Từ điển Việt-Bồ-La: Giúp hiểu rõ ý nghĩa một số kinh đọc Chúa nhật và Lễ trọng

VRNs (24.04.2014) – Sài Gòn – Trong những ngày qua tôi đã gởi đến quý vị phần I gồm ý nghĩa một số từ cổ trong các kinh đọc thường ngày, phần II tiếp theo đây là ý nghĩa các từ cổ trong các kinh đọc Chúa Nhật, Lễ Trọng các Kinh Cầu.

Trong phần I, một số độc giả thắc mắc tại sao ngoài Từ điển Việt – Bồ – La tôi lại ưa trích dẫn “Phép giảng tám ngày” hoặc “Tự Vị Annam Latinh” của Đức Cha Bá Đa Lộc. Xin thưa:

‒                    Thứ nhất, như mọi người đã biết cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đã cho xuất bản ba quyển sách đầu tiên bằng Chữ Quốc Ngữ tại Roma năm 1651: (1).Ngữ pháp tiếng Việt, in chung trong phần đầu cuốn Từ điển Việt – Bồ – La; (2).Từ điển Việt – Bồ – La; (3).Phép giảng tám ngày. Bộ ba cuốn sách này có thể cho chúng ta cái nhìn tổng quan về tiếng Việt thế kỉ XVII, thời các giáo sĩ đến truyền giáo tại Việt Nam. Một cuốn ngữ pháp, một cuốn từ điển và một tác phẩm văn xuôi có thể nói đó là bộ ba điển hình có thể dùng để khảo sát một ngôn ngữ nào đó trong một giai đoạn lịch đại nào đó. Chính vì thế, để lấy thêm cứ liệu dẫn chứng ngoài Từ điển Việt – Bồ – La tôi thường trích thêm “Phép giảng tám ngày” là tác phẩm văn xuôi bằng chữ quốc ngữ đầu tiên, của cùng một tác giả, cùng một lần xuất bản.

‒                    Thứ hai, sau “Từ điển Việt – Bồ – La” hơn 100 năm (1772-1773), cuốn từ điển tiếng Việt thứ hai chào đời đó là cuốn “Tự Vị Annam Latinh” của Đức Cha Bá Đa Lộc (Pierre Pigneaux de Béhaine). Hầu hết các nhà nghiên cứu Việt ngữ học đều công nhận “Tự Vị Annam Latinh” có kế thừa “Từ điển Việt – Bồ – La”; Cụ Nguyễn Đình Đầu trong phần “thay lời giới thiệu – Tự Vị Annam Latinh” cũng đã ghi nhận như thế. Hai cuốn “Từ điển Việt – Bồ – La” và “Tự Vị Annam Latinh” gần như là “cặp đôi hoàn hảo”, vì hai cuốn từ điển này đặc trưng phản ánh diện mạo tiếng Việt Trung Đại. Từ điển Việt – Bồ – La làm nền tảng cho Tự Vị Annam Latinh[1] và ngược lại Tự Vị Annam Latinh bổ sung và hoàn thiện Từ điển Việt – Bồ – La.

Đó là lý do tại sao tôi thường trích dẫn kèm “Phép giảng tám ngày” và “Tự Vị Annam Latinh” mỗi khi Từ điển Việt – Bồ – La không đáp ứng đủ để giải thích các từ cổ.

Phần tiếp sau đây là giải nghĩa các từ cổ trong các kinh đọc Chúa Nhật, Lễ Trọng và các Kinh Cầu.

1.    Kinh Nghĩa Đức Tin

Ngày Chúa Nhật hôm nay (hay lễ trọng nào thì đọc: ngày lễ…), chúng con hợp nhau kính lạy thờ phượng Chúa, khong khen cảm tạ ơn Chúa về mọi ơn lành Chúa đã ban cho chúng con, và phạt tạ Chúa vì những tội lỗi chúng con đã phạm mất lòng Chúa, thì chúng con dám xin Chúa hãy khứng ban những ơn cần kíp cho chúng con được rỗi linh hồn. Nên chúng con cả lòng tin vững vàng mọi điều đạo thánh Chúa dạy, nhất là những điều cần kíp này: là có một Đức Chúa Trời phép tắc vô cùng dựng nên trời đất, mà Người có Ba Ngôi: Ngôi Thứ Nhất là Cha, Ngôi Thứ Hai là Con, Ngôi Thứ Ba là Thánh Thần, Ba Ngôi cũng một tính một phép cho nên Ba Ngôi cũng một Chúa mà thôi.

Chúng con tin Ngôi Thứ Hai ra đời làm người sinh bởi Bà Maria đồng trinh, đặt tên là Giêsu; ở thế gian ba mươi ba năm, đoạn chịu chết trên cây thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ, đến ngày thứ ba Người sống lại, khỏi bốn mươi ngày lên trời, đủ mười ngày lại cho Đức Chúa Thánh Thần xuống trên các Thánh Tông Đồ và Hội Thánh mới lập; ai chẳng thông công cùng Hội Thánh ấy thì chẳng được rỗi linh hồn; mà linh hồn là giống thiêng liêng chẳng hề chết được; và đến ngày tận thế xác loài người ta sẽ sống lại mà chịu phán xét, kẻ lành lên thiên đàng hưởng phúc đời đời, kẻ dữ sa hỏa ngục chịu phạt vô cùng.

Mà chúng con tin các sự ấy mà thôi thì chưa đủ cho được lên thiên đàng; song phải giữ Mười Điều Răn Đức Chúa Trời cùng Sáu Luật Điều Hội Thánh, và làm những việc lành phúc đức. Nhân vì sự ấy chúng con hằng phải sợ hãi và trốn tránh các tội lỗi, nhất là bảy mối tội đầu, là căn nguyên mọi tội lỗi khác.

Vậy chúng con phải ân cần lo lắng mà năng chịu các phép Bí Tích Đức Chúa Giêsu đã truyền, là những phương linh nghiệm cho chúng con được nên thánh. Có bảy phép Bí Tích mà thôi; song phép Rửa Tội, phép Mình Thánh Chúa cùng phép Giải Tội là ba phép cần kíp hơn cho chúng con được rỗi.

Ấy vậy, chúng con hằng phải ra sức lo lắng thể nào mà chịu các phép trọng ấy cho nên, cùng tin thật vững vàng mà giữ cẩn thận các điều trước này, thì mới được hưởng phúc thanh nhàn đời đời kiếp kiếp. Amen.

