Nhân chứng kể chuyện phiên tòa Bùi Hằng ở Đồng Tháp

VRNs (03.09.2014) – Sài Gòn – Huyền Trang, VRNs: Thưa ông Thịnh, được biết sau khi phiên tòa diễn ra khoảng hơn hai tiếng đồng hồ thì ông nhận được lệnh triệu tập dự khán vậy những thủ tục ông cần làm để được vào tham dự tòa là như thế nào?

Ông Phạm Nhật Thịnh: Tôi biết ngày 26.08 sẽ diễn ra phiên tòa của chị Bùi Hằng, cô Thúy Quỳnh và anh Văn Minh, tôi chờ đợi Tòa án gửi giấy triệu tập cho tôi vì tôi là một nhân chứng trong vụ án. Nhưng đến ngày xét xử, tôi vẫn không nhận được giấy triệu tập. Tuy tôi không nhận được giấy triệu tập, tôi vẫn đi tham dự phiên tòa, để quan sát.

Tôi và một số người đứng bên ngoài nghe ngóng phiên tòa vì lực lượng công an không cho bất kỳ ai được [tiếp cận] phiên tòa. Một lúc sau, Thượng úy Đoàn Quốc Trung, mang số hiệu 432080 mời tôi về phường làm việc. Lúc đó, tôi rất nghi ngờ vì không biết họ mời tôi đi để làm gì. Họ trả lời với tôi, mời tôi đến phường công an, để làm rõ giấy triệu tập. Tôi không đi và tôi nói, tôi phải đợi Luật sư. Họ nói, không phải đợi, họ đẩy tôi lên xe, chở tôi về công phường một làm việc.

Tại đây, chúng tôi trao đổi về giấy triệu tập. Họ hỏi tôi, “anh có giấy triệu tập tại sao không đi?”. Tôi khẳng định với họ, tôi không hề nhận được giấy triệu tập nào của Tòa án, nhưng họ lại đánh đồng giấy triệu tập của Cơ quan Cảnh sát Điều tra (CQCSĐT) với giấy triệu tập của Tòa án. Tôi giải thích với họ, tôi đã từng nhận được 2 giấy triệu tập của CQCSĐT nhưng tôi không đi, vì: Giấy triệu tập lần thứ nhất, họ mời tôi vào lúc 8 giờ ngày 06.03 phải có mặt tại CQCSĐT huyện lấp Vò, nhưng công an lại gửi cho tôi vào lúc 20 giờ ngày 05.03. Như thế làm sao tôi có thể thu xếp công việc để tôi đi được. Giấy triệu tập lần thứ 2, họ mời tôi trước đó mấy ngày nhưng lại ghi sai địa chỉ của tôi. Giấy triệu tập không ghi đúng địa chỉ thì làm sao tôi dám nhận và tôi đi được. Cuối cùng họ hỏi tôi, “Anh hay ai muốn anh vô tham dự phiên tòa?”. Tôi cầm bản tường trình, tôi ghi, “ý tôi muốn tham dự phiên tòa này”. Tôi ký tên và đưa cho họ. Một lúc sau, họ chở tôi đi.

Trên đường đi, tôi vô tình nghe được cuộc nói chuyện của các công an viên qua bộ đàm của họ rằng, “không cho thằng Thịnh vô tham dự phiên tòa. Bằng mọi cách phải giữ nó lại. Tại vì thằng này mà vô [Tòa án] sẽ làm đảo lộn những gì đã sắp xếp. Và nó có những lời nói kích động.” Tôi không hiểu những lời nói kích động ở đây là gì? Lúc đó, tôi cảm thấy trong người của tôi bất an, tại vì họ có những lời lẽ là “không cho thằng Thịnh được vào tham dự phiên tòa”, thì tôi và họ không quen biết nhau, không thù oán hay ghét nhau mà họ lại nói với tôi những điều đó. [Một lúc sau], họ đưa tôi tới cổng Tòa án và nói tôi ở đó đợi. Họ hỏi nhau là, ai đã ra lệnh cho tôi được vào [tham dự phiên tòa]. Họ đi trao đổi hết người này đến người khác. Đến nỗi chính bản thân tôi cũng không hiểu vì sao tôi lại được vào bên trong phiên tòa.

140902007

Huyền Trang, VRNs: Thưa ông Thịnh, ông là một người chứng kiến các diễn biến bên trong phiên tòa, vậy xin ông có thể chia sẻ những gì ông đã chứng kiến ra sao ạ?

Ông Phạm Nhật Thịnh: Diễn biến ngay từ đầu, tôi không biết vì lúc đó tôi chưa được vào tham dự, bởi vì tôi phải làm những thủ tục tôi vừa kể trên. Tôi vào Tòa án khoảng 10 giờ, Viện kiểm sát (VKS) đã đọc xong bản cáo trạng. Tôi vào gần giờ giải lao. Tôi và chị Hằng nhìn mặt nhau, hai chị em mừng lắm, bởi vì hơn 6 tháng trời mà hai chị em chưa nhìn thấy nhau. Tôi cảm thấy, chị Hằng rất bất ngờ vì sao tôi lại được vào bên trong phiên tòa, vì có những người có giấy triệu tập nhưng lại không được vào tham dự. Chính bản thân tôi cũng rất ngạc nhiên tại sao tôi lại được vào tham dự phiên tòa, trong khi tôi không có giấy triệu tập của Tòa án.

Khi phiên tòa nghỉ trưa, tôi có một ấn tượng đối với chị Hằng, đó là, khi công an dẫn chị từ vành móng ngựa ra xe tù thì chị đã hát bài “Mẹ ơi, đoái thương xem nước VN. Trời u ám bất công lan tràn…” Chị Hằng đã nhìn tôi thì ngay lúc đó tôi cảm thấy chị Hằng và tôi có một cái gì đó gần với nhau, liên kết với nhau lắm. Tôi là người Công Giáo, còn chị Hằng là người Phật Giáo.

Sau khi chị Hằng lên xe tù, tôi bị nhân viên an ninh giữ tôi lại, không cho tôi ra [khỏi Tòa án]. Họ làm khó dễ tôi và liên tục nói “anh đợi một tí”, nhưng tôi không hiểu họ muốn giữ tôi ở lại để làm gì. Lúc đó, may sao, tôi nhìn thấy Luật sư Hải và Luật sư Miếng thì tôi đã gọi hai Luật sư lại. Hai Luật sư tiến lại gần tôi hỏi nhân viên an ninh “anh và anh Thịnh có quen nhau không?”, anh an ninh này không trả lời và tôi liền trả lời “tôi không quen anh này”. Luật sư Miếng nói: “không quen, tại sao anh lại giữ anh Thịnh lại?”. Luật sư Hải tiếp lời: “Anh Thịnh không quen anh này, vậy anh kia làm trong bộ phận nào hay làm trong cơ quan nào?”. Thì anh ta đã bỏ đi và tôi tiếp tục đi theo các Luật sư ra khỏi Tòa án. Họ [các nhân viên an ninh] muốn giữ tôi lại để làm gì thì tôi không biết.”

Phần xét hỏi bị can và nhân chứng

Vào lúc 13 giờ 30, phiên tòa tái tục. Ông Chủ tọa mời chị Hằng lên chất vấn. Chị Hằng nói, “chúng tôi đi đến nhà chị Phượng [phu nhân ông Nguyễn Bắc Truyển], đi hàng một không gây rối trật tự. Khi chúng tôi đến đoạn đường Cầu Nông Trại đã có sẵn từ 100 đến 200 người phục kích trước ở đó, đánh đập chúng tôi, giựt đồ chúng tôi. Tôi đã yêu cầu công an đưa chúng tôi về công an xã hoặc đưa chúng tôi về cơ quan nào gần đó nhất” nhưng họ đã không đưa chúng tôi về những nơi chị Hằng yêu cầu. Chị Hằng nhìn thấy một CSGT, trên tay CSGT này đang cầm máy quay, thì chị Hằng mới nói với người này rằng, “anh là công an, tôi tin anh, anh giữ dùm tôi cái ipad”. Hôm phiên tòa, tôi mới biết người CSGT mà chị Hằng đã nhờ [vào ngày 11.02] tên là Sang.

Tiếp đến là Thúy Quỳnh. Cô ấy quả quyết, “chúng tôi vô tội. Chúng tôi đang đi trên đường thì bị tập kích… Chúng tôi hoàn toàn vô tội.” Cô Thúy Quỳnh nhấn mạnh chi tiết nón bảo hiểm của cô ấy [bị côn đồ] đập bể làm ba.

Sau đó là Văn Minh. Anh ấy kiên quyết “chúng tôi vô tội”.

Khi chủ tọa gọi tôi lên chất vấn vì tôi là người làm chứng nên tôi đã kể lại như sau: “Tôi cùng với Đoàn 20 người, tổng cộng Đoàn với tôi là 21 người. Chúng tôi đi đến đoạn đường Nông Trại, chúng tôi bị từ 100 người đến 200 người phục kích sẵn, chặn chúng tôi lại. Trong số những người này có khoảng mười mấy người cầm sẵn gậy gộc và tôi nhìn thấy có một người cầm gậy đã đập vào đầu cô Thúy Quỳnh, làm nón bảo hiểm bể ra làm ba. [Lúc này] chị Hằng yêu cầu đưa chúng tôi về công an xã để giải quyết, khám xét đồ đạc chúng tôi, nhưng họ dứt khoát không chịu, họ đòi khám xét chúng tôi ngay ngoài đường mà những người khám xét chúng tôi là những người mặc thường phục, không phải là công an. Chính vì vậy, chị Hằng mới la lớn “cướp, cướp, cướp…” Tôi nhìn thấy và tôi nghe thấy, chị Hằng có nói với nhân viên CSGT cầm máy quay phim đang quay chúng tôi, rằng: “tôi tin anh, tôi đưa cho anh cái ipad của tôi, anh giữ dùm tôi”. Khi tôi nói đến đoạn, chúng tôi đến đoạn đường cầu Nông Trại có hơn 100 đến 200 người, ông Chủ tọa hỏi tôi “lúc đó anh có đếm hay không thì làm sao mà anh có thể đoán được?”. Ngay sau đó, tôi liền quay xuống hội trường nhìn, và tôi quay lên, thưa với ông Chủ tọa rằng, “thưa ông, tôi ngó xuống hội trường để tôi [ước chừng]. Theo như tôi nhận định, [những người tham dự] phiên tòa ngày hôm nay là hơn 100 người. Còn vào ngày 11.02, ngày mà họ đã chặn chị Hằng và Đoàn chúng tôi thì nhiều hơn số lượng này. Đó là bằng chứng tôi đưa ra cho ông.”

Những sự việc trên tôi đã nói cách đây mấy tháng trên truyền thông thì trong phiên tòa chị Hằng và Thúy Quỳnh đều nói y chang như tôi. Có nghĩa là, tôi là một nhân chứng sống ở bên ngoài [nhà tù], còn chị Hằng, Thúy Quỳnh và Văn Minh là một bị can bị giam trong nhà tù nhưng lời khai của chúng tôi rất giống nhau. Ở đây tôi muốn nói là bằng chứng sự thật bà Bùi Hằng, Thúy Quỳnh và ông Minh không phạm tội. Tôi là nhân chứng, tôi cam đoan những người này không có tội, họ vô tội bởi vì tôi đã chứng kiến mọi việc xảy ra. Tôi khẳng định, họ vô tội.

Phần tranh luận của các Luật sư

Tôi xin nhắc lại những lời bào chữa của các Luật sư trong tòa là, chị Hằng không có động cơ gây rối và không có mức độ gây rối. Mục đích Đoàn 21 người chúng tôi đi xuống nhà chị Phượng [phu nhân ông Nguyễn Bắc Truyển để thăm hỏi gia đình]. [Hiện trường xảy ra sự việc là đoạn đường cầu Nông Trại] mà từ đoạn đường cầu Nông Trại xuống nhà chị Phượng còn xa lắm, nên chúng tôi không dừng lại mục đích ở cầu Nông Trại mà chúng tôi tiếp tục đi xuống nhà chị Phượng [với mục đích là thăm hỏi].

Về “mức độ gây rối”, Luật sư đưa ra, chúng tôi phải la lớn cỡ nào?… Trong khi đường xá ở thôn quê một bên là sông rạch, bên còn lại ruộng vườn của người dân và ngôi nhà của họ núp sau những mảnh ruộng này. Theo bản cáo trạng, con đường ở đó chỉ có khoảng từ 3 – 4 mét. Người dân thưa thớt. [khi xảy ra sự việc] những người dân hiếu kỳ ra xem lên đến ba mươi mấy người và họ cũng là nhân chứng trong vụ việc này. Luật sư hỏi các nhân chứng đó, họ trả lời “chúng tôi chỉ nghe thấy tiếng hú còi của công an nên chúng tôi chạy ra xem”, hoặc có một số người nói rằng “tôi đi đến đó, thấy đông người nên tôi gửi xe, tôi đi bộ ra đó, tôi xem”. Nói chung các nhân chứng ở Đồng Tháp là những người tò mò, hiếu kỳ lên đến ba mươi mấy người và Luật sư khẳng định, “chỉ vì thắc mắc như những người này cũng đủ làm cản trở giao thông”.

Các Luật sư nhấn mạnh “[làm giảm] sự tắc nghẽn giao thông do trách nhiệm của CSGT”. Trong biên bản, anh CSGT viên tên Sang khai, anh ấy được nghe có ùn tắc giao thông [trên đoạn đường cầu Nông Trại], nên anh ta cầm cái máy quay, quay từ đầu cho đến cuối sự việc, ùn tắc giao thông trên 2 tiếng đồng hồ”. Luật sư hỏi CSGT Sang “thời gian quay được bao lâu ?”. Anh ta nói “quay được hơn 6 phút”. Luật sư tiếp tục hỏi “trong biên bản, anh nói rằng, anh quay từ đầu đến cuối sự việc mà ùn tắc giao thông trên 2 tiếng đồng hồ thì tại sao anh chỉ quay được video có 6 phút?”. Anh trả lời: “Có đoạn tôi quay, có đoạn tôi không quay, cái nào chính thì tôi quay thôi.” Luật sư tiếp tục hỏi: “Anh là CSGT thì khi anh quan sát thấy đoạn đường đó bị tắc nghẽn giao thông tại sao anh không dùng biện pháp để lưu thông giao thông, hoặc giải tán đám đông…”. Nhưng CSGT tên Sang chỉ trả lời anh ta ôm cái máy quay thôi. Luật sư hỏi, “trách nhiệm của CSGT là gì?”. Anh CSGT tên Sang không trả lời được.

Về phía nhân chứng của công an, có hai người là công an viên, tôi không nhớ tên hai người này. Biên bản làm việc của họ làm việc với công an huyện Lấp Vò có nhiều chi tiết đáng chú ý, đó là, hai biên bản của hai công an viên này lập khác ngày, khác giờ, nhưng tại sao nội dung hai biên bản đó lại giống nhau từng dấu chấm, dấu phẩy. Luật sư cho rằng, hai biên bản này sinh đôi và có vấn đề.

Lúc đầu, CQCSĐT ghép anh Văn Minh vào tội “chống đối người thi hành công vụ”, vì anh Minh đã dùng tay phải của anh ấy đánh vào tay phải của một nhân viên cảnh sát. Nhưng anh Minh khẳng định, anh Minh không đánh ai hết và anh Minh cũng quả quyết, anh Minh hoàn toàn không biết nhân viên công an đang tố anh Minh là ai. Về phía Luật sư bào chữa, anh Minh không đánh ai, không có bằng chứng cho thấy anh Minh đánh người. Luật sư thắc mắc, “tại sao tội chống đối người thi hành công vụ lại được chuyển sang tội gây rối trật tự công cộng?”. Chủ tọa cho rằng, “tội gây rối trật tự công cộng nhẹ hơn so với tội chống đối người thi hành công vụ, nên anh Minh bị khởi tố tội gây rối trật tự công cộng.”

Trong phiên tòa, Luật sư có đề nghị đến Hội đồng Xét xử (HĐXX) phóng thích chị Hằng, Thúy Quỳnh và anh Minh ngay tại tòa vì họ vô tội.

Huyền Trang, VRNs: Các chứng cứ tòa đưa ra làm căn cứ kết tội bà Bùi Hằng, cô Thúy Quỳnh, ông Văn Minh thì ông so sánh như thế nào với những gì ông đã tận mắt chứng kiến vụ án này ngay từ đầu, xảy ra vào ngày 11.02.2014 vừa qua?

Ông Phạm Nhật Thịnh: Căn cứ của Tòa án đưa ra tôi không thấy đúng. Bởi vì sâu chuỗi từ đầu đến cuối, mục đích của chúng tôi là đi thăm gia đình bà Phượng [phu nhân ông Nguyễn Bắc Truyển] rồi trở về Sài Gòn, chứ không phải dừng lại đoạn đường cầu Nông Trại để gây rối trật tự công cộng. Căn cứ Tòa án đưa ra là mục đích chúng tôi gây rối công cộng trên đoạn đường cầu Nông Trại là hoàn toàn sai và chỉ có người điên mới làm như vậy. Tôi khẳng định, bà Hằng và 20 người trong Đoàn chúng tôi không có người nào điên cả. Bởi vì, ngày hôm đó, tôi chỉ mặc một cái áo tay dài màu đen và một cái quần, hành lý tôi cũng như mọi người không có gì hết, thì ý định của tôi và những người trong Đoàn là tới nhà chị Phượng thăm viếng rồi trở về lại Sài Gòn.

Huyền Trang, VRNs: Thái độ của chủ tọa thì như thế nào ạ?

Ông Phạm Nhật Thịnh: Ngay từ đầu, tôi rất hy vọng, ông Chủ tọa là người liêm minh chính trực, bởi vì ông ấy không để cho VKS cắt ngang những lời bào chữa của Luật sư… Ông Chủ tọa có một thái độ tốt. Sau khi, nghị án xong, ông ra tuyên bố bản án thì tôi thấy ông rất lúng túng, ngập ngừng và có vẻ bị ngượng ép.

