một mình Thiên Chúa,

và nóng lòng chờ đợi Con của Người.

 

Xin cứu con khỏi đam mê thế tục,

hám lợi danh quyền thế trần gian,

xin gỡ con ra khỏi nỗi si cuồng,

độc ác gian tà xui con gây náo loạn,

xin đánh thức lương tâm con sự ngay thẳng,

sống công bằng và thẳng thắn với anh em,

đừng để con theo cám dỗ đơn hèn,

vẫy vùng lặn ngụp trong vũng lầy nhơ nhớp.

 

Lm. Vinh Sơn Phạm Trung Thành, CSsR.

Read more