-                    Trong kinh này chúng ta gặp cụm từ “kính lạy thờ phượng Chúa”: nếu tra Từ điển tiếng Việt hiện đại[2] thì cả hai từ này đều không có. Từ điển Việt – Bồ – La giải thích “kính lạy” nghĩa là “thờ lạy”, “thờ phượng” cũng có nghĩa là “thờ lạy”. Trong tiếng Việt việc ghép hai từ đồng nghĩa để làm tăng mức độ biểu cảm của ý nghĩa từ ngữ mình muốn diễn đạt đó là cách thường thấy, ví dụ: đời đời kiếp kiếp, thiên thu vạn đại, giàu sang phú quý,… Các giáo sĩ thời ấy đã áp dụng cách ghép từ có trong tiếng Việt này, để có ý nhấn mạnh đến việc thờ lạy Chúa.

-                    Cụm từ “khong khen cám tạ ơn Chúa”: Từ điển Việt – Bồ – La có mục từ “khen” với nghĩa là “khen”, không có mục từ “khong khen”. Tự Vị Annam Latinh có mục từ “khong khen” với nghĩa là “khen” dưới dạng từ láy, trong đó yếu tố “khong” là yếu tố không có nghĩa. Nếu cụm từ “khong khen cám tạ ơn Chúa” mà bỏ từ láy “khong khen” đi, thay vào đó bằng từ “khen”, thì cụm từ ghép “khen cám tạ” sẽ không đối ứng về mặt âm và không vần, không điệu, rất khó đọc. Các giáo sĩ đã chọn lựa từ rất hợp lý bằng cách ghép từ láy “khong khen” với từ “cám tạ” vừa để bổ trợ với nhau về mặt nghĩa, vừa tạo thành từ ghép song tiết nhịp đôi rất dễ đọc, có nghĩa là “ca khen cám tạ ơn Chúa”.

-                    Cụm từ “ phạt tạ Chúa”: Từ điển Việt – Bồ – La không có từ “phạt tạ”, Tự Vị Annam Latinh chú thích từ “phạt tạ” có nghĩa là “khiêm tốn xin tha thứ”. Như thế, nghĩa của nguyên câu kinh sẽ là “khiêm tốn xin Chúa tha thứ vì những tội lỗi chúng con đã phạm mất lòng Chúa”.

-                    Tiếp đến là cụm từ “thì xin Chúa hãy khứng ban những ơn cần kíp”: từ “khứng” trong Từ điển Việt – Bồ – La có nghĩa là “muốn” và nghĩa mà từ điển tiếng Việt hiện đại ghi chú là “ưng, thuận”. Nghĩa trong Từ điển Việt – Bồ – La là nghĩa chủ động “muốn”, nghĩa trong tiếng Việt hiện đại là nghĩa thụ động “ưng, thuận”. Nghĩa trọn vẹn của câu cách dễ hiểu là: “xin Chúa muốn (chủ động theo ý Chúa) ban những ơn cần kíp cho chúng con”. Có thể hiểu thêm nghĩa của câu kinh là: ơn ban là những gì tùy thuộc vào tình thương và lòng nhân lành của Chúa, do ý Chúa “muốn” chứ không phải do chúng con “kèo nài” và Chúa chỉ có việc “ưng, thuận” hay bằng lòng thôi.

-                    Cụm từ “cả lòng” đã giải thích trong “Kinh Ăn Năn Tội” ở bài trước. “Cả lòng tin vững vàng” nghĩa là dồn hết lòng tin vào Chúa, tin cách vững vàng mạnh mẽ.

-                    Cụm từ “Ba Ngôi cũng một tính, một phép”: Từ điển Việt – Bồ – La có từ “phép” với bốn nét nghĩa khác nhau, nghĩa từ “phép” trong cụm từ này là “quyền năng” đây là nghĩa mà từ điển tiếng Việt hiện đại không có. Chúng ta cũng gặp từ “phép” với nghĩa “quyền năng” trong cụm từ “phép tắc” đã giải thích trong Kinh Cậy ở bài trước. Cụm từ “Ba Ngôi cũng một tính, một phép” nghĩa là: Ba Ngôi cùng một bản tính, cùng một quyền năng như nhau. Từ điển Việt – Bồ – La cũng giải thích “tính” có nghĩa là bản tính, bản thể. Chúng ta cũng gặp nghĩa từ “phép” này trong cụm từ “phép lạ” nghĩa là thể hiện quyền năng cách lạ lùng.

-                    Cụm từ “khỏi bốn mươi ngày lên trời”: Từ điển Việt – Bồ – La giải thích từ “khỏi” nghĩa là “đã vượt qua, đã qua”, tác giả lấy ví dụ: “khỏi hai ngày” nghĩa là “đã qua hai ngày, như vậy khỏi bốn mươi ngày lên trời” nghĩa là “qua bốn mươi ngày, lên trời”…

-                    Trọn vẹn câu kinh là: “Chúng con tin Ngôi Thứ Hai ra đời làm người sinh bởi Bà Maria đồng trinh, đặt tên là Giêsu; ở thế gian ba mươi ba năm, đoạn chịu chết trên cây thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ; đến ngày thứ ba Người sống lại; qua bốn mươi ngày, lên trời…” Qua câu kinh này, chúng ta gặp cả vấn đề về ngữ pháp và việc đặt dấu ngắt câu; nhưng tôi tạm dừng ở việc dùng Từ điển Việt – Bồ – La để soi sáng ý nghĩa các từ ngữ; còn phần về việc giải thích ngữ pháp và việc dùng dấu ngắt câu của tiếng Việt thế kỉ XVII, tôi sẽ dành giải thích và gởi đến độc giả trong các nghiên cứu sau này.

-                    Cụm từ “linh hồn là giống thiêng liêng”: từ “giống” trong tiếng Việt thế kỉ XVII cũng có những nét nghĩa như trong tiếng Việt hiện đại, nhưng kết hợp “giống thiêng liêng” lại là kết hợp của tiếng Việt thế kỉ XVII. Tiếng Việt hiện đại chỉ có kết hợp “loài thiêng liêng” không ai nói “giống thiêng liêng” cả; mặc dù nghĩa như nhau, nhưng bối cảnh kết hợp và chọn lựa từ của hai giai đoạn lịch sử hoàn toàn khác nhau.