Huyền Trang, VRNs: Sau khi tòa tuyên án bà Bùi Hằng bị 3 năm tù giam, ông Văn Minh bị 2 năm 6 tháng tù giam và cô Thúy Quỳnh 2 năm tù giam thì thái độ của bà Bùi Hằng, cô Thúy Quỳnh và ông Văn Minh ra sao?

Ông Phạm Nhật Thịnh: Khi Tòa tuyên án chị Hằng ba năm, tôi thấy chị Hằng quay xuống, chị cười… làm tôi nhớ đến bài hát “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, khiến tôi cảm phục tinh thần kiên cường của chị Hằng. Thúy Quỳnh hơi bỡ ngỡ trước bản án. Văn Minh có vẻ chấp nhận bản án. Người đau lòng nhất đó chính là cô Diễm Thúy, vợ anh Minh, chị khóc rất nhiều, chị chỉ muốn nhảy xuống đường nhưng nhiều người đã giữ chị lại… và chị xỉu.

Huyền Trang, VRNs: Ông cảm thấy như thế nào về bản án này?

Ông Phạm Nhật Thịnh: Trong người tôi rất bồn chồn. Tôi rất buồn và thất vọng vì tôi không hiểu nổi luật pháp VN, trong khi Luật sư và tôi đưa ra nhiều bằng chứng chứng minh chị Hằng, Thúy Quỳnh và anh Minh vô tội mà Tòa vẫn tuyên họ có tội. Những người vô tội, bị cướp tài sản, bị đánh mà lại bị kết án là có tội.

Huyền Trang, VRNs: Xin chân thành cám ơn ông Phạm Nhật Thịnh.

HT, VRNs

Read more

Điểm tương đồng giữa Do Thái giáo và Hồi giáo

VRNs (03.09.2014) – Sài Gòn - Do Thái giáo có trước Kitô giáo và Hồi giáo, chúng ta không thể xác định nước Hồi giáo nào có số tín đồ nhiều nhất thế giới. Đây là 10 điểm tương đồng giữa Do Thái giáo và Hồi giáo:

1. TÔN THỜ CÙNG MỘT THIÊN CHÚA

140902006Các khoảng trống như vậy trong kiến thức phổ thông (hoặc căn bản) về tôn giáo chỉ là dấu hiệu của sự xa lạ sâu xa và thông thường, với một số đặc điểm căn bản nhất giữa Do Thái giáo và Hồi giáo (nghĩa là không có gì là không quen với các điều căn bản của các tôn giáo lớn nổi trội trên thế giới, như Ấn giáo hoặc Phật giáo). Nhiều người có thể rất ngạc nhiên khi biết rằng Do Thái giáo và Hồi giáo thực sự có nền tảng chung. Chắc chắn rất nhiều sinh viên học các khóa về tôn giáo cộng đồng mỗi học kỳ cảm thấy ngạc nhiên khi biết có nhiều điều giống nhau và song song với nhau giữa các tín đồ Do Thái giáo và Hồi giáo.

Cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều là độc thần giáo, đạo chỉ thờ một thần, đó là Thiên Chúa. Nhiều người hiểu rằng các tín đồ Do Thái giáo và các Kitô hữu cùng tôn thờ một Chúa. Tuy nhiên, có thể họ không biết rằng các tín đồ Hồi giáo cũng tôn thờ một Chúa như họ.

Đức Allah không là tên riêng như một số thần linh khác (Odin, Thor, Zeus, Apollo, Vishnu, hoặc Shiva). Tên Allah không xác định riêng biệt, xa lạ, hoặc vị thần Ả Rập duy nhất. Theo nghĩa đen, Allah chỉ là từ ngữ Ả Rập có nghĩa là “Chúa”. Các Kitô hữu Ả Rập diễn tả Thiên Chúa là “Allah”, họ không có từ ngữ nào khác để diễn tả Thiên Chúa. Kinh Koran (Quran, Qu’ran) là sách thánh của Hồi giáo nói về Ađam, Nô-ê, Áp-ra-ham, Mô-sê, Đa-vít, Sa-lô-môn, Chúa Giêsu, và các nhân vật khác. Khi làm vậy, chính Kinh Thánh Hồi giáo xác định Chúa của Muhammad, Chúa của Đức Giêsu, và Chúa của Ít-ra-en đều là MỘT Thiên Chúa. Thiên Chúa của Hồi giáo cũng là Thiên Chúa của Do Thái Giáo và Kitô giáo, Allah cũng chính là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-sa-ác, và Gia-cóp.

Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo được coi là các tôn giáo truyền thống Áp-ra-ham, thế nên cả ba tôn giáo có chung nguồn gốc, bắt nguồn từ Tổ phụ Áp-ra-ham. Hồi giáo được Muhammad thiết lập tại Ả Rập hồi thế kỷ thứ 7 sau công nguyên, cả người Do Thái và Ả Rập đều được gọi là “người Sê-mít” (Semitic), là dòng dõi của Shem, con trai ông Nô-ê.

2. KHÔNG TIN CHÚA GIÊSU NHƯ KITÔ GIÁO

Kitô giáo là tôn giáo độc thần theo truyền thống Áp-ra-ham, cùng tin một Thiên Chúa tối cao và là anh em với nhau. Tuy nhiên, niềm tin Kitô giáo cũng duy trì đặc tính tôn giáo duy nhất về Đức Giêsu Kitô, điều này đưa ra một điểm tương đồng khác giữa Do Thái giáo và Hồi giáo: Không chấp nhận niềm tin Kitô giáo về Chúa Giêsu. Niềm tin Kitô giáo như vậy tin thần tính của Chúa Giêsu, sự sống lại của Chúa Giêsu, vai trò duy nhất và cương vị của Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ, các tín đồ Do Thái giáo và Hồi giáo không chỉ coi đó là sai lầm mà còn là phỉ báng. Kitô giáo tin rằng chính Ngôi Hai Thiên Chúa (Đức Giêsu Kitô) hóa thân làm người. Do Thái giáo và Hồi giáo coi đó là vô lý (họ cho rằng Thiên Chúa không mặc xác phàm), là tôn sùng ngẫu tượng (vì đặt con người ngang hàng với Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa).

Từ viễn cảnh của Do Thái giáo và Hồi giáo, việc tin Chúa Giêsu như vậy là mâu thuẫn với thuyết độc thần mà cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều cương quyết không nhượng bộ về đức tin. Đối với Do Thái giáo và Hồi giáo, Thiên Chúa là Một Ngôi duy nhất, chứ không là Ba Ngôi. Họ cho rằng Kitô giáo tin Chúa Ba Ngôi (Tam Vị Nhất Thể, Trinity) là không thể chấp nhận. Hồi giáo coi Chúa Giêsu chỉ là một ngôn sứ vĩ đại chứ không là gì hơn. Do Thái giáo có cái nhìn mơ hồ hơn về vấn đề này, họ coi Chúa Giêsu là vị cứu tinh thất bại, hoặc là một tiên tri giả. Đối với Do Thái giáo và Hồi giáo, Chúa Giêsu không là Đấng cứu độ, không là thần linh, không sống lại, không là Thiên Chúa nhập thể hoặc là Con Thiên Chúa theo bất kỳ nghĩa nào. Cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều đồng ý như vậy.

3. TIN CÓ CÁC THIÊN THẦN

Nhãn quan tôn giáo của Do Thái giáo và Hồi giáo đều có vị trí cho những vị không là phàm nhân, thường được đề cập là các “thiên thần”, các thụ tạo siêu nhiên được Thiên Chúa dựng nên để làm sứ giả của Ngài.

Cả sách Tanakh (Kinh Thánh Do Thái) và sách Talmud (văn chương giáo sĩ Do Thái) đầy các vấn đề liên quan cá hoạt động của các thiên thần, kể cả các Tổng lãnh Thiên thần Gáp-ri-en, Mi-ca-e, và các thiên thần vô danh khác. Cũng vậy, Kinh Koran nói về các thiên thần là các sứ giả của Thiên Chúa, kể cả Mikail (Mi-ca-e), Israfil (Ra-pha-e), và các thiên thần khác. Thật vậy, chính thiên thần Jibril (Gáp-ri-en) đã mặc khải kinh Koran cho Muhammad. Có điểm tương tự khác giữa Do Thái giáo và Hồi giáo là sự cảnh báo nghiêm túc về việc coi các thiên thần là các đối tượng để tôn thờ, hoặc coi các thiên thần là Thiên Chúa. Làm vậy là phạm tội thờ ngẫu tượng.

4. TIN LỜI CÁC TIÊN TRI VÀ SỰ MẶC KHẢI

Do Thái giáo và Hồi giáo đều tin rằng Thiên Chúa giao tiếp trực tiếp với loài người qua các ngôn sứ, hoặc những người được Thiên Chúa tuyển chọn làm “phát ngôn viên” để làm “nhịp cầu” giữa Thiên Chúa với cộng đồng. Ngược với cách dùng thông thường, thuật ngữ “ngôn sứ” không nói tới người dự đoán tương lai, mà chỉ có nghĩa là “người nói thay Thiên Chúa”.

Đối với Do Thái giáo, Mô-sê là ngôn sứ “cao cấp”, vì qua Mô-sê mà Thiên Chúa mặc khải các điều răn và giáo huấn, nền tảng của giao ước được Thiên Chúa thiết lập với dân Ít-ra-en trên Núi Sinai. Năm cuốn sách đầu tiên của Cựu ước gồm điều này, gọi là “Ngũ Kinh” (năm sách của Mô-sê, Torah). Phần thứ hai (hoặc phần giữa) gọi là Nevi’im (ngôn sứ), gồm các sách của các ngôn sứ trong lịch sử sau đó của dân Ít-ra-en như Ê-li-a, Ê-li-sa, Ê-dê-ki-en, I-sai-a, và các ngôn sứ khác.

Đối với Hồi giáo, Muhammad là ngôn sứ được Thiên Chúa mặc khải kinh Koran (đọc, kể), sách thánh mà các tín đồ Hồi giáo tôn kính là Lời Chúa và là mặc khải cuối cùng truyền lại cho nhân loại. Do đó, ngôn sứ Muhammad được người Hồi giáo coi là tiên tri cuối cùng làm phát ngôn viên của Chúa nói với nhân loại. Hồi giáo chân nhận tính thực tế và giá trị của các mặc khải trước mà Thiên Chúa nói với các dân tộc ngày xưa. Kinh Koran chân nhận Ađam, Nô-ê, Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp, Mô-sê, Đa-vít, Sa-lô-môn, Ê-li-a, Ê-li-sa, Ê-dê-ki-en, Đức Giêsu, và các nhân vật khác (kể cả các nhân vật không có trong Kinh Thánh) là các ngôn sứ đích thực mà Thiên Chúa nói với họ, ngay cả với Muhammad là người cuối cùng được thêm vào danh sách này, sau khi các lời tiên tri và mặc khải được khép lại.

Dĩ nhiên, họ có những điểm chung về mặc khải và tiên tri, nhưng vẫn có các điểm dị biệt quan trọng giữa ba tôn giáo theo truyền thống Áp-ra-ham. Hồi giáo chấp nhận tính hợp pháp của các mặc khải trước như vậy vì có cả trong Kinh Thánh của Do Thái giáo và Kitô giáo, các Kinh Thánh này bị “biến dạng” theo thời gian, cả Ngũ Kinh và Phúc Âm, cho tới chúng ta ngày nay, không còn phản ánh chính xác bản văn gốc của các mặc khải. Điều này nghĩa là Kinh Thánh của Do Thái giáo và Kitô giáo không còn nguyên bản, Do Thái giáo và Kitô giáo dựa trên Kinh Thánh đó, các tôn giáo bối rối với các sai lỗi. Theo quan điểm Hồi giáo, việc mặc khải kinh Koran là để sửa các sai lỗi đó và sự sai lệch có trong Kinh Thánh cổ – chẳng hạn, không công nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, Con Thiên Chúa, hoặc Đấng cứu độ phục sinh. Hồi giáo tin Đức Giêsu là một ngôn sứ vĩ đại hoặc sứ giả của Thiên Chúa, chứ không là Thiên Chúa hoặc thần linh.

Dĩ nhiên, Do Thái giáo hoàn toàn đồng ý với Hồi giáo rằng Đức Giêsu không là Đấng cứu độ hoặc Thiên Chúa nhập thể. Mặt khác, Do Thái giáo không đồng ý với Hồi giáo về việc tin Muhammad là ngôn sứ thật, hoặc kinh Koran là mặc khải thật. Do Thái giáo không đồng ý khi Hồi giáo nói rằng kinh Koran không thể sai lầm và để “sửa” các lỗi có trong Kinh Thánh của Do Thái giáo. Vì thế, chắc chắn vẫn có vấn đề quan trọng, ngay cả các vấn đề thần học không thể tranh luận mà người Do Thái giáo và Hồi giáo “không thống nhất”. Về nền tảng, cả Do Thái giáo và Hồi giáo đều tin một Thiên Chúa (cùng một Thiên Chúa), Đấng mặc khải chính Ngài cho nhân loại bằng cách nói với họ qua các ngôn sứ. Được Thiên Chúa chọn làm “phát ngôn viên” của Ngài, các ngôn sứ đã nói nhiều sứ điệp của Thiên Chúa đối với cộng đồng.

5. TIN CÓ SỰ SỐNG LẠI, NGÀY PHÁN XÉT, THIÊN ĐÀNG VÀ HỎA NGỤC

Các Kitô hữu cũng tin như vậy, và có sự tương đồng với cả ba tôn giáo theo truyền thống Áp-ra-ham. Các chi tiết đặc biệt có thể khác nhau trong mỗi tôn giáo hoặc giáo phái. Do Thái giáo, Kitô giáo, và Hồi giáo tin khác nhau một chút về những điều liên quan tư tưởng tôn giáo về sự sống đời sau và thận thế. Các tư tưởng được chấp nhận mới đầu được phát triển trong Do Thái giáo, rồi cả Kitô giáo và Hồi giáo đều thừa hưởng, tin rằng sẽ có ngày Thiên Chúa cho kẻ chết sống lại, và có cuộc phán xét các linh hồn. Những người công chính sẽ được hưởng phúc trường sinh trên Thiên đàng, còn những người không công chính sẽ bị phạt đời đời trong Hỏa ngục.

Có những cách hiểu khác nhau trong ba tôn giáo chính của người Sê-mít (không kể các nhóm phân chia của họ). Nhưng phần cốt lõi giữ vai trò quan trọng trong các dạng thần học riêng. Niềm tin về “những điều cuối cùng” cũng làm cho ba tôn giáo theo truyền thống Áp-ra-ham khác với các tôn giáo lớn trên thế giới, có thể duy trì niềm tin nền tảng và khác nhau về sự sống đời đời, hoặc số phận cuối cùng của con người (chẳng hạn, Ấn giáo, Phật giáo, và đạo Sikh tin có sự tái sinh).

6. COI GIÊRUSALEM LÀ THÀNH THÁNH

Dĩ nhiên Kitô giáo cũng coi Giêrusalem là thành thánh. Khó có thể nói tầm quan trọng chính đối với Do Thái giáo về thánh thánh Giêrusalem. Thủ đô của Ít-ra-en ngày nay, một trong các thành phố cổ xưa nhất thế giới, là Giêrusalem. Thành phố này đã được vua Đa-vít xây dựng gần 3000 năm trước (khoảng năm 1000 trước công nguyên). Vua Sa-lô-môn, con vua Đa-vít, đã xây dựng đền thờ đầu tiên tại đó, làm cho Giêrusalem là trung tâm tôn giáo của Do Thái, mặc dù Đền thờ này đã bị phá hủy hai lần (lần đầu bị người Babylon phá vào năm 586 trước công nguyên, được tái xạy dựng rồi lại bị người Rôma phá hủy vào năm 70 sau công nguyên). Ngày nay, Đền thờ Giêrusalem vẫn là nơi lịch sử tôn giáo có ý nghĩa đối với Do Thái giáo. Đền thờ Núi (nơi nguyên thủy của cả hai Đền thờ), với bức tường phía Tây nổi tiếng, gọi là “Bức tường Khóc than” (di tích cũ), hàng năm có hàng ngàn du khách đến cầu nguyện, người Do Thái coi đây là nơi thánh nhất thế gian này.

Thành phố Mecca ở Ả Rập Saudi là nơi sinh của ngôn sứ Muhammad, cũng là nơi nổi tiếng gọi là Hajj (chạy trốn, di trú) để hành hương tới Mecca (một trong năm “cột trụ” của Hồi giáo, mọi tín đồ Hồi giáo đều phải hành hương tới Mecca ít nhất một lần trong đời). Đối với các tín đồ Hồi giáo, Mecca là thành thánh. Gần đó có thành phố Medina, nơi có mộ của Muhammad và nơi trú ẩn mà Muhammad cùng các bạn đã trốn khi bị bách hại ở Mecca. Do đó, Medina được coi là thánh địa thứ nhì của Hồi giáo.

Đối với Hồi giáo, thành Giêrusalem là nơi thánh. Thật vậy, đó là nơi thánh thứ ba của Hồi giáo, sau Mecca và Medina. Hồi giáo chấp nhận sự mặc khải của Thiên Chúa đối với các ngôn sứ trong lịch sử, kể cả lịch sử theo Kinh Thánh, và Giêrusalem được coi là thành thánh đối với các ngôn sứ thời kỳ đầu.