-                    Cụm từ “nhân vì sự ấy” nghĩa là “bởi vậy, vì vậy”, cụm từ này chúng ta có thể gặp trong rất nhiều kinh cũng như các chặng đàng thánh giá trong các sách kinh.

-                   Cụm từ “phương linh nghiệm”: nếu tra từ điển tiếng Việt hiện đại chúng ta sẽ hiểu cụm từ này nghĩa là “phương cách có hiệu quả, hiệu nghiệm”, nhưng nếu hiểu theo nghĩa này thì ý nghĩa của câu kinh sẽ rất hạn hẹp. Từ điển Việt – Bồ – La giải thích “phương linh nghiệm” là “phương thức siêu nhiên”. Câu kinh: “là những phương linh nghiệm cho chúng con được nên thánh” nghĩa là “là những phương thức siêu nhiên giúp chúng con được nên thánh”.

-                    “Vậy chúng con phải ân cần lo lắng”: Từ “ân cần” trong tiếng Việt hiện đại chẳng có nét nghĩa nào phù hợp với câu kinh. Từ điển Việt – Bồ – La giải thích “ân cần” nghĩa là “chăm chỉ”. Nghĩa của câu kinh là “chăm chỉ siêng năng chịu các phép Bí Tích Đức Chúa Giêsu đã truyền”.

-                    Chúng ta cũng gặp lại từ “chịu” với nét nghĩa tích cực trong cụm từ “chịu các phép trọng”, là nét nghĩa mà chỉ trong tiếng Việt thế kỉ XVII mới có.

-                    Cụm từ “hưởng phúc thanh nhàn”: Từ điển Việt – Bồ – La giải thích “thanh nhàn” nghĩa là “không thay đổi, vững bền”, “phúc thanh nhàn” nghĩa là phúc vững bền, không thay đổi. Chúng ta gặp lại kiểu ghép các từ đồng nghĩa để làm gia tăng nét nghĩa muốn diễn tả “hưởng phúc thanh nhàn đời đời kiếp kiếp”: nghĩa là “hưởng phúc vững bền mãi mãi”.

2.    Kinh Mười Điều Răn

Đạo Đức Chúa Trời có mười điều răn

Thứ nhất: thờ phượngmột Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.

Thứ hai: chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ.

Thứ ba: giữ ngày chủ nhật.

Thứ bốn: thảo kính cha mẹ.

Thứ năm: chớ giết người.

Thứ sáu: chớ làm sự dâm dục.

Thứ bảy: chớ lấy của người.

Thứ tám: chớ làm chứng dối.

Thứ chín: chớ muốn vợ chồng người.

Thứ mười: chớ tham của người.

Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.

-                    Kinh “mười điều răn”, từ “răn” trong tiếng Việt hiện đại không có nghĩa phù hợp với kinh này. Từ điển Việt – Bồ – La giải thích “răn” là “lệnh truyền”, như vậy chúng ta hiểu “mười điều răn” nghĩa là “mười lệnh truyền” của Thiên Chúa. Cũng như thế chúng ta hiểu “sáu điều răn Hội Thánh” nghĩa là “sáu điều Hội Thánh truyền lệnh” buộc phải giữ.

-                    Trong kinh này chúng ta gặp lại từ “thờ phượng” nghĩa là “thờ lạy” đã giải thích trong Kinh Nghĩa Đức Tin; cụm từ “kính mến” nghĩa là “kính yêu” đã giải thích trong Kinh Mến. Có một cụm từ cổ đặc biệt “mà chớ”, một thời gian nhiều nơi đã không hiểu rõ nghĩa và sửa lại “mà nhớ”. Thực ra người sửa lại thành “mà nhớ” cũng có dụng ý của người sửa, nhưng nghĩa của “mà chớ” rất hay và phù hợp với nghĩa toàn văn của câu kinh. Từ điển Việt – Bồ – La ghi “mà chớ” nghĩa là “không có gì hơn nữa, không còn gì hơn nữa”, tác giả còn giải thích thêm “có bấy nhiêu mà chớ” nghĩa là “có bấy nhiêu và không có gì hơn nữa, không có gì thêm nữa”. Câu kinh “Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ” nghĩa là mười điều răn ấy chỉ tóm lại có hai điều thôi, không có gì hơn nữa, không cần phải thêm gì nữa, chỉ hai điều tóm lại ấy là đủ rồi.

3.    Kinh Sáu Điều Răn

Hội Thánh có sáu điều răn:

Thứ nhất: xem lễ ngày Chủ nhật, cùng các ngày lễ buộc.

Thứ hai: chớ làm việc xác ngày Chủ nhật cùng các ngày lễ buộc.

Thứ ba: xưng tội trong một năm ít là một lần.

Thứ bốn: chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu trong mùa Phục Sinh.

Thứ năm: giữ chay những ngày Hội Thánh buộc.

Thứ sáu: kiêng thịt ngày thứ sáu, cùng những ngày khác Hội Thánh dạy.

-                    Trong kinh này chúng ta gặp từ “xem”, nếu dùng từ điển tiếng Việt hiện đại thì nghĩa không phù hợp một chút nào, có lẽ vì nghĩa hiện đại này mà có các bạn trẻ ngồi trên xe máy ngoài đường, ngồi gốc cây, ngồi tít ngoài xa xăm để “xem lễ”. Từ điển Việt – Bồ – La có mục từ “xem lễ thánh” nghĩa là “tham dự Thánh Lễ”, không phải là đứng ngoài xa mà xem, mà là dự phần vào hoạt động đó. Đó là nghĩa chính mà mỗi người cần hiểu rõ trong điều răn Hội Thánh đòi hỏi khi dự lễ. Chúng ta cũng gặp lại từ “chịu Mình Thánh” với nghĩa của từ “chịu” nghĩa tích cực mà từ điển tiếng Việt hiện đại không có, đã được giải thích trong Kinh Truyền Tin.

4.    Kinh Bảy Phép Bí Tích

Đạo Đức Chúa Trời Có Bảy Phép Bí Tích:

Thứ Nhất: Là Phép Rửa Tội.

Thứ Hai: Là Phép Thêm Sức.

Thứ Ba: Là Phép Mình Thánh Chúa.

Thứ Bốn: Là Phép Giải Tội.

Thứ Năm: Là Phép Xức Dầu Thánh.

Thứ Sáu: Là Phép Truyền Chức Thánh.

Thứ bảy: là Phép Hôn Phối.

-                    Trong kinh này chúng ta gặp cụm từ “phép Bí Tích”: Từ “bí tích” xin tìm đọc ở các từ điển Công Giáo hiện đại, vì cả ở Từ điển Việt – Bồ – LaTự Vị Annam Latinh đều không có từ “bí tích”. Tuy nhiên, Từ điển Việt – Bồ – La có rất nhiều mục từ với từ “phép” đồng nghĩa với từ “bí tích”. Ví dụ tác giả ghi nhận “làm phép giải tội” nghĩa là “làm bí tích tha tội”; “Đức Chúa Jesu truyền phép giải tội” nghĩa là “Chúa Jesu truyền lại cho chúng ta bí tích tha tội.v.v.” Chúng ta cũng gặp nghĩa của từ “phép” này trong cụm từ “phép thiêng”, “phép nhiệm” của Từ điển Việt – Bồ – La nghĩa là “khả năng kín ẩn”. Ở mục từ khác tác giả Từ điển Việt – Bồ – La ghi chú “phép” cũng nghĩa là “nghi lễ”. Kết hợp hai nghĩa của hai mục từ “phép” này chúng ta có được nghĩa của từ “bí tích”, nghĩa là một “nghi lễ” bên ngoài với các “dấu ấn, khả năng kín ẩn” bên trong. Như vậy có thể nói từ “phép” trong tiếng Việt thế kỉ XVII tương đương với nghĩa của từ “bí tích” chúng ta dùng hiện nay.

5.    Kinh Mười Bốn Mối

Thương người có mười bốn mối

Thương xác bảy mối:

Thứ nhất: cho kẻ đói ăn.

Thứ hai: cho kẻ khát uống.

Thứ ba: cho kẻ rách rưới ăn mặc.

Thứ bốn: viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc.

Thứ năm: cho khách đỗ nhà.

Thứ sáu: chuộc kẻ làm tôi.

Thứ bảy: chôn xác kẻ chết.

Thương linh hồn bảy mối:

Thứ nhất: lấy lời lành mà khuyên người.

Thứ hai: mở dạy kẻ mê muội.

Thứ ba: yên ủi kẻ âu lo.

Thứ bốn: răn bảo kẻ có tội.

Thứ năm: tha kẻ dể ta.

Thứ sáu: nhịn kẻ mất lòng ta.

Thứ bảy: cầu cho kẻ sống và kẻ chết.                            

-                    Tựa đề kinh này là “Kinh Mười Bốn Mối”, chúng ta gặp từ “mối”: từ này có nét nghĩa hoàn toàn không tìm thấy trong từ điển tiếng Việt hiện đại. Từ điển Việt – Bồ – La ghi nhận “mối” nghĩa là “điều” hay “khoản”. Nghĩa là “thương người có mười bốn điều, thương xác bảy điều, thương linh hồn bảy điều”. Nghĩa thứ hai của từ “mối” là “đầu mối” từ đó phát sinh ra những điều tiếp theo. Từ “mối” trong “Kinh Cải Tội Bảy Mối”, “Kinh Phúc Thật Tám Mối” dưới đây cũng có hai nghĩa như vậy.

-                    Trong suốt kinh này chúng ta gặp từ “kẻ” là từ khiến chúng ta rất dễ dị ứng, bởi vì hiện nay từ “kẻ” thường đi kèm với những từ có sắc thái tiêu cực như“kẻ cướp”, “kẻ gian”, “kẻ thù”… Nhưng vào thời Từ điển Việt – Bồ – La từ “kẻ” có nét nghĩa trung tính nghĩa là “người”. Chúng ta cũng thấy câu tục ngữ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” có từ “kẻ” cũng mang nét nghĩa trung tính là “người” như trong Từ điển Việt – Bồ – La ghi nhận vậy.

-                   Cụm từtù rạc” đã giải thích trong Kinh Bởi Lời, bài trước.

-                   Chúng ta cũng gặp cụm từ “cho khách đỗ nhà”: Từ “đỗ” trong Từ điển Việt – Bồ – La nghĩa là “ở lại”; “cho khách đỗ nhà” nghĩa là “cho khách ở lại trong nhà mình”. Tác giả từ điển còn ghi chú thêm “đỗ quán” nghĩa là “ở lại quán”; “chẳng đỗ lâu” nghĩa là “không ở lại lâu”… Tuy nhiên, nếu chỉ cho “khách” theo nghĩa hiện nay, nghĩa là những người trong quan hệ với chủ nhà thì câu kinh này cũng thường thôi, vì khách của mình thì mình phải cho họ ở lại trong nhà mình thì có gì lạ đâu. Nhưng, từ “khách” thời Từ điển Việt – Bồ – La có nghĩa là “người ngoài”, “người muốn trú trọ”, nói cách nôm na là người lỡ đường không có quan hệ gì với chủ nhà cả, người dưng. Như vậy “cho khách đỗ nhà” mới là mối phúc, mới là thương người, còn nếu đón tiếp “khách” của mình, thì đó là phép xã giao lịch sự chứ đâu phải là việc làm biểu lộ lòng thương người nữa.

-                   Cụm từchuộc kẻ làm tôi”: Từ “làm tôiTự Vị Annam Latinh dịch là “làm người phục dịch”, nghĩa là làm tôi tớ, làm đầy tớ. Từ “chuộcTừ điển Việt – Bồ – La giải thích nghĩa là “mua lại, chuộc lại”. Vào thời phong kiến những người nghèo, những người tầng lớp dưới bị bán làm nô lệ, phục dịch cho người giàu và những tầng lớp trên trong xã hội. “Chuộc kẻ làm tôi” nghĩa là dùng tiền của mình để mua lại những người làm đầy tớ để cho họ được tự do. Câu kinh này trong bối cảnh hiện nay phải hiểu là nâng đỡ, cứu giúp những người nghèo khổ, giải thoát những ai bị áp bức…

-                   Cụm từmở dạy kẻ mê muội”: Từ điển Việt – Bồ – La không có từ “mở dạy”, nhưng có từ “mở đạo” nghĩa là “dạy đạo”. Mở dạy” là từ ghép hai từ đồng nghĩa (‘mở’ cũng là ‘dạy’), để chỉ một nghĩa duy nhất là “dạy”. Từ “mê muội” có nghĩa là “dốt nát, ngu muội” (‘muội’ cũng là ‘ngu’). Hiểu nôm na là giúp đỡ những ai thiếu điều kiện học hiểu, những người không có cơ hội đến trường, không có phương tiện để hiểu biết những điều cần thiết.