Thành Giêrusalem cũng nổi bật trong câu chuyện về cuộc hành trình đêm và việc bay lên của Muhammad, Tổng lãnh Thiên thần Jibril (Gáp-ri-en) đã đưa Muhammad từ Mecca tới Giêrusalem (để cầu nguyện), rồi lại đưa ông từ Giêrusalem lên trời (để gặp gỡ và đối thoại với các tiên tri thời trước), chuyện xảy ra chỉ trong một đêm. Giêrusalem cũng là qibla (phương hướng) đầu tiên mà các tín đồ Hồi giáo được dạy trong khi cầu nguyện, tới mặc khải sau đó được Muhammad thuật lại cách đổi hướng để người Hồi giáo từ Giêrusalem tới Mecca. Ngày nay, Đền thờ Núi tại Giêrusalem là nơi thánh có Bức tường Than khóc phía Tây – di tích còn lại duy nhất của Đền thờ thứ nhì cùa Do Thái giáo – nhưng cũng là Đền thờ al-Aqsa của Hồi giáo, kể cả Mái vòm của Đền thờ Đá.

Đá này là Đá Tảng của Đền thờ mà người Do Thái tin là nơi thánh của Đền thờ, nơi cực thánh của Do Thái giáo. Hồi giáo tin Mái Vòm Đá tại Giêrusalem là nơi Muhammad đã được “di chuyển” trong đêm kỳ diệu. Đền thờ al-Aqsa gần đó là nơi cực thánh thứ ba để người Hồi giáo cầu nguyện, sau Đền thờ Vĩ đại tại Mecca (nơi hành hương) và Đền thờ Tiên tri tại Medina (có mộ Muhammad).

7. NAM GIỚI PHẢI CẮT BÌ

Trong Kinh Thánh, Áp-ra-ham được Thiên Chúa truyền lệnh cắt bì, dấu chỉ giao ước thánh được thiết lập. Yêu cầu này được truyền cho con cháu nam giới của Áp-ra-ham. Nam giới Hồi giáo cũng giữ luật này một thời gian dài. Theo “Ngũ Kinh” (năm cuốn dầu của Cựu ước), các trẻ nam Do Thái được cắt bì vào ngày thứ tám kể từ lúc sinh. Dịp này gọi là bris (tức là “giao ước cắt bì”), có cử hành nghi lễ tôn giáo. Việc này được làm bởi một chuyên gia Do Thái, gọi là mohel (người cắt bì), sau đó có một bữa ăn. Kinh Koran không đòi buộc cắt bì, nhưng việc cắt bì cho nam giới vẫn được kể đến trong bộ sựu tập hadith (do Muhammad biên soạn, các tín đồ Hồi giáo coi đó là bản hướng dẫn đáng tin cậy để hiểu và xử sự). Chính Muhammad cũng được cắt bì, kể cả các tiên tri trước cho tới Áp-ra-ham. Cắt bì nam giới (gọi là khitan hoặc tahara) là tiêu chuẩn trong Hồi giáo từ những ngày đầu. Đa số các tín đồ Hồi giáo coi đó là nghi thức bắt buộc, ngay cả những người không áp dụng cũng coi đó là việc xứng đáng và rất nên giữ.

8. CẦU NGUYỆN NHIỀU LẦN TRONG NGÀY

Dĩ nhiên, người ta có thể cầu nguyện bất cứ lúc nào, bao nhiêu lần cũng được. Nhưng trong Do Thái giáo và Hồi giáo, số lần cầu nguyện chính thức được ấn định mỗi ngày: Năm lần – sáng sớm, trưa, chiều, tối, và đêm. Việc cầu nguyện là một trong Năm Cột Trụ của Hồi giáo, bắt buộc đối với mọi tín đồ Hồi giáo. Khi cầu nguyện, họ phải tìm nơi thích hợp (nếu có nhà thờ thì tốt nhất, nhưng không cần thiết). Năm lần cầu nguyện trong ngày là việc bắt buộc, nếu ai bỏ vì lý do gì thì phải cầu nguyện bù vào. Khi cầu nguyện, các tín đồ Hồi giáo phải quay mặt hướng về thánh địa Mecca (ở Ả Rập Saudi), và cầu nguyện theo nghi thức. Ngôn ngữ chính là tiếng Ả Rập, ngôn ngữ của kinh Koran.

Cũng vậy, người Do Thái cũng ấn định số lần cầu nguyện trong ngày – sáng, chiều, và tối. Cả Do Thái giáo chính thống và Do Thái giáo bảo thủ đều bắt buộc cầu nguyện mỗi ngày ba lần, còn Do Thái giáo cải cách và Do Thái giáo kiến thiết lại không bắt buộc, cho phép tùy ý mỗi cá nhân.

9. GIỮ LUẬT ĂN UỐNG

Người ta đa số đều không biết rằng các tín đồ Do Thái giáo giữ “luật kosher”, nghĩa là họ chỉ ăn thực phẩm “kosher”. Chẳng hạn, phải tránh thịt hèo vì thịt heo không là “thực phẩm kosher”. Tương tự, các tín đồ Hồi giáo cũng chỉ ăn các thực phẩm “halal” (được phép), và tránh các thực phẩm “haram” (cấm). Tại Hoa Kỳ, những nơi có nhiều người theo Do Thái giáo và Hồi giáo, người ta thường ghi ở các cửa hàng: Thịt kosher hoặc tạp hóa halal. Chữ kosher nghĩa là “đúng luật”. Luật Do Thái giáo rút ra từ “Ngũ Kinh”, cho biết loại thực phẩm nào là “đúng luật”. Trong thực tế, điều này có thể khá phức tạp, nhưng những người giữ luật Do Thái giáo phải giữ – gọi là luật kashrut (đúng, riêng) – được liệt kê trong “Ngũ Kinh”. Các thực phẩm cấm như thịt heo và hải sản (cua, tôm, sò, ốc,…) vì chúng “không tinh sạch”. Các loại thực phẩm khác phải được chuẩn bị theo “đúng nghi thức”. Chẳng hạn, các loại máu phải rút ra khỏi thịt trước khi nấu hoặc ăn (loại thịt “kosher” bảo đảm quá trình này), thịt và sữa không được trộn hoặc ăn chung với nhau (loại hamburger thì không sao, nhưng thịt băm có phô-mai thì không là thực phẩm “kosher”). Nhiều gia đình Do Thái có các loại dụng cụ riêng (dao, bình, hũ, nồi, soong, chảo,…), đôi khi dành riêng biệt cả bồn rửa và tử lạnh, làm vậy để bảo đảm không phạm luật. Tuy nhiên, những người theo Do Thái giáo chính thống không giữ nghiêm ngặt như vậy, nhiều người theo Do Thái giáo cải cách vẫn giữ đúng nghiêm luật.

Hồi giáo cũng có một số luật về ăn uốgn. Kinh Koran cấm ăn thịt heo và uống rượu (kể cả các chất có men). Luật Hồi giáo rút ra các hướng dẫn từ kinh Koran, phân biệt các dạng thực phẩm “halal” và “haram”. Rượu, thịt heo, máu, động vật giết mổ không đúng cách, và một số thực phẩm được phân loại là “haram” hoặc không được phép. Có những điểm tương đồng và dị biệt giữa các thực phẩm “kosher” và “halal”. Chẳng hạn, cả những người Do Thái giáo và Hồi giáo đều không được ăn thịt heo. Mặt khác, người Do Thái giáo không được ăn hải sản, nhưng đa số người Hồi giáo lại được ăn (tùy giáo phái). Ngược lại, người Hồi giáo không được uống rượu, nhưng người Do Thái giáo lại có thể uống rượu.

10. TÁCH RIÊNG NAM VỚI NỮ KHI THỜ PHƯỢNG

Trong Do Thái giáo, việc ngồi riêng như vậy còn tùy giáo phái. Tại các nhà thờ Do Thái giáo chính thống, nam giới và nữ giới Do Thái có chỗ riêng biệt (phụ nữ thường ở trên lầu), tại các nhà thờ Do Thái giáo cải cách thí không phân biệt nam nữ.

Trong Hồi giáo, luôn có sự phân biệt giới tính trong khi cầu nguyện, nhưng tục lệ đặc biệt này thay đổi tùy văn hóa và tùy nơi. Thường chỉ có nam giới cầu nguyện tại các đền thờ, còn phụ nữ cầu nguyện ở nhà. Có nơi phụ nữ có thể cầu nguyện ở đền thờ, nhưng thường ở phòng cầu nguyện phía sau (khác chỗ với nam giới) hoặc ở một nơi riêng khác, đôi khi là nơi khuất, hoặc ở trên lầu.

Dĩ nhiên có những điểm tương đồng giữa Do Thái giáo và Hồi giáo có thể ngoài danh sách này. Đối với cả hai tôn giáo, một ngày bắt đầu từ lúc mặt trời lặn, chứ không là nửa đêm hoặc rạng đông. Mỗi tôn giáo có âm lịch riêng, khác hẳn với dương lịch tiêu chuẩn theo Tây phương hoặc lịch Grê-gô-ri-an. Để tỏ lòng sùng đạo, đàn ông Do Thái giáo và Hồi giáo thường đội mũ chỏm, gọi là “yarmulkes” (tiếng Yiddish) hoặc “kippahs” (tiếng Do Thái), còn đàn ông Hồi giáo thường dùng “mũ cầu nguyện”, gọi là “kufi” hoặc “taqiyah”. Có thể hai tôn giáo này không khác nhau về những điểm cơ bản.

TRẦM THIÊN THU

(Việt theo Beliefnet.com)

Read more

Cách bộ trưởng nói về Ngày lao động

VRNs (03.09.2014) – Washington DC, USA – Thứ hai đầu tháng chín hàng năm là Ngày Lao Động tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.

Nhà Trắng gởi vào hộp thư của VRNs là thư của ông Bộ trưởng Bộ lao động Tom Perez. Đọc lá thư, chúng tôi nhận thấy khác xa với các diễn văn của quan chức Việt Nam.

VRNs xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

—-

140902004

 

Chào tất cả mọi người,

Ngày lao động này, tôi đang suy nghĩ về Austraberta.

Tôi đã ăn sáng tại nhà Austraberta Rodriguez ở Houston cách đây hai tuần. Cô ấy làm người gác cổng trong hơn 30 năm, và trong suốt thời gian đó, tiền lương của cô thấp dưới mức nghèo. Từng xu cô ấy kiếm được đã phải chi trả cho tiền học phí cơ bản của các đứa trẻ. Hiện nay, cô vẫn chỉ kiếm được mức lương tối thiểu – ở Texas – là $ 7,25 một giờ.

Austraberta nói với tôi trong bữa ăn sáng rằng việc tăng mức lương tối thiểu của quốc gia có nghĩa là bánh mì có nhiều hơn cho gia đình. Cô cho biết thêm một vài đô la cho một giờ sẽ là điều “không thể tin được”. Việc tăng lương tối thiểu không chỉ làm cho cuộc sống của Austraberta tốt hơn một chút. Nó còn sẽ cải thiện cho các con, cháu của cô.

Ngày lao động, chúng ta mừng lễ tất cả công nhân trên toàn quốc đã đóng góp sức mình cho sự thịnh vượng của chúng ta. Bởi vì cho dù bạn làm bánh kẹp hoặc người phục vụ, cho dù bạn đang lái xe bus hay đi trên nó, cho dù bạn đang lau sàn nhà hoặc làm việc trong văn phòng sạch sẽ, bạn là người góp một phần mình.

Vì vậy, ngày hôm nay, nếu bạn đã sẵn sàng cho một quốc gia gần 28 triệu người Mỹ được hưởng lợi từ một mức lương tối thiểu là $ 10,10 / giờ, không chỉ cho Austraberta, thì bạn hãy thêm tên của bạn ở đây.

Nhà cô Austraberta Rodriguez ở Houston

Nhà cô Austraberta Rodriguez ở Houston

Một mức lương tối thiểu cao hơn không chỉ giúp những người lao động như Austraberta. Nó cũng giúp các doanh nghiệp. Nó cải thiện tinh thần nhân viên, năng suất, và dịch vụ khách hàng. Nó làm giảm chi phí đào tạo và các trường hợp vắng mặt.

Bên cạnh đó, khi các gia đình người lao động có nhiều tiền hơn trong túi của họ, họ bơm nó trở lại cho nền kinh tế địa phương. Họ chi tiêu vào hàng hóa và dịch vụ để sinh sống. Điều đó sẽ giúp các doanh nghiệp cung cấp những hàng hóa và dịch vụ phát triển. Và tạo ra nhiều việc làm hơn.

Tất cả đều bắt đầu với thực hiện tốt cam kết cơ bản: Nếu bạn làm việc chăm chỉ và tuân giữ các quy tắc, bạn không cần phải tự nâng cao gia đình nghèo đói của bạn.

Tổng thống đã làm phần mình, với một Sắc lệnh tăng lương tối thiểu lên $ 10,10 cho người lao động ở các khu vực tư nhân trong cả liên bang.

Bạn có thể làm một phần của bạn, để hỗ trợ cho những người như Austraberta, như Folks, như LeDaya, như Holley, như Aaron.

Hôm nay, hơn một thế kỷ sau khi Ngày lao động ra đời, chúng ta vẫn chưa xác định được sự thật “ra đời” của nó. Bởi vì ngày này không phải cho một người, mà cho mỗi người Mỹ làm việc chăm chỉ.

Bạn có thể làm điều đó ngay bây giờ bằng cách đứng lên và nói bạn đã sẵn sàng để thưởng cho công việc khó khăn với một mức lương công bằng cho tất cả mọi người.

Ngày Lao động hạnh phúc. Hãy tiếp tục đứng với công nhân của chúng ta không chỉ vào ngày thứ hai đầu tiên trong tháng Chín, nhưng tất cả các ngày trong năm.

Tom Perez

Bộ trưởng Bộ Lao động 

PV. VRNs lược ý

Read more

Ls. Trần Thu Nam: Phiên xử bà Bùi Hằng sai phạm nghiêm trọng Luật tố tụng hình sự

VRNs (02.09.2014) – Sài Gòn – “Trong phần đối đáp, các Luật sư (Ls) đưa ra nhiều chứng cứ cho thấy, Hồ sơ trong vụ việc này có dấu hiệu sai lệch Hồ sơ, như sự sắp đặt các lời khai của các nhân chứng mà là công an, công an giao thông; Cơ quan điều tra có dấu hiệu sắp đặt Hồ sơ, chế biến Hồ sơ mang tính chất bất lợi cho các bị cáo; Sai phạm rất nhiều trong thủ tục tiến hành tố tụng như không triệu tập người làm chứng, không đối chất, không làm rõ các tình tiết mà bị cáo khai ra, ví dụ như khai ra những người đánh đập các bị cáo tại hiện trường ngày 11.02; Sự việc tố cáo cơ quan điều tra đánh đập, ép cung. Có những chứng cứ rõ ràng. Rồi bà Bùi Thị Minh Hằng tố cáo các cơ quan điều tra của huyện Lấp Vò có hành vi đánh bà trong hiện trường ngày 11.02. Bà làm nhiều đơn tố cáo khiếu nại và cho đến khi phiên tòa diễn ra, chưa có sự trả lời của một cơ quan tiến hành tố tụng nào. Như vậy đã vi phạm nghiêm trọng [Luật tiến hành tố tụng].” Ls Trần Thu Nam, một trong những Ls bào chữa cho bà Bùi Hằng, nhận định về vụ án bà Bùi Hằng, cô Thúy Quỳnh và ông Văn Minh.

Sau đây xin mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn giữa phóng viên VRNs với Ls Trần Thu Nam.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Ls, ông có thể chia sẻ cho mọi người được biết diễn tiến của phiên tòa bà Bùi Hằng, cô Thúy Quỳnh và ông Văn Minh như thế nào ạ?

140902003Ls Trần Thu Nam: Phiên tòa ngày 26.08 là một phiên tòa có nhiều cảm xúc. Thứ nhất, phiên tòa mang một cái riêng biệt, nó không giống như các phiên tòa bình thường, tuy rằng tội danh xét xử các bị cáo không liên quan đến tội an ninh chính trị. Thế nhưng điều đầu tiên việc an ninh được thắt chặt, tất cả những người không được phép thì không được vào phiên tòa. Trong 3 bị cáo chỉ có 2 bị cáo là anh Văn Minh và chị Thúy Quỳnh có người nhà. Anh Minh có vợ [bà Diễm Thúy] đồng thời là người làm chứng có mặt trong phiên tòa. Mẹ của chị Thúy Quỳnh được vào tham dự. Còn con của chị Bùi Hằng không được vào tham dự phiên tòa. Điều thứ hai, các Ls không được mang máy tính vào trong phiên tòa. Tất cả việc đi ra đi vào phiên tòa được giám sát kỹ lưỡng, Ls phải đi qua cổng từ để kiểm tra xem có thẻ kim loại, máy ghi âm, hay ghi hình gì hay không. Tôi thấy phiên tòa này không bình thường ở chỗ là việc an ninh bị giám sát rất chặt chẽ.

Thứ hai, khi khai mạc phiên tòa, thiếu nhiều nhân chứng – biết rõ sự việc và đi cùng với các bị cáo hôm xảy ra sự việc vào ngày 11.02 – nhưng đã vắng mặt. Tôi không hiểu lý do vì sao họ lại vắng mặt. Một số nhân chứng là anh Huỳnh Anh Tú và anh Phạm Nhật Thịnh có đi cùng với các Ls, nhưng sau đó chỉ có anh Thịnh được vào còn anh Tú không được, dù rằng các Ls đã kiến nghị Hội Đồng Xét Xử (HĐXX) cho anh Tú vào nhưng kiến nghị đó không được xem xét. Sau khi các luật sư thấy vắng mặt nhiều nhân chứng, sẽ không đảm bảo khách quan, các Ls đã kiến nghị hoãn phiên tòa để mời các nhân chứng vào, thì HĐXX hội ý trong vòng 10 phút nhưng HĐXX quyết định tiếp tục phiên tòa chứ không hoãn phiên tòa. Đây là điểm đặc thù, chúng tôi có thể thấy rằng, phiên tòa sẽ không được đảm bảo khách quan.