-                   Cụm từ “răn bảo”: răn” có nghĩa là “khuyên”. Chúng ta cũng gặp lại từ này trong tiếng Việt hiện đại “khuyên răn” (“răn” cũng có nghĩa là “khuyên”).

-                   Trong kinh này chúng ta gặp từdể” nghĩa là “khinh”. Tiếng Việt hiện đại có từ “khinh dể” ghép hai yếu tố đồng nghĩa để làm tăng mức độ biểu cảm, nhưng qua thời gian yếu tố “dể” đã mờ nghĩa.

-                    Từ “nhịn” trong cụm từ “nhịn kẻ mất lòng ta”: Từ điển tiếng Việt hiện đại ghi từ “nhịn” với hai nghĩa: -1.Tự ý để cho qua, không thỏa mãn nhu cầu nào đó của bản thân như nhịn đói, nhịn khát… -2.Dằn xuống không để biểu hiện sự phản ứng ra ngoài ví dụ như cố nhịn cười…  Với hai nghĩa này trong tiếng Việt hiện đại không diễn tả được nghĩa của câu kinh. Từ điển Việt – Bồ – La ghi ba nghĩa của từ “nhịn” như sau: -1.nhịn: chịu đựng cách kiên trì; -2.nhịn: nhẫn nại (kiên trì, bền bỉ chịu đựng…); -3.nhịn: dung thứ (rộng lượng tha thứ). Với ba nghĩa này của từ “nhịn” theo Từ điển Việt – Bồ – La câu kinh sâu sắc và ý nghĩa tuyệt vời.

6.    Kinh Cải Tội Bảy Mối

Cải tội bảy mối có bảy đức:

Thứ nhất: khiêm nhường, chớ kiêu ngạo.

Thứ hai: rộng rãi, chớ hà tiện.

Thứ ba: giữ mình sạch sẽ, chớ mê dâm dục.

Thứ bốn: hay nhịn, chớ hờn giận.

Thứ năm: kiêng bớt chớ mê ăn uống.

Thứ sáu: yêu người chớ ghen ghét.

Thứ bảy: siêng năng việc Đức Chúa Trời, chớ làm biếng.

-                    Lưu ý trong kinh này là: tiếng Việt thế kỉ XVII dùng từ “chớ” tương đương với từ “đừng” trong tiếng Việt hiện đại.

-                    Trong kinh này chúng ta gặp từ “sạch sẽ” hoàn toàn khác nghĩa với tiếng Việt hiện đại. Từ điển Việt – Bồ – La ghi chú “sạch sẽ” nghĩa là “trong sạch” (là có phẩm chất tốt đẹp, không bị một vết nhơ bẩn nào, một tâm hồn trong sạch), từ này đồng nghĩa với từ “thanh tịnh” (từ Hán Việt).

-                    Cụm từ “hay nhịn” đã giải thích trong Kinh Mười Bốn Mối ở trên.

7.    Phúc Thật Tám Mối

Phúc thật tám mối:

Thứ nhất: ai có lòng khó khăn, ấy là phúc thật, vì chưng nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.

Thứ hai: ai hiền lành, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được đất Đức Chúa Trời làm của mình vậy.

Thứ ba: ai khóc lóc, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được yên ủi vậy.

Thứ bốn: ai khao khát nhân đức trọn lành, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no đủ vậy.

Thứ năm: ai thương xót người ấy là phúc thật, vì chưng mình sẽ được thương xót vậy.

Thứ sáu: ai giữ lòng sạch sẽ ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được thấy mặt Đức Chúa Trời vậy.

Thứ bảy: ai làm cho người hòa thuận, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời vậy.

Thứ tám: ai chịu khốn nạnđạo ngay, ấy là phúc thật, vì chưng nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.

 

-                    Từ điển Việt – Bồ – La ghi chú một mục từ “phúc thật tám mối” nghĩa là “tám đầu mối phúc lạc chân thật”, hiểu nôm na là “tám đầu mối đem lại hạnh phúc chân thật” và đây là ý nghĩa trọn vẹn sâu sắc của kinh này.

-                    Trong kinh này chúng ta gặp một cấu trúc ngữ pháp lặp đi lặp lại rất hay của tiếng Việt thế kỉ XVII, nhưng về phần ngữ pháp tôi sẽ gởi đến quý vị trong các bài nghiên cứu sau. Các cụm từ “ấy là”, “vì chưng” lặp đi lặp lại trong tám mối phúc: từ “ấy là” có nghĩa “chính là”, “vì chưng” có nghĩa “bởi vì”, chúng ta có thể thay thế vào lời kinh và sẽ thấy dễ hiểu thêm.

-                    Từ “khó khăn” trong tiếng Việt hiện đại không phù hợp với lời kinh. Từ điển Việt – Bồ – La giải thích “khó khăn” nghĩa là “nghèo khó”, “khó khăn” với nghĩa “nghèo khó” đồng nghĩa với những câu đầu tiên Tin Mừng Matthêu chương 5. “Có lòng khó khăn” nghĩa là “có tinh thần nghèo khó chính là phúc thật”.

-                    Trong kinh này chúng ta gặp cụm từ “chịu khốn nạn đạo ngay”: từ “khốn nạn” trong tiếng Việt hiện đại đã có nét nghĩa “hèn mạt, không còn nhân cách, đáng khinh bỉ, nguyền rủa” không phù hợp chút nào với lời kinh. Từ điển Việt – Bồ – LaTự Vị Annam Latinh giải thích “khốn nạn” nghĩa đơn giản là “khó nhọc, cực khổ” mà thôi. Từ “khốn nạn” đã thay đổi nghĩa nhiều trong tiếng Việt hiện đại.

Chúng ta cũng có từ “đạo ngay” trong câu kinh này. Từ điển Việt – Bồ – La không có mục từ “đạo ngay” nhưng Tự Vị Annam Latinh có mục từ này “đạo ngay” nghĩa là “đạo thật”. Tuy nhiên, trong “Phép giảng tám ngày” thì cha Đắc Lộ đã có bài giáo lý dài “ngày thứ bốn” phân tích các “đạo vạy” đối lập với “đạo ngay” là đạo Đức Chúa Trời. Chúng ta hiểu câu kinh này: ai chịu khổ cực, khó nhọc vì đạo Chúa Trời thì người ấy là người có phúc thật.