Thứ ba, ngay khi bị cáo Bùi Thị Minh Hằng vừa xuống xe, bà có những thái độ điềm đạm, chững chạc và tươi cười. Khi bị cáo Bùi Hằng đi vào bên trong phiên tòa, có hát một bài hát liên quan đến một người mẹ, một người phụ nữ nhưng tôi lại không nhớ rõ nội dung lắm. Sau khi kết thúc phiên tòa, bà cũng không có phản ứng tiêu cực như la hét, chửi bới nhưng bà luôn nở một nụ cười trên môi. Bà Bùi Hằng tuyên bố sẽ tiếp tục kháng cáo, tiếp tục tuyệt thực để phản đối bản án [bất công] của tòa án tỉnh Đồng Tháp. Khi bà từ vòng mánh ngựa [đi ra] xe tù thì bà lại tiếp tục hát một bài hát. Đó là những cảm xúc mà Ls cảm thấy không gặp được bất kỳ trong một phiên tòa nào.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Ls, xin Ls có thể chia sẻ phần diễn biến nội dung của phiên tòa ra sao ạ?

Ls Trần Thu Nam: Sau khi kết thúc phần xét hỏi, bắt đầu nổ ra những sự việc mà Hồ sơ chưa được đề cập đến, như có nhân chứng nói, công an không mặc sắc phục [có hành vi] giựt đồ, xét đồ của bị cáo Hằng. Một nhân chứng đã trả lời như vậy sau khi Ls hỏi.

Trong phần đối đáp, các Ls đưa ra nhiều chứng cứ cho thấy, Hồ sơ trong vụ việc này có dấu hiệu sai lệch Hồ sơ, như sự sắp đặt các lời khai của các nhân chứng mà là công an, công an giao thông; Cơ quan điều tra có dấu hiệu sắp đặt Hồ sơ, chế biến Hồ sơ mang tính chất bất lợi cho các bị cáo; Sai phạm rất nhiều trong thủ tục tiến hành tố tụng như không triệu tập người làm chứng, không đối chất, không làm rõ các tình tiết mà bị cáo khai ra, ví dụ như khai ra những người đánh đập các bị cáo tại hiện trường ngày 11.02; Sự việc tố cáo cơ quan điều tra đánh đập, ép cung. Có những chứng cứ rõ ràng. Rồi bà Bùi Thị Minh Hằng tố cáo các cơ quan điều tra của huyện Lấp Vò có hành vi đánh bà trong hiện trường ngày 11.02. Bà làm nhiều đơn tố cáo khiếu nại và cho đến khi phiên tòa diễn ra mà vẫn chưa có sự trả lời của một cơ quan tiến hành tố tụng nào. Như vậy đã vi phạm nghiêm trọng [Luật tiến hành tố tụng].

Thứ hai, các Ls đã kiến nghị phải xem xét các vi phạm tố tụng của các cơ quan điều tra trong quá trình bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, và nhờ người khác bào chữa cho bị can bị cáo, cũng như quyền thực hiện của các Ls không được đảm bảo bởi vì các Ls không nhận được kết luận điều tra của cơ quan điều tra, nhưng mọi sự vẫn rơi vào yên lặng. HĐXX cho các Ls tranh luận một cách rất thoải mái, nhưng cuối cùng các ý kiến của các Ls không được xem xét. Cho nên bản án đưa ra rất bức xúc và bất ngờ.

Huyền Trang, VRNs: Vậy thưa Ls, phản ứng của bà Bùi Hằng, cô Thúy Quỳnh và ông Văn Minh với kết quả của tòa tuyên ra sao? Và ông bình  luận như thế nào về kết quả bản án này ạ?

Ls Trần Thu Nam: Kết quả bản án làm cho các Ls rất bất ngờ. Phản ứng của bà Bùi Hằng rất bình tĩnh, điềm đạm, nở một nụ cười trên môi. Sau khi kết thúc phiên tòa, bà Bùi Hằng hát một bài hát khi đi từ vành móng ngựa ra xe tù. Cô Thúy Quỳnh im lặng và tỏ ra sự bình tĩnh, đón nhận kết quả đó. Còn anh Văn Minh nói với vợ rằng, không có vấn đề gì cả, 2 năm 6 tháng nhanh thôi. Sự thật là một bản án nhục nhã nhưng người ta có thể chấp nhận được. Bên cạnh đó, chắc chắn ba người sẽ kháng cáo. Phiên tòa chưa dừng lại ở phiên sơ thẩm mà sẽ còn diễn ra ở phiên tòa phúc thẩm.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Ls, vào lúc 13 giờ 30 ngày 26.08, phiên tòa tái tục thì Tòa án cũng chỉ cho triệu tập 2/17 nhân chứng (bà Thùy Trang và ông Thịnh) vào tham dự phiên tòa. Việc này ảnh hưởng như thế nào đến phần xét xử và phần tranh luận của Tòa án ạ? Những nhân chứng này có được mời phát biểu tại tòa không? Và họ đã nói gì?

Ls Trần Thu Nam: Có ba nhân chứng được tham dự phiên tòa. Ban đầu chỉ có hai nhân chứng là vợ của anh Văn Minh là bà Diễm Thúy và cô Thùy Trang. Sau đó, anh Thịnh được vào tham dự phiên tòa. Ba nhân chứng này được tòa hỏi về sự việc và họ trình bày diễn biến sự việc cũng giống như ba bị cáo là không gây rối trật tự, có những người khác đánh đập họ và ngăn chặn họ. Thế nhưng, tất cả những lời khai của các nhân chứng có lợi cho bị cáo không được xem xét, không được nhắc đến trong bản án. Cũng như ngay từ ban đầu không được nhắc đến trong kết luận điều tra và trong bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Ls, việc Tòa án gửi giấy triệu tập cho 10 nhân chứng nhưng chỉ hai người vào tham dự là bà Diễm Thúy và cô Thùy Trang, sau đó là ông Thịnh không có giấy triệu tập lại được vào tham dự phiên tòa vào khoảng hơn 10 giờ sáng ngày 26.08, còn các nhân chứng khác không được tham dự phiên tòa, theo Luật sư thì hành vi vi phạm Luật Tố Tụng Hình Sự, bất chấp cả đề nghị của Ls, thì mang ý nghĩa gì ạ?

Ls Trần Thu Nam: Nó mang ý nghĩa là một phiên tòa không công bằng. Nói một cách đơn giản là một phiên tòa có một bản án không công bằng.

Huyền Trang, VRNs: Thưa Ls, xin ông có thể tóm tắt nội dung vụ án bà Bùi Hằng, cô Thúy Quỳnh vào ông Văn Minh là như thế nào ạ?

Ls Trần Thu Nam: Theo lời khai của những người đi cùng với Đoàn, gồm có 21 người đi từ An Giang sang huyện Lấp Vò để đến nhà ông Nguyễn Bắc Truyển thì khi đi đến đoạn đường [nông thôn liên xã thuộc khu vực cầu Nông Trại, xã Mỹ An Hưng, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp], mọi người [bị cáo và các nhân chứng] khai rằng, đã gặp một nhóm người không mặc sắc phục lao ra, ngăn chặn, cướp điện thoại, đánh đập những người đi cùng với Đoàn. Sau đó, công an đến quay phim, chụp ảnh và bắt tất cả những người này về công an huyện. [Tại đó công an] lập biên bản, thả 18 người và bắt giữ 3 người. Sau đó, họ [công an] khởi tố vụ án và bị can, điều tra về việc phạm tội “gây rối trật tự công cộng”.

Huyền Trang, VRNs: Xin chân thành cám ơn Ls Trần Thu Nam

Trong phiên tòa sơ thẩm ngày 26.08, bà Bùi Thị Minh Hằng bị kết án 3 năm tù giam, ông Nguyễn Văn Minh bị kết án 2 năm 6 tháng tù giam và cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh bị kết án 2 năm tù giam với tội danh “gây rối trật tự công cộng”theo Điều 245, Bộ Luật hình sự, tại tòa án nhân Dân tỉnh Đồng Tháp.

Được biết, Trong vụ án của bà Bùi Hằng có 17 nhân chứng quan trọng (thực tế là 18 nhân chứng nhưng ông Huỳnh Anh Trí – một trong những nhân chứng đã qua đời) nhưng chỉ có 10/ 17 nhân chứng nhận được giấy triệu tập.

Huyền Trang, VRNs

Read more

Đồng Tháp ký sự (2)

VRNs (02.09.2014) – Đồng Tháp – Quy chụp và đối đầu

(Xem phần 1 ở đây)

14090200Tôi xin kể một chuyện ngoài lề. Đó là sau khi ra khỏi đồn, mở điện thoại, tin nhắn tôi nhận được nhiều nhất là “Anh có bị đánh không?”. Tôi hiểu “bị đánh” là điều mọi người lo lắng hơn cả nhưng ngay từ khi đến toà, đó là điều tôi ít lo nhất.

Lúc bị đưa lên xe (lần hai), tôi chỉ quan tâm tới ba điều. Một là chuyện chiếc balo của Paulo Thành Nguyễn, không hiểu họ có giở trò gì từ đó không; hai là sự quy chụp tội “chống người thi hành công vụ” với mấy anh em can đảm giơ máy ảnh; và ba là bản án của chị và anh Minh, em Quỳnh – lý do mà chúng tôi có mặt ở đây hôm ấy.

Nếu tiếp xúc với công an vài lần, bạn sẽ thấy họ suy nghĩ khác hẳn chúng ta – rất phiến diện và mang tính quy chụp. Suy nghĩ của họ được phản ánh theo đúng khẩu hiệu của chính họ: “Còn Đảng còn mình”. Cấp trên bảo chúng tôi là phản động thì nhất định sẽ là phản động, không có cách nào khác. Điều đó ăn sâu vào suy nghĩ và hành động của từng đối tượng tiếp xúc với chúng tôi, từ dân phòng, cảnh sát cơ động, công an phường đến an ninh điều tra. Sẽ không có gì là khó hiểu về các chứng cứ nguỵ tạo cho vụ án chị Hằng, hay khả năng một trò mèo khác với Paulo Nguyễn hoặc những anh em bị quy tội chống người thi hành công vụ. Cũng không loại trừ một kịch bản nào đó dành cho tôi và những người khác.

Trên xe cùng Hoàng Bùi và một bạn bên Phậtgiáo Hòa Hảo (PGHH), chúng tôi bắt gặp thái độ lạnh tanh của cảnh sát cơ động (CSCĐ). Đó là các em trẻ mặc đồng phục, cầm gậy cao su sẵn sàng xử lý mọi sự chống đối. Dưới danh nghĩa chỉ biết làm theo nhiệm vụ, một yêu cầu không sử dụng điện thoại được đưa ra buộc chúng tôi phải theo.

Ok, vậy thì thử tác động vào lương tâm họ xem sao. Sau màn đồng ca “Anh là ai”, chúng tôi bắt đầu thuyết giảng về lương tâm, đạo đức, quyền con người: “Các em nên biết quan nhất thời dân vạn đại, các em rồi cũng trở về với nhân dân, nên làm gì cũng cần có lương tâm và tôn trọng quyền của người khác, đừng chỉ làm theo mệnh lệnh…”. Không hiểu những điều chúng tôi nói có tác dụng lâu dài hay không, nhưng ngắn hạn thì có hiệu quả. Nhận được một cú điện thoại, tôi quay sang hỏi thử: “Để anh trả lời bà xã nhé?”. Sau một cái gật đầu, tôi liền thông báo việc bạn bên PGHH bị đưa về công an phường 1, Hoàng Bùi sẽ bị đưa về phường 2, còn tôi sang phường 11. Nếu nhìn vào điện thoại của tôi lúc đó, chắc em CSCĐ sẽ rất ngạc nhiên khi thấy tôi đặt tên vợ là “Gio Lang Thang”! :)

Phường 11 là một nơi khá xa xôi và hẻo lánh, chỉ cách biên giới Campuchia khoảng 70km. Đây là một phường thiếu sự sung túc nhưng thừa sự hùng hổ của công an. Ngay khi tôi được đưa vào phòng, một tốp xúm lấy khám người kiểm tra đồ đạc, họ lôi ra trong người tôi một điện thoại IPhone, một pin sạc, một giấy CMND và 70 ngàn đồng.

Một viên trung tá công an nói lớn:

- Anh! Đề nghị anh mở điện thoại để chúng tôi kiểm tra!

- Sao tôi phải làm như vậy? Có quy định nào không anh?

- Tôi là công an, anh đã vào đây tôi bảo anh phải nghe.

- Nhưng hiến pháp quy định công dân có quyền bảo mật thư tín, vậy anh đòi kiểm tra theo luật nào?

- Luật nào tôi không cần nói với anh, nếu anh không nghe chúng tôi sẽ tự mở.

- Tuỳ anh! Nhưng tôi yêu cầu lập biên bản thu giữ điện thoại và sẽ không chịu trách nhiệm những gì có trong đó.

Một viên thiếu tá tên Hùng (người sau này làm việc với tôi, tôi không nhớ tên mà đặt tạm như vậy vì thái độ hùng hổ) nói xen:

- Tôi yêu cầu anh hợp tác

- Xin lỗi, tôi phải làm việc với ai?

- Với tôi.

Sau đó mấy tên kia rút dần, chỉ còn lại Hùng và hai người khác, một công an, một mặc áo thường phục, kham khổ – chắc đóng vai nhân chứng. Hùng đặt một tờ ghi: “BIÊN BẢN KIỂM TRA HÀNH CHÍNH” rồi hỏi:

- Họ và tên?

- Trước khi làm việc, tôi yêu cầu anh hai điều. Một, đề nghị anh nói nhỏ.

- Tôi đang nói nhỏ, Hùng thanh minh nhưng cũng hạ giọng

- Thứ hai, đề nghị anh cho biết tôi phải làm việc theo điều luật gì, quyền lợi và nghĩa vụ của tôi.

- Cái này, cái này… Ở đây chúng tôi chỉ kiểm tra hành chính, tôi có quyền và anh có nghĩa vụ phải hợp tác!

- Không, mọi công dân đều phải làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Đề nghị anh cho biết anh làm việc với tôi theo điều luật nào?

Hùng quay sang giở bài cũ rích, gầm lên:

- Thì tôi đang làm việc theo pháp luật đây. Nếu tôi sai anh có quyền khiếu nại sau này.

- Vậy anh hãy nghe cho rõ nhé. Tôi sẽ không làm việc với anh khi anh chưa giải thích cho tôi  là theo luật gì. Nếu tôi sai tôi chịu trách nhiệm.

- Tôi đã nói rồi, đây là chúng tôi điều tra hành chính, không phải điều tra tố tụng, tôi không giải thích luật gì với anh. Có hàng nghìn luật, tôi biết giải thích luật gì?

- Tôi không cần biết các luật khác, tôi chỉ quan tâm tới quyền và nghĩa vụ của tôi khi làm việc với anh.

Cuộc tranh luận cứ thế lòng vòng và to tiếng, Hùng cứ loanh quanh không thể đưa ra điều luật gì. Cảm giác “khác tầng bay” khiến tôi đâm nản:

- Tôi nói lời cuối cùng, nếu anh không giải thích cho tôi rõ theo điều luật nào, tôi sẽ im lặng không trao đổi tiếp với anh.

Và mặc Hùng tiếp tục to tiếng doạ nạt, tôi chống cằm im lặng nhìn ra xa. Được một lúc, Hùng bất lực bỏ ra ngoài, một người khác vào thay thế. Người này thì tôi nhớ rõ tên – thiếu tá Trần Văn Bảy.

 

Hiến pháp, pháp luật và câu chuyện chai nước

Khác hẳn với thái độ của Hùng, Bảy là một người khá nhẹ nhàng, không to tiếng:

- Anh Dũng, tôi muốn anh hợp tác.

- Ok, để hợp tác tôi cần sự tôn trọng. Chúng ta không to tiếng, tôi tôn trọng anh và anh tôn trọng tôi.

- Tôi đồng ý. Vậy anh chỉ cần trả lời các câu hỏi của tôi.

Với sự thiện chí và cảm giác có thể thuyết phục được Bảy, tôi cầm chai nước trên bàn, chĩa mũi chai về phía Bảy và hỏi:

- Anh có thấy cái chai này không, anh thấy gì?

- Một cái nắp, màu xanh

- Anh nhìn thấy thế, nhưng tôi không nhìn thấy cái nắp, tôi thấy cái đít chai có hình ngôi sao. Như vậy là cùng một vật, tôi với anh có cái nhìn khác nhau?

- Đúng

- Cũng giống như việc chúng tôi tới toà, anh nhìn chúng tôi gây rối trật tự, nhưng chúng tôi nhìn khác. Vậy để có cái nhìn giống nhau ta cần phải đặt cái chai ra xa và nhìn theo cùng một cách.

- Đúng

- Cách đó là hiến pháp và pháp luật, chúng ta cần tuân thủ. Tôi đề nghị anh cho tôi biết tôi phải làm việc với anh theo điều luật nào?

Im lặng nhìn tôi một lúc, anh Bảy nói:

- Câu chuyện chai nước của anh rất thuyết phục, lát chúng tôi sẽ nói rõ với anh.

Thật ra tôi hiểu, ở vị trí của mình, Hùng và Bảy không làm được gì hơn. Quen đối mặt với buôn lậu, gái mại dâm, ma tuý và những người buôn thúng bán mẹt có vi phạm khá rõ ràng, việc của Hùng và Bảy là đe doạ, có khi còn đánh đập buộc đương sự phải khai. Sau đó, khi đương sự đã nhận tội thì những lỗi về quy trình, thậm chí cả vết tích đánh đập cũng bị xoá nhoà và biến thành vô căn cứ. Hơn nữa, những đối tượng trên khi bị đưa vào đồn thường răm rắp nghe lời, nên lâu dần năng lực đối đáp, viện dẫn pháp luật của Hùng và Bảy giảm sút. Với những người như chúng tôi – vừa không có dấu hiệu vi phạm pháp luật, vừa có sự quan tâm của truyền thông, ôn hoà nhưng sẵn sàng chấp nhận mọi trò bẩn – việc sử dụng vũ lực để đe doạ không thực hiện được khiến họ cực kỳ đuối lý.