Nữ tu Minh Thùy




[1] Chỉ tiếc là Tự Vị Annam Latinh là bản viết tay còn lưu lại, chưa được xuất bản như Từ điển Việt – Bồ – La.

[2] Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nxb Từ điển Bách Khoa, 2010. Đây là cuốn từ điển được xác định là cuốn Từ điển tiếng Việt hiện đại đầy đủ và quy mô nhất hiện nay.

Read more

Washington DC: Viếng thăm trước Ngày tự do thông tin Việt Nam

VRNs (24.04.2014) – Washington DC, USA – Hôm qua thời tiết thủ đô nước Mỹ thật đẹp và càng ấm áp hơn khi có được bốn người bạn khác từ Việt Nam sang mà trước đó tôi không hề được biết là họ sẽ đồng hành tham dự Ngày tự do báo chí thế giới với tôi.

Quả là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”, sang đây rồi mới biết được mình có bạn cùng đồng hành và những người bạn ấy cũng đã phải vất vả tìm đủ mọi cách để thoát ra được khỏi lãnh thổ Việt Nam mà trước đó chỉ vài ngày có một số bạn là phóng viên và blogger kém may mắn hơn đã bị công an chặn lại tại sân bay, cướp mất hộ chiếu và ngăn chặn không cho đi tham dự ngày hội này như trường hợp của Pv Huyền Trang VRNs ở Saigon, blogger Nguyễn Lân Thắng từ Hà Nội.

Quả đất tròn và rộng lớn bao la thế đấy, những tưởng chừng như không thể gặp nhau để kết tình thân hữu tâm giao, vì lạ lẫm, xa cách nhau về mặt địa lý… Nhưng thực tế không phải vậy, mỗi chúng ta sẽ không phải lẻ loi cô độc khi chung quanh luôn có những người bạn từ khắp bốn phương trời. Trước hết là các vùng miền trong nước với ký giả Ngô Nhật Đăng, blogger Tô Oanh, Nghệ sỹ Kim Chi, luật sư Nguyễn Đình Hà, một số người ở các nước khác đồng hành là chị Thảo từ Pháp, bạn Trang Huỳnh, bạn Trinh, anh Huy, anh Trí… đang định cư ở Mỹ. Những người bạn này hầu hết đã là công dân của Mỹ và Pháp, họ có cuộc sống khá sung túc và hạnh phúc, tuy nhiên không phải vì vậy mà họ quên đi nỗi đau của dân tộc, nỗi thống khổ của người dân quốc nội đang phải quằn mình lên chịu đựng biết bao thiệt thòi khổ cực của thời cuộc, và một số trong các bạn ấy đã hy sinh cuộc sống hạnh phúc của xứ phồn vinh sung túc ấy mà dấn thân đấu tranh và cổ võ cho các phong trào giải phóng dân tộc và canh tân đất nước qua việc tham gia đảng phái chính trị, các hội đoàn xã hội. Những con người đó có cùng điểm chung là mang cùng nỗi đau về người nghèo, người cùng khốn và tình yêu thương đất nước yêu thương dân tộc …. Những con người ấy ắt sẽ gặp nhau kết tình thân ái, bổ túc, tương trợ nhau trên suốt chặng đường gian nan đang đi đòi tự do thông  tin – tự do báo chí cho dân tộc.

Người phóng viên lề dân từ quốc nội, giới blogger viết bài đấu tranh bênh vực cho dân oan, cho người nghèo không còn bị lẻ loi khi chẳng những có đồng bào người Việt ở hải ngoại đồng hành mà còn được sự hoan nghênh đón tiếp và sẵn sàng ra tay tương trợ khi cần từ các tổ chức NGO chuyên trách, các công ty sản xuất kinh doanh, sản phẩm và dịch vụ của họ có liên quan đến quyền lợi và lợi ích của con người và phục vụ cho việc phát triển xã hội loài người ngày càng văn minh, ngày càng nhân bản hơn,  xã hội ngày càng văn minh hơn….

Sáng hôm qua chúng tôi được đón tiếp thân tình của Freedom House, Tổ chức Phóng viên không biên giới, và công ty GNI. Chúng tôi xin lần lượt nêu ra vài chi tiết trong các cuộc gặp gỡ sau.

Tổ chức phi chính phủ (NGO) Freedom House: Vốn tiếng Anh của tôi thuộc hạng xoàng, nên tôi chỉ có thể hiểu đây là một tổ chức phi chính phủ mang tên “Ngôi nhà tự do”.

1404230006

Tiếp chúng tôi là ban giám đốc và các thành viên chuyên trách: Người là Giám đốc phụ trách các chương trình từ Đông nam Á, người phụ trách Á Châu, người lo hỗ trợ các nhà đấu tranh dân chủ, người lo về vấn đề tự do internet, người lo các chương trình hỗ trợ tài chính, người lo các chương trình cổ võ cho nhân quyền được thực thi ở Đông nam Á….

Các thành viên của Freedom House chia sẻ cho chúng tôi thật nhiều thông tin về tình hình Việt Nam và họ mong muốn có được dự án để giúp đỡ cho Việt Nam được phát triển. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng chia sẻ với họ một số thông tin căn bản về chúng tôi ở Việt Nam và họ đề nghị chúng tôi thường xuyên liên lạc với họ và hãy cho họ biết chúng tôi cần gì để họ giúp và có thể đó là sự lên tiếng áp lực lên các chính phủ quốc gia để hỗ trợ cho chúng tôi nếu chúng tôi gặp điều bất trắc trong quá trình hoạt động của mình.

Chia tay với ban giám đốc Freedom House trong tình thương, sự chân thành và quý mến, chúng tôi đến với tổ chức Phóng viên không biên giới. Trước đây điều mà tôi ấn tượng nhất với tổ chức này là sự kiện một người bạn của tôi là Paulus Lê Sơn cũng là phóng viên VRNs như tôi, Sơn đi tham dự khóa huấn luyện về báo chí của tổ chức này tại Thailand vào năm 2011 rồi sau đó đã phải ngồi tù cộng sản với bản án nặng nề và sự mất mát to lớn về gia đình là người mẹ của Sơn vì thương Sơn sinh ra đau buồn rồi qua đời mà không được gặp lại Sơn lần cuối.

1404230007

Tiếp chúng tôi là một cô gái còn rất trẻ và rất duyên giáng tên Delphine Halgand, thoạt đầu chúng tôi nghĩ rằng có lẽ đây là nhân viên lễ tân nhưng rồi cả nhóm đã phải ngạc nhiên khi nghe cô nói cô là giám đốc của Reporters Without Border USA. Thật là khâm phục người con gái tài ba, tuổi còn trẻ với nét người dễ thương, lối nói chuyện gần gũi hòa đồng và rất tỏ tường về tình hình tự do báo chí, tự do thông tin cũng như các vấn đề khác như luật pháp và những chuyện khác tại Việt Nam.

Cô Delphine Halgand chia sẻ, thời gian gần đây tổ chức của cô đã có những việc làm thiết thực để giúp giới phóng viên và blogger ở Việt Nam, cụ thể như: Vận động chính phủ Pháp, Chính phủ Hoa Kỳ lên tiếng với nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do cho Nguyễn Tiến Trung, Cù Huy Hà Vũ, Vi Đức Hồi, tổ chức chương trình lên án Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi ông này có chuyến công du sang Pháp gần đây qua hình thức sử dụng 5 chiếc xe tải dán đầy những khẩu hiệu mang nội dung đòi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho các blogger và phóng viên đang phải ngồi tù.

Cô động viên và khuyên chúng tôi: “Các anh chị hãy mạnh dạn lên tiếng với các dân biểu và Quốc hội Hoa Kỳ trong dịp điều trần về tự do báo chí này, để họ yêu cầu Việt Nam trả tự do cho bạn bè của các anh chị đang phải ngồi tù. Hãy yên tâm vì đằng sau các anh chị luôn có chúng tôi”. Ngoài ra cô Delphine Halgand hứa sẽ giúp nhóm chúng tôi trong việc thành lập hiệp hội tự do thông tin tự do báo chí cho Việt Nam.

Cùng ngày chúng tôi có cuộc gặp với công ty Global Network Initiative (GNI), đây là công ty chuyên trách về việc đặt máy chủ hay các hoạt động của các công ty internet như Google, Microsoft, Facebook, Linkin,….., họ đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về mạng internet từ các quốc qua độc tài về chính trị để từ đó đưa ra các giải pháp, các khuyến cáo hoặc chế tài cho các công ty nói trên.

Họ tập trung vào nhân quyền, các công ước về quyền con người, hệ thống luật pháp và các nghị định mà các quốc gia độc tài thường đưa ra để kiểm duyệt kiểm soát nhà cung cấp dịch vụ mạng và những người sử dụng mạng internet.

1404230008

Ông David Sullivan cho biết thời gian gần đây GNI đã yêu cầu Yahoo dẹp bỏ văn phòng và máy chủ ở Việt Nam để di dời qua Singapore sau khi nhà cầm quyền Việt Nam đòi kiểm soát Yahoo, hay khuyến cáo Google không được đặt máy chủ ở Vietnam ….. vì họ lo ngại về nghị định 72 do chính phủ Việt Nam mới ban hành.

Các tổ chức và công ty này rất nên trở thành những người bạn đồng hành với giới phóng viên, blogger và các trang mạng độc lập tại Việt Nam.

Anthony Le. VRNs 

Read more

Mùa thu 1958: Hội Thánh chờ đợi một người…

VRNs (24.04.2014) – Hà Nội - Đức Giáo Hoàng Piô XII qua đời sáng sớm ngày 09 tháng 10 năm 1958. Kể từ đó, các giám chức lãnh đạo các bộ ngành ở giáo triều coi như đã chấm dứt nhiệm vụ. Mọi quyền hành ở Tòa Thánh được trao lại cho tập thể Hồng Y đoàn. Ngay từ sáng ngày 09 tháng 10 các Hồng Y ở Rôma đã tề tựu để cùng làm nhiệm vụ nhiếp chính thời gian Tòa Thánh trống ngôi. Những ngày tiếp theo, các vị Hồng Y từ các nơi xa cũng lần lượt tìm về Tòa Thánh. Ngày nào cũng có đại hội Hồng Y để bàn thảo và giải quyết các vụ việc: Tang lễ Đức cố Giáo Hoàng ( Cửu nhật đại Tang, Novemdiales ) các vấn đề nảy sinh, nhất là chuẩn bị cho mật hội bầu Giáo Hoàng mới.

1404230003Chính việc bầu Giáo Hoàng mới này là chủ đề gây nhiều thắc mắc và dự đoán trong dư luận. Gọi là bầu cử nhưng không giống như những cuộc bầu cử ngoài xã hội. Ở đây chẳng có ai là ứng cử viên, cũng chẳng có chương trình hành động, chẳng có tranh luận công khai về đường lối trên báo đài. Các vị  Hồng Y cử tri hành động kiểu khác. Các vị trao đổi với nhau trong Đại hội hay trong những cuộc thăm viếng nhau, bàn bạc riêng tư, có khi một số vị nào đó gặp nhau trong một bữa ăn kín đáo. Đó là lúc để các vị tìm hiểu quan điểm của nhau, nhận định về mặt này mặt kia trong đời sống Giáo Hội, cùng gợi lên một vài danh tính… Cuối cùng thì cũng sẽ có những vòng bầu cử diễn ra dồn dập trong mật hội, nhưng để chuẩn bị cho những vòng bầu cử này, trước tiên đã có nhiều cố gắng để tìm một điểm hội tụ nơi một người nào đó, nhất thời chưa biết là ai.

Một khi đã khai hội, số phiếu dành cho đấng này hay đấng khác, cao thấp trồi sụt thế nào là những bí mật không được tiết lộ. Thời gian trước mật hội thì không có luật bảo mật nhưng các Hồng Y vẫn làm việc hết sức cẩn trọng, không mấy khi hé lộ điều gì. Dựa vào những gì lọt được ra ngoài, và ý kiến của các giới trong Giáo hội, có thể phác họa như sau:

Hàng ngũ “ Vệ binh già”

Trước tiên có hướng tìm kiếm của cánh bảo thủ. Chủ trì hướng tìm kiếm này là một số vị ở Tòa Thánh. Người chủ súy được coi là Đức  Hồng Y Ottaviani, Bộ trưởng Bộ Thánh Vụ, chuyên theo dõi và kiểm duyệt những tư tưởng nào trong Giáo Hội bị coi như tách rời với những cung cách và đường lối cố hữu. Cùng với Đức  Hồng Y Ottaviani, có những vị như Đức  Hồng Y Pizzardo, Bộ trưởng Bộ Chủng Viện và Giáo dục Kitô giáo. Đức Hồng Y Ruffini, Tổng Giám Mục Palermo ở ngoài đảo Sicilia ( Nam Ý ), hay Đức  Hồng Y Siri, Tổng Giám Mục Genoa ( Miền Đông bắc Ý ).