 

Bị bắt theo luật nào?

Sau khi Bảy đi ra, một người khác được cử tới để làm việc với tôi – Trần Quốc Tuấn, trung uý an ninh điều tra Đồng Tháp.

Khác với Hùng và Bảy khá luống tuổi, Tuấn sinh năm 1980, còn trẻ và nhiều đồ công nghệ. Cậu ta đi ra đi vào trong suốt buổi làm việc của tôi, lỉnh kỉnh đồ đạc khiến tôi tưởng đó là nhân viên bên công ty tin học nào đó được mời đến để khám điện thoại. Làm việc với những cậu như thế này chắc chắn là bạn sẽ bị ghi âm.

Vì đã chứng kiến các buổi làm việc của tôi trước đó nên Tuấn tiếp cận khá nhẹ nhàng. Thay vì “Biên bản kiểm tra hành chính”, Tuấn sử dụng “Biên bản ghi lời khai”, một thứ mà tôi đã quá quen. Rút kinh nghiệm không hỏi tên tuổi, Tuấn mở gói đồ tôi bị thu giữ lúc đầu lấy CMND của tôi để điền thông tin. Thấy có 70 ngàn, Tuấn hỏi:

- Sao đi vào tận đây mà mang theo ít tiền thế anh?

- Thì anh xác định là bị bắt, có thể đi mấy năm, mang nhiều làm gì – tôi đùa

Biên bản ghi lời khai gồm 5 phần:

- 1. Họ tên, điện thoại, địa chỉ …

- 2. Tư cách tham gia tố tụng: ……………………

Người khai đã được giải thích quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại điều … Bộ luật tố tụng hình sự và cam đoan chịu trách nhiệm về lời khai của mình.

- 3. Hỏi và đáp

- 4. Cam đoan

- 5. Chữ ký

Như mọi điều tra viên láu cá khác, sau khi điền phần 1, Tuấn bỏ qua phần 2 để nhảy thẳng đến phần 3!

Tôi nói:

- Anh đang làm sai quy trình nhé, đề nghị anh điền đầy đủ thông tin từ trên xuống dưới.

Hơi bất ngờ, Tuấn bèn điền: “Tư cách tham gia tố tụng: Người có hành vi gây rối” nhưng vẫn bỏ trống “điều … bộ luật hình sự”.

- Đề nghị anh điền rõ điều bao nhiêu.

Lúc này thì Tuấn lúng túng thực sự, loay hoay không biết làm thế nào. Tôi gợi ý:

- Thôi anh gọi điện cho sếp anh đi.

- Uh, được nhé. Gọi điện cho người thân hả?

Thế là tôi và cậu ấy bỗng nhiên trở thành người chơi trong một game-show truyền hình.

- Nếu gọi người thân không được thì cứ lựa chọn hỏi khán giả nhé, cậu gọi hết cả đồn lại xem có ai trả lời được câu này không! – tôi đùa.

Ấy thế mà câu này thành câu hỏi khó thật, khó cho cả sếp của Tuấn. Bằng chứng là từ 11h sáng đến tận 3h chiều Tuấn vẫn chưa nhận được câu trả lời!!!

Đến đây bạn có thể thấy sự tuỳ tiện của ngành công an. Họ có thể cử những cán bộ điều tra không nắm rõ pháp luật để làm những việc quan trọng có thể quyết định số phận một con người. Cán bộ đã không nắm được luật, mà cả sếp của cán bộ cũng vậy!

 

Quyền con người và quyền công an

Trong lúc chờ đợi, chúng tôi nói chuyện khá cởi mở với nhau. Dù biết việc này có thể bị ghi âm trong một báo cáo riêng nhưng vì mình vốn công khai trong các hoạt động, tôi vẫn vui vẻ chấp nhận. Tuấn hỏi:

- Cái áo anh mặc đẹp thế, anh mua ở đâu đấy?

- À, áo này là áo nhân quyền, bạn tặng, hiếm lắm. Em có biết thế nào là quyền con người không?

- Thế nào anh?

- Đơn giản thế này, em có thể giết một con lợn, đánh một con chó nhưng không thể đánh hay giết một con người. Quyền con người là bình đẳng và giúp phân biệt con người với con vật. Kể cả tù nhân, họ hết quyền công dân nhưng vẫn có quyền con người. Mà công an bọn em cũng có quyền đó đấy.

- Như thế nào anh?

- Em có quyền làm trái lệnh cấp trên, làm theo lương tâm và lẽ phải. Nếu bọn anh không có tội em có quyền nói bọn anh vô tội, làm ngược lại em sẽ bị ám ảnh cả đời.

- Nhưng không có tội thì sao bọn anh bị bắt vào đây?

- Thấy chưa, em lại quy chụp nhé! Mấy ông công an phường Mỹ Phú cũng nghĩ như em, nói không gây rối thì đến toà làm gì, thế nên bọn anh mới bị bắt. Có hỏi em phải hỏi bên đó, đang điều tra không được nghĩ bọn anh có tội đâu nhé!

Tuấn im lặng, cười trừ.

 

Đằng sau bản án Bùi Hằng

140902001Câu chuyện của chúng tôi cuối cùng cũng dẫn đến vụ án chị Hằng. Tuấn hỏi:

- Anh thấy bà Hằng thế nào?

- Tôi thấy ổn. Dù có vài điểm tôi không hoàn toàn đồng ý với chị ấy, nhưng nói chung ổn.

- Anh không biết đâu, bà này bà ấy quậy dữ lắm, toàn chửi đảng, nhà nước và anh em chúng tôi. Có hôm đối chất nhân chứng, bà ấy chửi dữ quá sau nửa giờ lại phải dừng.

- Ừ thì cậu cũng phải xem nguồn gốc của sự việc. Tại thằng Thế Thảo (chủ tịch thành phố Hà Nội) bắt bà ấy đi cải tạo vô cớ, bà ấy kiện còn không thụ lý nên bà ấy mới thù như vậy.

- Quan điểm của anh về vụ Lấp Vò này thế nào?

- Tôi tôn trọng một phiên toà công bằng, công khai và đúng pháp luật. Nhưng chuyện công khai thế nào thì bàn dân thiên hạ biết rồi, nên cũng chẳng hi vọng đây là một phiên toà công bằng nữa. Nghe người ta nói còn có nhiều dấu hiệu nguỵ tạo.

Như có tật giật mình, Tuấn gân cổ thanh minh về các chứng cứ, nào là tắc nghẽn giao thông, nào là la hét, chống người thi hành công vụ… Biết rằng khó có thể tranh cãi thêm, tôi chủ động dừng câu chuyện.

Cần phải nói thêm là trong lúc nói chuyện, tôi có hỏi về gia đình của Tuấn. Vợ cậu cũng là an ninh điều tra, đang ngồi dự toà. Càng về chiều Tuấn càng sốt ruột nhắn tin cho vợ hỏi phiên toà xong chưa, vì nếu phiên toà tiếp tục sang ngày hôm sau thì chúng tôi sẽ bị giữ lại qua đêm (dù chẳng có một biên bản tạm giữ nào), và theo nhiệm vụ cậu ta cũng phải ở lại với tôi để giả vờ hỏi han qua loa cho đúng thủ tục. Vì cả hai vợ chồng cùng là ANĐT nên cậu ta có những thông tin đáng chú ý.

Đến khoảng 4h chiều, tôi hỏi:

- Vụ xử này thế nào, liệu bà Hằng có được ra luôn không?

- Ra là thế nào anh, bà ấy quậy quá trời như thế, bị khép vào khoản 2, ít thì cũng 2-3 năm.

Thấy tôi im lặng, cậu ta bồi thêm:

- Thấy bảo công an Vũng Tàu sợ bà ta lắm hả? Ở đây chúng tôi không sợ nhé! Bà ấy vô duyên, ở đây tụi phản động Hoà Hảo đang yên lại nhảy tới, cấu kết người nọ người kia.

Tôi thầm nghĩ: “Nếu những lời trên là đúng, thì bản chất của vụ án Bùi Hằng là do chị đấu tranh cho tự do tôn giáo, còn các chứng cứ, tình tiết chỉ là nguỵ tạo. Dù chị có ôn hoà, có nhẹ nhàng thì họ cũng tìm cách bỏ tù bằng được chị”. Trong những năm qua, Đồng Tháp nói riêng và miền Tây nói chung luôn là điểm nóng về đàn áp tự do tôn giáo, cụ thể là Phật Giáo Hoà Hảo.

 

Thay cho lời kết

Ngồi nói chuyện đến tầm 7h tối, Tuấn nói tôi được tự do sau khi đã làm một bản tường trình sơ sài. Như là một thủ tục, Tuấn hỏi:

- Anh thấy thái độ làm việc của tôi với anh thế nào, có đánh đập, xúc phạm gì không?

- Không, tôi thấy thái độ làm việc của anh tốt, cũng như thái độ của tôi. Quan điểm của tôi là    một khi đã mặc cái áo này, đã đấu tranh cho quyền con người thì chúng tôi cũng sẽ không xâm phạm quyền của các anh – quyền được tôn trọng.

- Vậy lần sau xử phúc thẩm ở Sài Gòn hay Đồng Tháp, anh có đến nữa không?

- Có! Một là vì chúng tôi sẽ không bỏ đồng đội, hai là vì chúng tôi muốn thay đổi thái độ của các anh nhìn chúng tôi khi tham dự ôn hoà một phiên toà, không gây rối.

Tuấn hơi cụp mắt xuống rồi nhìn ra nơi khác!

LÃ VIỆT DŨNG

Read more

Văn hóa ơn gọi

VRNs (02.09.2014)- Sài Gòn - Chắc hẳn nhiều người lớn Công giáo còn nhớ về giáo xứ và trường học do các linh mục và tu sĩ điều hành. Điều này không phổ biến ở Bắc Mỹ. Thanh thiếu niên Công giáo lớn lên ít có kinh nghiệm hoặc không có kinh nghiệm như người tu trì (linh mục hoặc tu sĩ). Ngày nay, thách đố của chúng ta là tạo một văn hóa ơn gọi tại gia đình, nhà thờtrường học để ĐỘNG VIÊN và GIÚP ĐỠ thanh thiếu niên đáp lại tiếng Chúa gọi. Ngoài việc nuôi dưỡng đời sống hôn nhânđời sống độc thân, các gia đình và các giáo xứ làm sao nuôi dưỡng ơn gọi làm linh mục và tu sĩ?

140902002HỌ Ở ĐÂU?

Có nhiều lý do để giao tiếp với các tu sĩ và linh mục, nhưng ngày nay có vẻ ít có cơ hội. Ơn gọi tu trì giảm sút ở nhiều nơi. Thập niên 1960, sau Công đồng Vatican II, Giáo hội đã có kinh nghiệm về sự canh tân. Sau đó, giáo dân được “chú ý” hơn và có thể là người lãnh đạo ở các trường học, bệnh viện và giáo xứ, cũng có nhiều tu sĩ biết dấn thân hơn trong việc phục vụ người nghèo, người bệnh, và người già.

Ngày nay, ơn gọi thiếu, có thể có nhiều lý do. Ngoài ba lời khấn (vâng lời, nghèo khó, khiết tịnh), có dòng tu còn thêm các lời khấn khác, đồng thời còn phải biết lắng nghe lời mời gọi phục vụ vô điều kiện. Nhiều tu sĩ nói rằng họ có thể đi tới bất cứ nơi nào theo nhu cầu và vâng lời bề trên, có thể làm mọi thứ vì yêu mến Đức Kitô. Ngày nay, mặc dù ơn gọi giảm sút, nhưng vẫn có những người theo tiếng gọi của Chúa Giêsu để sống lời khuyên Phúc Âm mà phục vụ những người đau khổ: vô gia cư, trẻ em mồ côi, bệnh nhân HIV/AIDS, phong cùi,… Sự tự nguyện của họ nâng đỡ những người nghèo khổ nhất, vì đức ái Kitô giáo: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (2 Cr 5:14).

LÝ DO

Xuyên suốt lịch sử Giáo hội, số linh mục và tu sĩ vẫn tăng dù có những lúc giảm sút. Những năm trước Công đồng Vatican II là “thời hoàng kim” về ơn gọi. Trong mọi thời, luôn có những người cảm nghiệm lời mời gọi của Thiên Chúa và quảng đại đáp lại.

Đặc tính nào cần có đối với các linh mục và tu sĩ? Ai có thể sống theo các lời khuyên Phúc Âm? Họ cần có sức khỏe tốt về thể lý và tâm thần để phục vụ và trung thành với Đức Kitô. Lời hứa là khả năng giữ các giá trị như sống độc thân, sống giản dị và sẵn sàng hy sinh vì mục đích chung. Linh mục và tu sĩ ngày nay cần linh động để thích nghi với những cách thay đổi của Giáo hội và thời đại.

Cuối cùng, những người theo tiếng gọi làm linh mục, làm phó tế vĩnh viễn hoặc làm tu sĩ cần vượt qua những động thái tiêu cực bởi các vụ xì-căng-đan (bê bối) trong Giáo hội, những điều ảnh hưởng xấu tới ơn gọi. Có thể họ thiếu kinh nghiệm về việc sự khuyến khích của cha mẹ, gia đình và cộng đồng – kể cả các linh mục và tu sĩ.

NHẬN THỨC

Nghiên cứu cho thấy rằng cần phải gieo trồng và vun xới “hạt giống ơn gọi tu trì”. Nhận thức ơn gọi cần phải là phần căn tính của việc đào tạo đức tin cho giới trẻ ở bất cứ nơi nào. Sự ảnh hưởng quan trọng đối với việc thể hiện đức tin của giới trẻ phải khởi đầu từ cha mẹ. Từ việc chọn trường tới việc chọn nghề, sự ảnh hưởng của cha mẹ là chủ yếu. Thái độ của cha mẹ đối với ơn gọi tu trì như màn hình theo dõi, có thể xác định cách chọn lựa của giới trẻ. Nhận thức vấn đề là một quá trình tiệm tiến. Những người hướng dẫn ơn gọi phải cung cấp thông tin tổng quát giúp giới trẻ lắng nghe và đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, ngay cả khi chúng được mời gọi theo hướng khác.

Chúng ta hãy nói về việc đào tạo ở chủng viện và dòng tu. Sự nhận thức tiếp tục trong vài năm trước khi được truyền chức linh mục hoặc khấn trọng (vĩnh thệ). Sự nhận thức đúng đắn giúp giới trẻ không lo sợ khi quyết định – dù đúng hay sai. Khi đi tu, vẫn có sự lo lắng tự nhiên của con người. Chúng ta cũng nên thoải mái với những người “ta-ru” (tu ra), gọi là tu xuất. Người ta vẫn có cái nhìn khắt khe với họ khiến họ khó vươn lên.

VĂN HÓA ƠN GỌI

Thế nào là “văn hóa ơn gọi” trong giáo xứ? Làm sao tiếp nhận giới trẻ? Có những “vật cản” làm nản lòng giới trẻ khi khám phá ơn gọi tu trì? Cần đào tạo thế nào để giáo dục giới trẻ? Đặt ra vấn đề này ở giáo xứ là điều đúng. Đây là niềm hy vọng đối với ơn gọi tu trì. Nhu cầu càng ngày càng nhiều, và Thiên Chúa vẫn luôn mời gọi mọi người mở rộng lòng đáp lại để có thể trở thành linh mục và tu sĩ.

Giáo hội cần các bậc cha mẹ, các giáo dục viên, và mọi người cùng cộng tác, cùng khuyến khích giới trẻ dấn than vì Đức Kitô bằng cách trở nên linh mục, phó tế vĩnh viễn, và tu sĩ.

Cậu bé Samuel là tấm gương để chúng ta noi theo, vì cậu đã mau mắn đáp lại tiếng Chúa gọi trong đêm khuya: “Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe” (1 Sm 3:10; x. Dt 10:7 & 9).

TRẦM THIÊN THU (Việt theo OblateVocations.com)

Read more

“Tuyên ngôn Độc lập” mở ra chân trời nào?

VRNs (02.09.2014) – Thừa Thiên Huế - Nhân kỷ niệm 69 năm của cái gọi là “Cách mạng Tháng Tám” và “Quốc khánh” nước CHXHCN Việt Nam, tưởng cũng nên xem lại cái gọi là “Tuyên ngôn Độc lập” mà Hồ Chí Minh đã đọc tại Ba Đình ngày 02-09-1945, nhất là các đoạn tố cáo tội ác Thực dân Pháp: “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man…. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”.

Toàn bộ các lời tố cáo trên đây có thể quy vào 3 lãnh vực: dân quyền, dân khí và dân sinh. Dĩ nhiên khi viết những dòng này, HCM và đảng CS mặc nhiên cam kết trước quốc dân là sẽ hoàn toàn làm ngược lại.

140902001

          1- Dân quyền:

“Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”. Thành thử đảng ta trước hết cần nắm độc quyền cai trị để thí ban dân chủ tự do cho nhân dân. Phải bắt đầu bằng việc loại trừ tiêu diệt các “đảng phản động” là Việt Nam Quốc Dân đảng và Đại Việt Quốc Dân đảng trong “vụ án (dàn dựng) phố Ôn Như Hầu” tháng 7 năm 1946. Tiếp đến ban hành một Hiến pháp vào tháng 11 năm 1946, một hiến pháp có vẻ dân chủ nhưng đã tiềm ẩn mầm mống độc tài: “Ngay từ khởi thủy, Hiến pháp 1946 được xây dựng không nhằm mục đích phát huy dân chủ, đoàn kết toàn dân. Lợi dụng lòng yêu nước mãnh liệt của nhân dân Việt Nam, dựa vào nhu cầu tập trung quyền lực để chống ngoại xâm, những người chủ trì việc soạn thảo bản hiến pháp này đã trao quyền lực quá lớn cho một cá nhân (Chủ tịch Nước), đồng thời tước đoạt quyền lực của cơ quan đại diện nhân dân (Nghị viện) để trao cho một nhóm nhỏ có tên là Ban Thường vụ Nghị viện. Đó là nguồn gốc của cơ chế “Chủ tịch Nước – Ban Thường trực Quốc hội”, một cơ chế đã vận hành trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Kể từ đầu thập niên 1950, cơ chế “Chủ tịch Nước – Ban Thường trực Quốc hội” được thay thế bằng cơ chế “Bộ chính trị – Ban chấp hành Trung ương Đảng”, hình thành nên chế độ “đảng trị” tồn tại mãi cho đến ngày nay” (Mai Thái Lĩnh, Đôi điều cần nói thêm về bản Hiến pháp 1946). Đến HP 1980 và 1992 thì đảng CSVN chính thức lên ngôi “lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội”. Còn HP mới nhất, ban hành cuối năm 2013, hoàn toàn thể hiện Cương lĩnh của đảng.

Trong tất cả các HP này, mọi nhân quyền và dân quyền đều bị đè bẹp bởi độc quyền cai trị xã hội, độc quyền sở hữu tài nguyên quốc gia, độc quyền sử dụng lực lượng vũ trang của đảng, bởi ưu quyền của đảng lèo lái văn hóa (chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng HCM là thống soái) và ưu quyền của đảng thực hiện kinh tế (công ty xí nghiệp nhà nước là chủ đạo). Mới đây, hôm 16-8-2014, phát biểu tại lễ kỷ niệm lần thứ 69 ngày truyền thống của ngành công an, Thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng lại lớn tiếng ra lệnh cho lực lượng này phải “dứt khoát không để nhen nhóm, hình thành những tổ chức chống đối, phá hoại”. Tiếp lời, bộ trưởng công an Trần Đại Quang cũng chỉ đạo: “Kịp thời phát hiện, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Đẩy lùi nguy cơ, loại trừ các yếu tố gây mất ổn định chính trị xã hội. Không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nội địa”.

Phải chăng đó là xây dựng dân chủ, cổ vũ tự do hỡi hồn ma Hồ Chí Minh?

          2- Dân khí:

 “Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân”. Thành thử đảng ta hứa “làm ngược lại”.

Thế là tuần tự được ban hành các bộ luật từ Luật Giáo dục, Luật Báo chí đến Pháp lệnh Tôn giáo (sắp trở thành luật); từ Nghị định 72 về kiểm soát Internet, Nghị định 174 về tuyên truyền phản động đến Chỉ thị 37 về độc quyền báo chí; từ Quyết định 97 cấm công bố ý kiến phản biện, Thông tư 04 cấm khiếu kiện đông người đến Thông tư 28 (mới nhất) chà đạp quyền luật sư; từ điều 79, 88 đến điều 258 Bộ luật Hình sự cấm “lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác”….

Tất cả các luật ấy muốn biến mọi công dân thành công cụ qua một nền giáo dục hoàn toàn nằm trong tay đảng, hoàn toàn bị chính trị hóa, chẳng có chút chi gọi là khai phóng, nhân bản, dân tộc. Học sinh sinh viên được dạy dỗ, được đào tạo không phải để trở thành con người tự do, phát triển đầy đủ đức, trí, thể để phụng sự đất nước, giúp ích xã hội nhưng là trở thành những tôi tớ, ngu trung chỉ biết lấy đảng làm đối tượng phục vụ, lấy Bác làm gương mẫu noi theo, lấy xã hội chủ nghĩa hư ảo làm lý tưởng.

Tất cả các luật ấy muốn biến mọi công dân thành thần dân bằng nền “đạo đức cách mạng”: “nghe theo đảng, nói theo đài”. Phải lấy đảng làm suối nguồn của sự thật, làm thước đo của công lý, làm chuẩn mực của đạo đức văn minh. Mọi công dân đứng lên đòi phản biện để xây dựng chính sách, đòi đất đai để sống xứng nhân phẩm và có tự do, đòi các dân quyền và nhân quyền để đứng thẳng làm người, đòi hình thành xã hội dân sự để thăng tiến đất nước, đòi phản đối quân bán nước và cướp nước để bảo toàn tổ quốc quê hương… Tất cả phải bị bịt miệng, phải bị đẩy vào cảnh đói rách lang thang, phải bị sách nhiễu, hành hung, cấm cản, bỏ tù. Nếu cần thì cứ dàn dựng một âm mưu thô bỉ để tóm bắt bọn chúng, một chiến dịch tuyên truyền dối trá để đầu độc công luận, một bản cáo trạng đầy vu vạ trắng trợn, lập luận ngụy biện và quy kết vô lý để lôi chúng ra trước vành móng ngựa, một phiên tòa trấn áp bị cáo, bịt miệng luật sư, khủng bố thân thuộc để chúng biết thế nào là “pháp quyền xã hội chủ nghĩa” như vụ Lấp Vò, Cao Lãnh, Đồng Tháp mới đây!

Tất cả các luật ấy muốn biến mọi tôn giáo thành công cụ phục vụ nhà nước theo phương châm “đạo pháp và xã hội chủ nghĩa”, thành thuốc phiện ru ngủ quần chúng, chuyên lo dạy tín đồ, nhất là chức sắc phải sợ “làm chính trị”, đừng dại dột phê phán nhà nước, chớ lên tiếng đấu tranh cho lẽ phải, cứ bằng lòng với chuyện xây cất cơ sở, tổ chức lễ hội, cứ vui lòng chịu gian khổ đời này để được niết bàn, thiên đàng mai sau. 

Hỡi hồn ma Hồ Chí Minh, kiểu biến con người thành con vật, công dân thành công cụ, làm nhân dân ra hèn nhát, dân tộc ra bạc nhược, sẵn sàng chấp nhận cho đất nước thành tỉnh tự trị của đại quốc Trung Hoa như ông toan tính từ 1954 và bọn đệ tử của ông toan tính từ năm 1990, phải chăng đó là lối chấn hưng dân khí khi ông tố cáo Thực dân trong “Tuyên ngôn Độc lập”?

          3- Dân sinh

 “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”

Thành ra khi xây dựng Hiến pháp, đảng ta phải khẳng định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (HP 2013, đ. 53). Nhân dân chỉ được quyền sử dụng. Và khi cần thì “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng… vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội…” HP đ. 54), để giao cho quan chức cao cấp xây biệt thự, làm đồn điền cao-su, bán cho đại gia tư bản trong nước xây chung cư bất động sản, công ty xí nghiệp nước ngoài dựng nhà máy sản xuất, dâng cho đàn anh Đại Hán làm nơi gọi là “công trường khai thác bauxite”, “khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu” mà người dân Việt không thể bước vào, chính quyền Việt không thể kiểm soát… Cho dù việc này có thể gây ra nạn dân oan đến hàng triệu hộ, sống vô gia cư, chết vô địa táng, khiếu kiện từ đời ông đến đời cha, từ đời con đến đời cháu, lang thang đầu đường xó chợ trong cảnh tuyệt vọng không cùng và cảnh công an đầu gấu sẵn sàng dộng dùi cui, báng súng để đi cho khuất mắt. 

Thành ra khi xây dựng Hiến pháp, đảng ta phải khẳng định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Có thế mới đẻ ra được những tổng công ty, đại tập đoàn như Vinashin, Vinalines và hàng chục Vina… khác làm ăn thua lỗ sặc gạch, tiêu sạch tiền thuế nhân dân, nhưng làm đầy túi các ban giám đốc, các ban quản trị là thân nhân họ hàng của đảng. Dù việc này có thể giết chết hàng trăm ngàn công ty xí nghiệp tư doanh hay liên doanh. Dù việc này có thể đẩy hàng triệu công nhân vào cảnh lầm than bóc lột. Nhưng đảng ta đâu có sợ họ nổi loạn, vì tổng liên đoàn lao động là tay chân của đảng ta mà!

Hỡi hồn ma Hồ Chí Minh, kiểu biến đất nước thành tụt hậu về kinh tế, suy kiệt tài chánh với những món nợ xấu kếch sù, nợ công khủng khiếp chẳng biết sẽ vỡ lúc nào, kiểu làm cho VN luôn đội sổ thế giới về phát triển và văn minh, hạnh phúc và no ấm phải chăng đó là kiểu thăng tiến dân sinh ông đã mơ tưởng và đệ tử của ông luôn hứa hẹn? Hay là tự thâm tâm ông và đệ tử ông, quê hương đất nước giống nòi ra sao thì ra, miễn là đảng luôn ngự trị trên ngai vàng? Vì đối với tất cả bọn ông, làm gì có đồng bào, tổ quốc, dân tộc!

BBT BNS. Tự do ngôn luận

Xã luận  số 202 (01-09-2014)

Read more

Quyền lực phát ra từ nòng súng!  

VRNs (02.09.2014) – Sài Gòn – Tại sao “Cách mạng Mùa thu” biến thành chế độ toàn trị coi dân như nô lệ? Sau 69 năm cướp chính quyền: Đặt lại vấn đề Đảng cộng sản (ĐCS) còn tư cách cầm quyền hay không?

Thời con người còn ăn lông ở lỗ, trong những cuộc tranh giành phẩm vật thường kẻ nào có sức mạnh sẽ thắng, có thể giết chết đối thủ và chiếm toàn bộ chiến lợi phẩm. Đây là thời kì con người sống theo „luật rừng xanh“, theo kiểu „ chúa tể sơn lâm“, cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh giết kẻ yếu!

Tới thời phong kiến sự thay đổi quyền lực trong xã hội cũng dựa trên bạo lực, kẻ nổi loạn thường nêu cao chính nghĩa trừ vua bạo ngược, khi đánh thắng được vua chúa đương thời thì tự mình xưng làm vua chúa mới. Người chiến thắng tự coi các tài sản thiên nhiên và sinh mạng của người dân trong nước là tài sản riêng của giòng họ mình, không những thế còn tự giành quyền cha truyền con nối hết đời nọ đến đời kia. Khi người chiến thắng trở thành vua, lập quân đội riêng chỉ biết trung thành với mình, định ra các luật lệ để bảo vệ ngai vàng, sẵn sàng dùng các lực lượng quân sự đàn áp những cuộc chống đối của nhân dân, coi dân như sở hữu riêng, thậm chí như cỏ dại!

Sau nhiều thế kỉ cầm quyền nhiều chế độ phong kiến từ Đông sang Tây đã xây dựng các ngai vàng  trên dối trá, bạo ngược và tội ác. Nhân loại đã chứng kiến và cũng là nạn nhân của sự tham lam quyền lực và tha hóa đạo đức của các vua chúa và bọn quí tộc. Các nhà khoa học xã hội đã rút ra được bài học lịch sử:  Quyền lực, tiền bạc, danh vọng có sức quyến rũ rất lớn và dễ đưa con người tới sa ngã. Nếu không có sức cản lại thì nó như ngựa không cương, xe không thắng rất nguy hiểm. Các nhà khoa học còn nhận thấy, nơi nào quyền lực càng lớn thì chính nơi đó dễ dẫn tới sự lạm dụng quyền lực càng cao, càng thô bạo.

Ở nhiều nước trên thế giới người dân đã nhận rõ được là, nhiều bạo chúa thường quên đi những lời hứa ban đầu và tự dựng lên các thuyết phản khoa học để biện minh cho những hành động tàn nhẫn và các tội ác của họ để tiếp tục giữ quyền lực, trở thành bạo chúa cực kì tàn bạo và vô đạo đức, chỉ lo đàn áp và bòn rút tài sản của đất nước và nhân dân, coi sinh mạng của dân như thú vật. Vì vậy đã nổ ra những cuộc Cách mạng Dân quyền và Nhân quyền 1789 ở Pháp và 1776 ở Mĩ đòi các quyền tự do nguyên thủy của con người là tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do đi lại…Đồng thời để ngăn cản sự lạm dụng quyền lực của giới cầm quyền, các cuộc cách mạng này còn thiết lập một hệ thống cơ chế tổ chức xã hội mới với ba cơ cấu quyền lực căn bản trong một quốc gia là lập pháp, hành pháp và tư pháp trên cơ sở độc lập và bình đẳng. Để thực hiện các quyền này các cuộc cách mạng trên còn thừa nhận là, người dân có các quyền tự do hội họp, tự do bầu cử, ứng cử; đồng thời còn xác nhận quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật. Từ đó chấm dứt chế độ vua chúa độc tôn, cha truyền con nối và thực hiện chế độ Dân chủ Cộng hòa, trong đó người dân làm chủ vận mệnh của đất nước và quyền lực được hạn định rõ ràng cả thời gian lẫn mức độ!

Các cuộc Cách mạng Dân quyền và Nhân quyền chấm dứt chế độ nhân trị -luật lệ được giải thích tùy tiện theo ý riêng của kẻ nắm quyền- và thay bằng chế độ pháp trị. Tức là chấm dứt quyền sinh sát nhân dân tùy lòng tốt, tùy sự vui buồn, hỉ nộ của kẻ có quyền lực và thay bằng cơ chế luật pháp từ giai đoạn soạn thảo, tới ban bố và thi hành phải do những cơ quan  và nhân sự độc lập, có khả năng chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp đảm trách.

Trải qua hơn hai thế kỉ các xã hội Pháp, Mĩ, Bắc Âu và Tây Âu đã không ngừng hoàn thiện chế độ Dân chủ đa nguyên và cơ chế kinh tế thị trường tiến bộ theo hướng mở rộng các quyền tự do dân chủ, thượng tôn pháp luật….Nhờ vậy nhân dân các nước này thực sự đang được hưởng các quyền dân chủ tự do căn bản, đồng thời sống trong phồn vinh. Các quốc gia này đang trở thành gương sáng về chế độ Dân chủ đa nguyên và Kinh tế thị trường trên hoàn cầu. Nhiều nước Á châu, Úc và Nam Mĩ cũng đã tự tin và sáng tạo thực hiện chế độ Dân chủ đa nguyên và Kinh tế thị trường đang trở thành các nước dân chủ có nền công nghiệp tiên tiến…Như thế Dân chủ đa nguyên và Kinh tế thị trường tiến bộ không còn là đặc thù của một xã hội nào, trái lại trở thành tài sản trí tuệ và sáng tạo chung của nhân loại.

Từ khi loài người kết hợp thành những xã hội và quốc gia, nhiều học thuyết chính trị và kinh tế đã được khai sinh và đã được thử thách từ thời Thượng cổ với luật rừng xanh, thời Trung cổ với chế độ phong kiến, tới các chế độ độc tài cá nhân, quân phiệt và đảng trị như các đảng Cộng sản và chế độ Dân chủ Đa nguyên. Nhưngđa số nhà khoa học xã hội đã nhận định, chế độ Dân chủ đa nguyên là chế độ gần với con người văn minh nhất. Tuy nó chưa phải là chế độ tuyệt hảo, nhưng nhờ có những cơ chế tổ chức quyền lực được phân chia độc lập và bình đẳng giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nên những lạm dụng quyền lực đã bị giới hạn triệt để. Không những thế, trong Dân chủ đa nguyên các quyền tự do dân chủ căn bản về dân quyền và nhân quyền của người dân được tôn trọng thực sự. Trong Dân chủ đa nguyên các chính đảng –ngay cả đảng cầm quyền và từ tổng thống tới thủ tướng- không có quyền đứng trên tất cả, nó bị theo dõi và kiểm soát nghiêm ngặt và thường quyên qua nhiều hệ thống công quyền và dân quyền. Tóm lại, Dân chủ đa nguyên rất phù hợp với xã hội loài người, biết triển khai và phát triển mặt mạnh của con người, đồng thời biết những phương pháp thích hợp và hữu hiệu để ngăn chặn những tệ trạng của quyền lực…Vì thế nơi nào các định chế Dân chủ đa nguyên được thực thi triệt để thì nơi đó người dân có nhân phẩm cao, đất nước văn minh!

***

 

Vào tiền bán Thế kỉ 20 cả dân tộc VN đang sôi sục đánh đuổi thực dân Pháp đang đè đầu sĩ phu, bóc lột nhân dân và bòn rút tài nguyên VN. Mục tiêu chung của nhân dân ta khi ấy là giành độc lập và xây dựng một xã hội Dân chủ Cộng hòa theo chiều hướng chung của nhiều xã hội văn minh. Nhiều tổ chức chính trị đã tham gia, trong đó có nhóm những người CS do Hồ Chí Minh cầm đầu và được sự đỡ đầu của Đệ tam Quốc tế Cộng sản dưới sự lãnh đạo của CS Liên xô đứng đầu là Stalin. Nhờ biết tổ chức và có sách lược phù hợp, những người CSVN đầu tiên đã tránh không đả động tới chủ nghĩa CS mà chỉ tuyên bố cùng với toàn dân và các lực lượng dân tộc đoàn kết đánh đuổi thực dân giành độc lập, tự do và thiết lập chế độ Dân chủ Cộng hòa. Đây là ý nguyện của toàn dân, được nhiều giới tin theo, nên nhóm ông Hồ đã thành công trong cuộc „Cách mạng mùa Thu“ cách đây đúng 69 năm. Chính ngay trong đoạn mở đầu „Tuyên ngôn độc lập“ ngày 2.9.1945 Hồ Chí Minh đã xác nhận mục tiêu cuộc Cách mạng mùa Thu với nội dung như Cách mạng Dân quyền và Ngân quyền ở Mĩ và Pháp gần hai thế kỉ trước. Ông Hồ đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mĩ:

14090200„Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.“[1]

Và ông cũng đề cao Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi!“[2]  Chính ông Hồ đã đồng ý và còn nhấn mạnh thêm, đó là những chân lí: „Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được!“[3]

Như vậy không ai có thể nói khác là, vào thời điểm đó Hồ Chí Minh đã thừa nhận mục tiêu Cách mạng mùa Thu của VN cũng giống như mục tiêu Cách mạng Dân chủ, Dân quyền và Nhân quyền của Pháp và Mĩ. Cho nên khi thành lập chính phủ đầu tiên, ông Hồ đã dùng tên chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhưng từ sau hai chiến thắng chống thực dân Pháp và chống Mĩ (riêng cuộc chiến chống Hoa kì phải nghiêm túc đặt lại: Đây là cuộc nội chiến Bắc-Nam và chiến tranh ý thức hệ, chứ không phải „chiến tranh giải phóng“) những người chiến thắng (ĐCS) đã nghĩ rằng, đây là công lao và thành công của riêng mình. Cho nên sau khi tiếp thu miền Bắc (1954) và thống nhất đất nước (1975) các chiến lợi phẩm nắm được coi như sở hữu riêng của họ: Chính quyền là độc quyền của ĐCS, quân đội và công an cũng là phương tiện độc quyền của họ, ruộng đất và tài nguyên của đất nước cũng đặt dưới quyền quản trị độc quyền của đảng (với tên mới „sở hữu của nhà nước“, nhưng nhà nước là của riêng đảng.)

Như thế không ai có thể phủ nhận được là, đây chính là quan điểm của thời phong kiến, người nổi dậy đánh thắng một triều đình rồi lên ngôi vua nắm quyền và tự ý coi mọi thứ trong xã hội là tài sản riêng của mình. Quyền lực phát ra từ nòng súng! Một câu nói từ cửa miệng Mao Trạch Đông, người sáng lập chế độ toàn trị tàn bạo ở Trung quốc, đồng thời cũng là người đỡ đầu cho chế độ toàn trị ở VN, chính nó mở ra những cơ hội cho Bắc kinh can thiệp thô bạo vào chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ VN suốt mấy thập kỉ qua, với các đỉnh cao là Hội nghị bí mật Thành đô (1990) và giàn khoan HD 981 (2014) . 

Tư duy và tâm lí về quyền lực đi ra từ sức mạnh của bạo lực bắt nguồn từ thời kì còn sơ khai của con người trong thời ăn lông ở lỗ; giữa một số người tranh giành nhau một lợi phẩm, kẻ nào giành được nó trở thành tài sản riêng. Một số người tranh giành một mảnh đất, ai đánh bại được những người khác thì sẽ giành được mảnh đất và coi đó là tài sản riêng, tự do sử dụng bao nhiêu lâu cũng được từ cha con cháu chắt…! Đây là quan điểm và tâm lí theo „luật rừng xanh“, „chúa tể sơn lâm“, kẻ mạnh ăn hiếp người yếu như đã trình bày ở trên. Nó đã được triển khai trên một qui mô rộng lớn hơn và tàn bạo hơn dưới thời phong kiến

Nhưng trong thời đại tiến bộ hiện nay thì quan điểm và tâm lí này của những người cầm quyền chế độ toàn trị ở VN chứa đựng những sai lầm căn bản so với tiến trình phát triển chung của nhân loại: 1. Sai lầm vì nhầm lẫn  giữa việc của một cá nhân với việc chung của toàn dân tộc. Đất nước không phải là tải sản riêng, nhân dân không phải là tôi tớ hay nô lệ của người chiến thắng. 2. Sai lầm về thời đại: Kéo dài quan điểm bạo lực đẻ ra quyền lực của con người thời còn ăn lông ở lỗ và thời phong biến vào thời đại mới của thế giới văn minh và khoa học.  Trong thời đại văn minh và khoa học hiện nay, chính quyền (nhà nước) không phải là sở hữu riêng của một cá nhân hay một chính đảng, nó thuộc sở hữu chung của toàn dân. 3. Họ quên và bội ước với nhân dân nên đã chống lại những lời thề trước Ba đình của người sáng lập đảng trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945, như đã trình bầy ở phần trên.

Suốt 69 năm qua những người CS tự nhận là chống phong kiến, nhưng chính họ lại khai triển với mức độ tinh vi và bạo ngược hơn về cách cầm quyền độc đoán của chế độ phong kiến của các vua chúa, coi nhân dân như nô lệ, đất nước thuộc tài sản riêng của đảng độc quyền. Thời con người còn ăn lông ở lỗ, kẻ có sức mạnh hơn người đã dùng sức mạnh của mình để đè nén người khác. Thời phong kiến kẻ thắng được làm vua. Thời XHCN cũng bắt chước thời phong kiến, coi nhà nước là của riêng của đảng (vua tập thể), quân đội, công an là phương tiện  độc quyền, tự  do sinh sát dân. Đảng dùng bộ máy công an mật vụ đàn áp người khác chính kiến, dùng cai văn nghệ -người canh gác tư tưởng- để bịt miệng dân và bẻ cong ngòi bút của người cầm bút. Như vậy, những người lãnh đạo XHCN đã học mót cách cai trị bạo ngược của thời kì Trung cổ man rợ. Vì thế họ không phải những nhà lãnh đạo văn minh mà là những người cầm đầu một đảng ác ôn phản động, hống hách lợi dụng quyền lực theo tiêu chí: Quyền lực phát ra từ nòng súng !

***

 

Dưới chế độ toàn trị công an thả cửa mớm cung, bắt nạn nhân phải nhận tội và người đứng đầu chế độ toàn trị tự do mớm lời và bịa đặt bảo đó là nhân dân muốn như vậy, biến trắng thành đen, giả thành thực. Để biện minh cho việc cầm quyền độc đoán và vô hạn từ suốt 69 năm qua, những người cầm đầu chế độ toàn trị từ thế hệ này sang thế hệ sang đã không ngừng dùng lí luận độc đoán của kẻ chiến thắng bằng bạo lực ép mọi người phải theo, bất chấp những sự thực khách quan đã diễn ra trên thế giới. Vì có bạo lực trong tay nên những người cầm đầu chế độ toàn trị đã tự do mớm lời và quyết định thay cho nhân dân. Chính Nguyễn Phú Trọng đã tự dựng đứng lên với tuyên bố „Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta“![4]“chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.”[5]

Cũng vẫn giọng điệu của kẻ cầm súng trong tay, ông Trọng còn nói cao ngạo và bất chấp sự thực: „Từ thực tế thì thấy là chúng tôi thực hiện một đảng vẫn là hiệu quả nhất „ và còn hống hách tước quyền tự quyết của nhân dân VN: „Chúng tôi nói là ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan cần phải có chế độ đa đảng“.[6] Những người tiền nhiệm của ông Trọng cũng nói theo kẻ cầm dao trong tay. Ngay trong trong Báo cáo chính trị của Đại hội 7 (1991) dưới thời Đỗ Mười – một người cực kì bảo thủ và đã từng gây ra nhiều sai lầm nghiêm trọng – cũng đã khẳng định rất độc đoán:

“Trong điều kiện nước ta hiện nay không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Thừa nhận đa đảng đối lập có nghĩa là tạo điều kiện cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc và một cách hợp pháp các lực lượng phản động, phục thù trong nước và từ nước ngoài trở về hoạt động chống tổ quốc, chống nhân dân, chống chế độ.”[7]

Nhưng về những lời tuyên bố chống lại Dân chủ đa nguyên như vậy, Đỗ Mười và Nguyễn Phú Trọng phải trả lời thẳng thắn trước nhân dân: Họ đang chống lại những lời thề của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lâp 2.9.1945 với các nội dung rất rõ như đã trình bày phần đầu? Hay họ đang thừa nhận là, người sáng lập chế độ đã đánh lừa nhân dân? Và như thế, Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945 của Hồ Chí Minh chỉ là treo đầu dê bán thịt chó?

Tuy Nguyễn Phú Trọng vừa vẽ ra một bức tranh thiên đàng cực lạc của xã hội XHCN ở VN như vừa trình bày ở trên, nhưng hình ảnh thực sự của xã hội ấy sau 69 thực hiện như thế nào?  Cũng chính Nguyễn Phú Trọng phải xác nhận chế độ độc đảng đang gây nên những bất công khủng khiếp, không chỉ đối với nhân dân mà cả trong đảng:

“Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhiều đảng viên có chức, có quyền, có điều kiện nắm giữ tài sản, tiền bạc, cán bộ;… đất nước lại phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, nhiều người lo lắng về Đảng, về bản chất Đảng, lo lắng mặt trái của cơ chế thị trường, của hội nhập quốc tế tác động vào Đảng. Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? Nhà triết học cổ điển Đức L.Foiơ Băc đã từng nói rằng, người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh. Mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai? Có giữ được bản chất là đảng cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc không?”[8]

Ông Trọng cũng phải nhìn nhận, nay nhân dân rất oán ghét chế độ toàn trị XHCN:

„Đứng trên tổng thể mà xét, hiện nay cái làm cho quần chúng oán thán nhất, gây mất lòng tin nhất, làm xói mòn bản chất Đảng đó chính là sự suy thoái cả về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; cái này thật là nghiêm trọng.“ [9]

Cũng vào dịp kỉ niệm 69 năm đi theo con đường XHCN Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã phải mỉa mai dùng lời đàm tiếu của người dân về sự suy thoái đạo đức trong chính sách cơ cấu cán bộ của chế độ toàn trị là „Nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ…”[10]

***

 

Mặc dầu thừa nhận bất công với nhân dân, tha hóa đạo đức của những kẻ có quyền trong cơ chế XHCN, tức là công nhận kết quả hoàn toàn trái với mục tiêu sau 69 năm cai trị, nhưng nhóm cầm đầu chế độ toàn trị lại vẫn ép buộc nhân dân phải tiếp tục tuân theo.  Mâu thuẫn đa chiều giữa lời nói và hành động của nhóm cầm đầu toàn trị càng thấy thêm rất rõ trong phong trào tuyên truyền với khẩu hiệu “45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”đang phát động rầm rộ trong dịp 69 năm cướp chính quyền. Trong việc này họ làm như rất kính trọng ông Hồ, nhưng thực ra chỉ là mục tiêu chính trị nhằm phục vụ ý đồ riêng của họ. Họ muốn dùng hình ảnh ông Hồ để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền lực cho cá nhân và phe nhóm. Vì nếu kính trọng ông Hồ thực sự thì họ phải thực hiện trung thực những lời thề của ông với nhân dân được ghi trong Tuyên ngôn Độc lập là thực hiện đầy đủ và toàn vẹn Dân quyền và Nhân quyền như trong Tuyên bố của Cách Pháp 1789 và Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ 1776 – như đã trình bày ở trên- , đồng thời họ cũng phải tôn trọng và thực hiện những ước nguyện cuối cùng liên quan tới cá nhân của người sáng sập đảng đã ghi trong Bản di chúc.

Hai việc liên quan trực tiếp tới cá nhân Hồ Chí Minh ông đã viết rõ trong Bản Di chúc là: 1. Ông mong được hỏa táng. 2. Khi đất nước thống nhất những người có trách nhiệm trong đảng phải thực hiện một phong trào chỉnh đốn đảng nghiêm túc và toàn diện để trong sạch hóa và phục vụ nhân dân. Cho tới nay sau 45 năm cả hai ước mơ cá nhân của Hồ Chí Minh đã hoàn toàn không được những người có trách nhiệm trong đảng qua nhiều thế hệ không thèm đếm xỉa tới, thế thì nay làm sao lại nói là “45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”?

Về hai điểm liên quan tới ước nguyện cá nhân ông Hồ, Bộ chính trị thời Nguyễn Văn Linh đã giải thích:

“Sở dĩ trước đây chưa công bố đoạn Bác viết về yêu cầu hỏa tang là vì thể theo nguyện vọng và tình cảm của nhân dân, Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) thấy cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bạn bè quốc tế có điều kiện tới viếng Bác..”[11]

Nhưng rõ ràng đây chỉ là cách mớm lời để phục vụ mục tiêu chính trị riêng cho Đảng của Bộ chính trị khi ấy, chứ tuyệt nhiên không phải ý muốn của Hồ Chí Minh. Tiếp theo bản Thông báo này còn nói thêm “Chính vì lẽ đó mà chúng ta đã xin phép  Bác về điểm này được làm khác với lời Bác dặn”.[12]Khi ấy ông Hồ đã mất, cho nên đây không phải Bộ chính trị “xin phép” mà chính Bộ chính trị đã tự ý tẩy xóa Bản Di chúc của ông sao có lợi nhất cho Đảng mà thôi! Không những vậy, 45 năm sau các Bộ chính trị sau vẫn từ chối lời ước muốn cá nhân của người sáng lập chế độ. Họ yêu và kính Hồ Chí Minh như vậy sao? Đã thế Bộ chính trị hiện nay vẫn mở miệng dối trá với chính mình và hô hoán đánh lừa nhân dân “45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”!

Còn về điểm trong Di chúc Hồ Chí Minh yêu cầu chỉnh đốn Đảng sau khi thắng Mĩ, như “chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc đời sống của các tầng lớp nhân dân….”[13] Họ cũng đã tìm cách lấp liếm, tự ý hủy bỏ và giải thích rất tùy tiện: “Việc chưa công bố một số đoạn Bác viết thêm năm 1968 về những việc cần làm  sau khi cuộc chống Mĩ, cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn, đó là vì năm 1969 khi Bác qua đời, cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước còn đang gay go ác liệt, chúng ta chưa giành được thắng lợi cuối cùng,. Nên việc công bố những đoạn nói trên lúc ấy là chưa thích hợp.”[14]

Nhưng từ sau chiến thắng1975 vẫn chưa có lần nào các Bộ chính trị sau này đã “chỉnh đốn lại Đảng” triệt để và toàn diện theo lời khuyên của ông Hồ.

Điều chính họ muốn nhắm tới trong phong trào “45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” là câu sau trong Di chúc của ông Hồ: “Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.”[15]  Nghĩa là đảng chỉ đâu thì dân phải nhắm mắt tuân theo, như theo con đường Marx-Lenin và cúi đầu trước bá quyền Bắc kinh! 

Nhưng ở đây họ đã cố tình quên một nguyên tắc cực kì quan trọng trong sinh hoạt của một quốc gia là, không một cá nhân nào dù đứng ở vị trị nào và không một tổ chức nào có quyền áp đặt đất nước và nhân dân theo những ước muốn riêng chủ quan và sai lầm. Cho nên cách làm hiện nay của những người cầm đầu chế độ toàn trị, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng, trong phong trào “45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” đã lại cho thấy sự lẫn lộn, sự cố tình cầm nhầm quyền của toàn dân tộc với ước muốn riêng chủ quan của một cá nhân hay một tổ chức. Điều này chỉ có thể xẩy ra dưới chế độ phong kiến và chế độ toàn trị: Quyền lực phát ra từ nòng súng!

Thông thường, chính trị gia nào cũng muốn mớm lời cho lợi ích riêng của họ. Nhưng khác biệt căn bản ở điểm, trong các xã hội Dân chủ đa nguyên mọi chuyện đều phải minh bạch và hoạt động của các chính khách luôn luôn bị theo dõi thường xuyên của các cơ quan công quyền độc lập và của các tổ chức dân sự độc lập, nên họ không dám tẩy xóa hoặc xuyên tạc các văn kiện quan trọng. Còn trong chế độ toàn trị độc đảng thì các vua tập thể trong Bộ chính trị có quyền tuyệt đối, kể cả thủ tiêu đối thủ, nên họ hầu như toàn quyền tẩy xóa và thêu dệt các văn kiện thế nào có lợi nhất cho sự độc quyền của họ. Bắt dân phải “thực hiện Di chúc” Hồ Chí Minh, nhưng chính  họ đã phủ nhận lời hứa của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945, họ tự ý tẩy xóa và giải thích tùy tiện Di chúc của Hồ Chí Minh theo lợi ích riêng và cũng không thực hiện các ước nguyện cá nhân của Hồ Chí Minh, như đã trình bày.

Chẳng những thế, họ còn đang bắt nhân dân phải trung thành với một đảng vẫn đang mù quáng theo chủ nghĩa Marx-Lenin, mặc dầu chủ nghĩa này đã gây ra bao nhiêu tang tóc và thiệt hại cho nhân dân! Họ còn phủ nhận một thực tế là, gần ¼ thế kỉ Liên xô, cái nôi của Thế giới CS, đã tự sụp đổ và các nước CS Đông Âu đã tan rã. Chính Nguyễn Phú Trọng cũng phải thừa nhận, không biết bao giờ có thể thực hiện được chế độ CS ở VN! Một con đường sai lầm không chỉ ở VN mà cả trên toàn thế giới, nhưng nhóm cầm đầu toàn trị ở VN lại ngoan cố tiếp tục bắt cả dân tộc 90 triệu người cứ nhắm mắt phải theo. Thật là ý muốn ngông cuồng và điên rồ của nhóm cầm đầu hiện nay vẫn tin rằng quyền lực phát ra từ nòng súng!

***

 

Nói tóm lại, nhân dịp 69 năm cướp chính quyền áp đặt chế độ toàn trị, Bộ chính trị, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng, hãy nghiêm túc trả lời công khai với nhân dân ba câu hỏi:

Có nhìn nhận trong Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 chính Hồ Chí Minh đã thừa nhận các nguyên tắc Dân quyền và Nhân quyền, tức là nền tảng của chế độ Dân chủ đa nguyên ngày nay?

Hay thừa nhận lời hứa trên của Hồ Chí Minh chỉ là treo đầu dê bán thịt chó?

Chế độ toàn trị theo  mô hình Marx-Lenin đã được áp đặt 69 năm ở VN, đang đẩy đất nước tụt hậu về kinh tế so với hầu hết các nước trong khu vực, nhân dân vẫn phải sống trong nghèo đói, lạc hậu và không được hưởng các quyền tự do dân chủ căn bản. Trong khi ấy những kẻ có quyền lực thì tham nhũng, đàn áp và tha hóa đạo đức. Chẳng những thế, chế độ toàn trị còn đang xô đẩy đất nước vào lệ thuộc bá quyền Bắc kinh!

Tình hình cực kì bi đát trong mọi mặt và cả nguy cơ bị lệ thuộc phương Bắc ai cũng biết, các Ủy viên Bộ chính trị còn biết rõ hơn. Vậy các người cầm đầu chế độ toàn trị hiện nay, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng, còn có quyền tiếp tục ôm lấy các ghế cao và ra lệnh bắt 90 triệu nhân dân cứ phải tiếp tục cúi đầu vâng lệnh độc đoán và mù quáng của các ông nữa chăng?

Ba câu hỏi cực kì quan trọng trên liên quan trực tiếp tới vấn đề căn bản là, quyền lực của ĐCS có còn chính đáng hay không?

Ở đây tính tự trọng và lòng thành thực vừa là thử thách vừa là thước đo cho toàn thể Bộ chính trị, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Nhân dân cả nước, kể cả những đảng viên tiến bộ, đang theo dõi và sẽ có thái độ cương quyết trước những việc làm của các ông! 

Âu Dương Thệ

 

Ghi chú:

 

[1] . Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Tập 1, Hà nội 1980, tr.351

[2] . tương tự (tt)

[3] . tt

[4] . Nguyễn Phú Trọng trả lời phỏng vấn của thông tấn xã Ấn Express Ấn 26.2.10 

[5]. Nguyễn Phú Trọng diễn văn tại Cuba, CS 11.4.12

[6] . Như 4

[7] . Báo cáo chính trị Đại hội 7

[8] . Nguyễn Phú Trọng, diễn văn tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc 27.2.12

[9] . tt

[10] . Trương Tấn Sang, Tạp chí CS 15.8.14

[11] . Thông báo của Bộ chính trị BCHTU ĐCSVN về một số vấn đề liên quan tới Di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 19.8.1989, Nhân dân 1.9.1989

[12] . tt

[13] . tt

[14] . tt

[15] . Di chúc của Hồ Chí Minh

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

            www.dcpt.org     hay    www.dcvapt.net

                       Địa chỉ:  [email protected]

       Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam    

Read more

Con ong tài ba hơn các nhà khoa học?

VRNs (01.09.2014) – Sài Gòn - Học đạo là một trong ba chân kiềng quan trọng của việc sống đạo đối với tất cả mọi Kitô hữu ở khắp nơi trên thế giới nói chung, và với mỗi Cursillista (người đã học khóa ba ngày) của Phong trào Cursillo nói riêng. Kiềng ba chân đó là: Sùng đạo, Học đạo và Hành đạo. Bởi lẽ, nếu ta không học hỏi liên tục hầu hiểu biết về quyền năng tuyệt đối, và lòng yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa đối với chúng ta để chúng ta  có lòng tin tưởng sắt son, mạnh mẽ nơi Ngài thì làm sao ta có lòng Cậy trông, và đặc biệt là lòng Yêu mến Thiên Chúa được.

Ông bà ta đã nói: “Vô tri bất mộ” là như thế. Và hơn nữa, sự học không có trang cuối cùng. Càng học trí tuệ càng được mở mang, và ta lại càng nhận rõ hơn mình quá nhỏ bé trước vũ trụ bao la này. Sự học giúp ta biết mình hơn, biết người hơn, và biết khiêm tốn hơn.

Thánh Vịnh chương 19 (18) câu 2 đã dạy chúng ta: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay người làm”.

Câu Thánh Vịnh trong Kinh Thánh thật ngắn gọn, nhưng hàm chứa ý nghĩa bao la, sâu thẳm đã mời gọi chúng ta cùng ra sức tìm hiểu để thấy được phần nào quyền năng vô biên, và vinh quang cao cả của Thiên Chúa ở ngay trong các tạo vật, do Ngài yêu thương con người mà tạo dựng.

Trong ý hướng đó, trang viết này dành để tìm hiểu một số điều kỳ thú nơi loài ong. Chúng ta biết được bao điều kỳ diệu lạ lùng, thú vị của loài ong là nhờ vào những theo dõi, nghiên cứu, khám pha với bao khổ cực, hy sinh nhiều năm tháng, có khi mất cả đời người của bao người, và các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới từ bao đời nay.

Tổ chức đời sống trật tự và “Qui trình dân chủ tối ưu” của loài ong

Tổ chức đời sống trật tự của loài ong

140832009Ong, loại côn trùng được coi là có tổ chức xã hội cao nhất, hơn cả kiến, mối, mọt. Chúng sống theo đàn, mỗi đàn khoảng từ 25.000 đến 50.000 con. Mỗi đàn chỉ có một con ong chúa, mấy chục ngàn ong thợ, ong đực chiếm khoảng 1% đàn ong, ong non..

Ong chúa cánh ngắn, thân to hơn các loại ong khác, và chỉ có nhiệm vụ đẻ trứng. Trung bình ong chúa đẻ 1500 trứng ong thợ một ngày. Ong chúa chọn ngày thích hợp đẻ ong đực non, và ong chúa non, chuẩn bị tạo vương quốc mới. Ong chúa sống từ 3 đến 5 năm.

Ong thợ thân nhỏ, cánh dài, đông nhất trong đàn, có nhiều nhiệm vụ khác nhau: làm tổ, bảo vệ và giữ điều hòa nhiệt độ tổ từ 33 đến 35 độ C, nuôi ong con, thám thính, tìm vùng có hoa lấy mật, tạo ra mật…

Ong đực không phải làm gì cả, chỉ ra khỏi tổ một lần đuổi theo ong chúa để gieo tinh. Con nào khỏe nhất bay theo kịp ong chúa được giao phối với ong chúa rồi sau đó cả đàn ong đực đều chết hết vì bị bỏ đói.

Hành trình tạo vương quốc mới “chia bầy”,và “qui  trình dân chủ tối ưu”.

Một công trình nghiên cứu thú vị của Thomas Seeley thuộc trường Đại học Cornell (Hoa Kỳ) về tiến trình chia bầy của loài ong khi đàn ong quá đông đã cho ta biết:

Đầu tiên, vài trăm con ong trinh sát tỏa ra các hướng để tìm địa điểm xây tổ thích hợp.

Tiêu chuẩn chọn lựa, ong thường chọn hốc cây rỗng hướng nam, to khoảng hơn 20 lít, ở trên cao cách mặt đất trên 3met, miệng hốc không quá 30 cm vuông.

Vũ điệu báo tin của ong. Giải thưởng Nobel về Sinh lý và Y khoa năm 1973 đã trao cho 3 nhà khoa học là Karl Ritter Von Frisch (1886-1982), Nikolaas Tinbergen và Konrad Loenz đã cho ta biết loài ong có thể báo các  thông tin  qua các vũ điệu.

Với những vũ điệu khác nhau của ong thám thính vũ trước tổ, đàn ong sẽ nhận ra  khoảng cách từ tổ đến nơi có hoa; các đặc điểm của nơi có thể làm tổ mới …. Bầy ong lại cử từng đoàn đi kiểm tra lại. Những đoàn thám thính tự rút lui khi nhận thấy nơi nhóm mình giới thiệu thua kém các nhóm khác.

Cuối cùng chỉ còn một địa điểm duy nhất được đàn ong thống nhất chọn lựa, không có sự tranh chấp dành dật. Tất cả diễn ra không quá 16 giờ. Sau đó một nửa đàn ong do một ong chúa dẫn đi, một nửa ở lại với một ong chúa đã trưởng thành.

Ong tài ba hơn các nhà toán học, nhà vật lý học, nhà hóa học và nhà kiến trúc

Quan sát tổ ong

Nhìn vào miệng các tổ ong ta thấy, đó là vô số hình lục giác đều (sáu góc, sáu cạnh) được con ong xây dựng liền nhau, mỗi cạnh đo được khoảng  2,7mm, cạnh chiều sâu mỗi khối lục lăng đo được 11,3mm. Miệng tổ ăn thông với một khối hình lục lăng. Con ong đã được bẩm sinh làm như thế. Đây quả là một điều kỳ diệu. Nhưng điều kỳ diệu đó còn lạ lùng hơn khi quan sát và đo lường các đáy chung của các khối lục lăng tổ. Các đáy của các khối lục lăng đó không phẳng như miệng tổ; đáy tổ là sự kết hợp của ba hình thoi bằng nhau.

Năm 1712 nhà khảo cứu Maraldi người Ý đã đo được như sau: góc tù hình thoi ở đáy tổ ong là 109 độ 28 phút; góc nhọn là 70 độ 32 phút (Phỏng theo tài liệu Giáo sư Hoàng Xuân Hãn 1908- 1996; HXH tập I trang 1044, và Bachkhoatrithức. VN).

Giải bài toán: thể tích lớn nhất mà diện tích xung quanh nhỏ nhất.

Bài toán có thể tóm tắt như sau: “hãy làm một cái bình theo hình thù như thế nào để chứa được nhiều nước nhất, mà lại tốn diện tích xung quanh ít nhất. Nhiều bình ghép lại chiếm không gian ít nhất?” (hai nhà Vật lý học Réaumur và Leomiule người Pháp đưa ra).

Bài toán trên đã như một thách đố lớn với các nhà toán học trên thế giới. Nhiều nhà toán học đã sử dụng các phép tính cao cấp để tìm kết quả.  Sau nhiều thập niên nghiên cứu, họ đã thống nhất với nhà toán học Kenige người Thụy Sỹ là phải làm cái bình  đúng như tổ ong đã mô tả trên thì chứa được nhiều nước nhất, và tốn diện tích xung quanh nhỏ nhất; chứ không phải khối vuông, khối ống, khối cầu hay khối tam giác…Bởi vì, nếu muốn có một miệng tổ rộng 20 mm vuông như tổ ong, mà làm theo hình tam giác đều thì chu vi mất 20,4mm; làm theo hình vuông thì chu vi mất là 17,9m; làm theo hình lục lăng đều của ong thì chu vi chỉ mất 16,6mm. Các khối ống và khối cầu khi ghép với nhau có nhiều khe hở tốn diên tích, nên không được tính đến.

Kenige cho biết chỉ có một chút khác biệt là góc tù và góc nhọn của ba hình thoi ở đáy tổ ong là 109 độ 28 phút và 70 độ 32 phút thì các nhà toán học tính là 109 độ 26 phút và 70 độ 34 phút. Nhà toán học Kenige kết luận con ong sai 2 phút ở góc tù và nhọn ở 3 hình thoi đáy bình chung.

Năm1743 nhà toán học người Anh Colin Maclaurin đã tính lại, kết quả cuối cùng hoàn toàn đúng với số đo hai góc của tổ ong như nhà khảo cứu người Ý Maraldi đã đo năm 1712. Lý do Kenige tính sai 2 phút là vì ông dùng bảng Logarithme có số lẻ sai (nguồn: Phỏng theo sách 10 vạn câu hỏi vì sao, nhà xuất bản Mỹ Thuật).

Từ kết quả đo lường trên, các nhà khoa học kết luân phải làm bình đúng như tổ ong sẽ tốn ít diện tích và không gian nhất, mà chứa được thể tích lớn nhất.

Ngoài ra, các nhà khoa học còn cho biết, xây dựng theo khối lục lăng của tổ ong sẽ bền vững nhất, khi có các tác động lực bên ngoài vào tổ. Trong lúc, lực tác dụng vào các hình khối khác thường bị biến dạng và có khuynh hướng biến thành khối lục lăng như loài ong đã làm.

Còn sáp ong được chế tạo ra sao lại là một chuyện lạ nữa! Con ong hút mật vào bụng, sau một ngày một đêm, những hạch sáp ở bụng ong biến hóa mật ong thành sáp rồi tiết ra 4 đôi hạch sáp ở dưới bụng. Sáp được miệng ong nhào nặn, khi ra không khí sáp này trở nên dẻo quánh để đắp tổ ong. Cứ 3kg mật và ít phấn hoa tạo ra 1 kg sáp. Sáp ong là môi trường tinh khiết nhất, kháng khuẩn mạnh nhất. Việc mật ong hóa sáp khiến ta liên tưởng tới con tằm chỉ ăn lá dâu vào trong bụng, mà tạo ra sợi tơ vàng óng ánh cho ta những nén tơ đẹp đẽ giá trị (Nguồn: USAPHA chuyên gia về ong mật).

Mật ong có công dụng ra sao lại là một chuyện dân gian không bao giở kể hết, nào là giúp trẻ còi mau lớn, chữa ho, đau bao tử, chữa lành vết thương… Chính Tiến sỹ Phùng Hữu Chính, Giám đốc Cty ong miền núi cho biết: mật ong có trên 180 chất gồm đường đơn, protein, axit amin….Mật ong và sáp ong có khả năng kháng khuấn kỳ diệu. Người ta đang tìm hiểu hơn 1143 loài thực vật và hoa mà loai ong ưa thích thường lui tới để hút nhụy hầu tìm ra loài cây, loài hoa  nào kháng khuẩn cao nhất.

Loài ong được thiên phú làm như thế theo bản năng chứ ong đâu có trí khôn học hành gì như các nhà khoa học. Như thế, ong quả thực đã hơn cả các Thần Đồng Toán học, Thần Đồng Vật lý, Thần đồng Hóa học , Thần Đồng Kiến trúc và các khoa học khác!

Con người ngày nay đã vận dụng những ưu điểm của tổ ong vào việc xây dựng hiện đại trong thiết kế cánh máy bay, vách vệ tinh, tầu con thoi hay vô số cấu trúc trong nhà, đồ nội thất, gia dụng, thiết bị văn phòng, điện tử và các sản phẩm khác (Nguồn: Báo Nông Nghiệp VN 13-11-2013). 

Dẫu nhân loại ngày nay đã tiến bộ nhiều, nhưng hiểu biết của loài người trước vũ trụ muôn loài do Thiên Chúa tạo dựng mới chỉ như một giọt nước giữa đại dương; một hạt cát trong sa mạc; một chiếc lá giữa rừng cây.,.

Inhaxio Đặng Phúc Minh

Tác giả gởi cho VRNs

Read more

Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm khai mạc sứ vụ tại Mỹ Tho

VRNs (01.09.2014) – Tiền Giang - Đức Tân Giám mục Giáo phận Mỹ Tho, Phêrô Nguyễn Văn Khảm đã cử hành Thánh lễ nhậm chức Giám mục Giáo phận, vào lúc 9 giờ 30 sáng nay, thứ bảy 30 tháng 8 năm 2014, tại nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho tại số 37, đường Hùng Vương, phường 7, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

140832006

Cách đây hơn một tháng, vào ngày 26 tháng 7, Phòng Báo chí Toà Thánh đã loan tin: “Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, cho đến nay là Giám mục hiệu toà Trofimiana làm Giám mục giáo phận Mỹ Tho (Việt Nam)”.

Đức Cha Phêrô được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Sàigòn ngày 15.10.2008. Ngài chọn châm ngôn Giám mục: “Hãy theo Thầy”. Từ tháng 06.2011 đến 19.03.2012 ngài giữ chức Giám đốc Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm đã đảm nhiệm các chức vụ: Phó Tổng Thư ký (nhiệm kỳ 2010–2013 và 2013–2016), Chủ tịch Uỷ ban Giáo dục Công giáo (2009–2010), Chủ tịch Uỷ ban Truyền thông Xã hội (nhiệm kỳ 2010–2013).

Cùng đồng tế trong Thánh Lễ tạ ơn nhậm chức tại nhà thờ Chính Tòa Mỹ Tho, có Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam, cùng với 16 vị Tổng Giám Mục và Giám Mục các giáo phận Hà Nội, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Xuân Lộc, Long Xuyên, Cần Thơ v.v… cùng nhiều linh mục trong và ngoài giáo phận Mỹ Tho.

140832004

Trong bài giảng Lễ, ngỏ lời với các thành phần Dân Chúa trong giáo phận Mỹ Tho, Đức Cha Phêrô bày tỏ ý thức của ngài về giới hạn của bản thân mình, và ngài nói:

“Thế nhưng được Thiên Chúa kêu gọi, cùng với tiên tri Isaia, tôi lấy hết can đảm để thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, này con đây, xin Chúa sai con”. Và tôi tin tưởng anh chị em đón nhận tôi hôm nay cũng vì tâm tình sứ vụ đó chứ không vì lý do nào khác”.

Và ngài bày tỏ mong muốn và cũng là đường hướng mục vụ của ngài: “Người ta vẫn nói yêu nhau không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng. Cho nên tôi tin là khi chúng ta, tất cả cộng đoàn giáo phận, tất cả mọi thành viên trong gia đình giáo phận, khi chúng ta cùng chung một hướng nhìn về sứ vụ, thì chính sứ vụ đó liên kết chúng ta lại trong tình hiệp nhất, trong tình yêu thương, để trong ánh sáng Phục Sinh và quyền năng của Chúa Thánh Thần, chúng ta cùng nhau xây dựng giáo phận Mỹ Tho thân yêu này thành cộng đoàn hiệp nhất yêu thương và dấn thân cho sứ vụ như định hướng mục vụ mà chính anh chị em đã cùng với Đức Tổng Giám Mục Phaolô xây dựng nhiều năm qua”.

140832003

Cuối cùng ngài nhắn nhủ cộng đoàn: “Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội là thánh Bổn Mạng của nhà thờ Chính Tòa, ước gì chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận hồng ân Chúa Thánh Thần để hăng say loan báo Tin Mừng bình an và ơn tha thứ của Chúa cho mọi người”.

Chúng ta cùng tạ ơn Chúa, cầu nguyện cho Đức tân Giám Mục chính tòa và cầu nguyện cho giáo phận Mỹ Tho nhân dịp đặc biệt này.

140832005

Giáo phận Mỹ Tho được Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII thành lập ngày 24.11.1960, theo sắc chỉ Venerabilium Nostrorum thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. Giáo phận Mỹ Tho hiện có 133 linh mục triều, 3 linh mục Dòng. Diện tích Giáo phận Mỹ Tho gồm trọng hai tỉnh Tiền Giang và Long An, cùng một phần của tỉnh Đồng Tháp. Đức cha Phêrô là vị Giám mục chánh tòa thứ tư, kể từ khi thành lập Giáo phận Mỹ Tho.

Gioan Lê Quang Vinh

Read more