Có thể coi các vị này và những vị cùng khuynh hướng như hàng ngũ Vệ binh giàcủa Giáo Hội. Đó là những người đã sống cả đời mình trong những khuôn khổ cổ truyền. Các ngài cảm thấy an tâm, vững chãi, xác tín, ổn định trong những khuôn khổ ấy. Do đó các ngài dị ứng với sự thay đổi. Thế giới bên ngoài đang biến chuyển và thay đổi như vũ bão. Nhưng ở Rôma, trong các cung điện, các văn phòng kín cổng cao tường của Tòa Thánh, vẫn duy trì được những khoảng bình yên, ở đấy người ta chăm chút giữ gìn những gì nhiều thế hệ trước để lại. Đó không chỉ là nhiệm vụ, mà còn là tình cảm của những người nặng lòng thấm thía với một di sản đã hòa vào máu huyết, vào hơi thở của mình.

Các vị này hay cảnh giác: “không phải cái gì mới cũng tốt”. Trong thực tế, các vị rất nghi kỵ với những cái mới. Đối với các vị, thần học từ thời Trung Cổ truyền lại và những gì các Giáo Hoàng trước, các Công Đồng trước đã dạy là đủ để đối phó mọi tình huống, để giải quyết mọi vấn đề. Và các điều đó đã kết tinh thành công thức, luật lệ, ta cứ thế mà áp dụng.

Đối lập với khuynh hướng “không phải cái gì mới cũng tốt”, lại có khuynh hướng khác chủ trương rằng “không phải cái gì mới cũng xấu”. Trái lại, có những cái mới phát hiện rất phong phú. Những tiến bộ của nhân loại, sự tích lũy và tiến hóa trong tư tưởng là điều có ý nghĩa, nó như một tiếng gọi của Chúa. Trong một bài trước, chúng tôi có nói rằng nước Ý không phải là điểm xuất phát của những biến đổi lớn về tư tưởng và xã hội trong thời cận đại. Phần lớn những sóng gió đổi thay về tâm lý, tư tưởng, những phương pháp và thành quả về học thuật đều diễn ra ở những nơi như Đức, Pháp, Bỉ… Do đó ở bên kia biên giới phía bắc của nước Ý mới nảy sinh nhiều nhân tố mới. Một mặt người ta ứng dụng các phương pháp mới để nghiên cứu Thánh Kinh, Giáo Phụ, lịch sử Giáo Hội, mặt khác dùng sử học, đặc biệt lịch sử tư tưởng để làm rõ những bước phát triển của tín lý. Do những nghiên cứu từ nhiều phía, nhiều ngành, dần dần hình thành môn phái được mệnh danh là “ Thần Học Mới”. Thần Học Mới chủ trương đi về nguồn sâu hơn thần học cổ điển Trung Cổ, để tìm lại nguồn cảm hứng ban đầu của Thánh Kinh và các Giáo Phụ. Thần Học Mới cũng không chỉ là những tư tưởng mới, mà có cả những ứng dụng như canh tân phụng vụ hay là những chủ đề rao giảng hình như đã từ lâu bị lãng quên trong các thói quen của Giáo Hội.

Đối với những nhân tố mới nổi này, hàng ngũ các vị Vệ binh già rất e ngại. Và vì các vị đang nắm quyền ở Trung Ương nên hàng loạt các nhà Thần học lớn đã bị kỷ luật, bị cách ly mà không biết vì lẽ gì. Mọi sự diễn ra trong vòng bí mật và thầm lặng của Bộ Thánh vụ. Lần nay các vị Vệ binh già cũng muốn tìm một đấng Giáo Hoàng nào có khả năng chặn đứng những đổi mới trong Giáo Hội. Cái khó là không thể tìm được trong hàng ngũ các vị một ai đã có sẵn uy đức để quy tụ lòng người.

Hay là Hội Thánh cần một thời gian thư giãn ?

Trong hàng ngũ các Hồng Y nói chung, không thấy người tầm cỡ như Đức Pio XII. Ngài đúng là một tâm hồn lớn. Với ngài, Giáo Hội như được lôi cuốn vào những làn sóng dồn dập của lòng tin, lòng mến, của sự hiện diện với mọi vấn đề nhân sinh. Nhưng ngày nay ngài không còn nữa nên đã nảy ra một ý kiến mới. Phải chăng sau 19 năm được hun đúc trong tinh thần Pio XII, bây giờ nên có một thời gian dừng bước, chậm lại, thư giãn. Nung nấu mãi những điều tốt chưa chắc đã tốt. Thế quân bình của một người cũng như của một cộng đồng giống như một bản nhạc, đòi hỏi phải có thì mạnh thì nhẹ. Và lại Đức Pio XII đã là cây cao bóng cả đến nỗi chung quanh ngài các cây khác không vươn lên cao được. Vậy bây giờ nên tìm một đấng nào khả dĩ giữ Giáo Hội bình an vô sự, đừng làm gì quan trọng hay lớn lao vĩ đại quá. Thư thái trong Giáo Hội là chính, để những lãnh tụ mới có thời gian trưởng thành và xuất hiện. Hết triều đại thư thái đó, có lẽ Giáo Hội sẽ tìm được những nhà lãnh đạo lớn. Nay thì hãy bằng lòng với một đấng tuổi tương đối cao, khoan nhân, hòa ái, không cần phải chói sáng quá. Ngài sẽ là một vị Giáo Hoàng chuyển tiếp, quá độ. Có lẽ một vài Hồng Y già có thể hợp chuẩn.

Triều đại chuyển tiếp nàycó thể là thời kì thuận tiện để phục hoạt Giáo triều. Vì, như đã nói trong một bài khác, Đức Pio XII ít phong Hồng Y, ngài bỏ trống nhiều chức vụ. Như Xavier Rinne ( Bút hiệu của một linh mục Mỹ, giáo sư lâu năm ở Rôma) đã viết trong các bài báo về sau được in thành sách trong Letters from Vatican City( Thư Vatican) : “ Những năm cuối đời, Đức Pio XII chịu hết nổi tinh thần lạc hậu của nhiều đấng ở Giáo triều, có vẻ ngài đã quyết định một mình làm hết.” Từ đó, Giáo triều có phần thưa thớt, xơ xác. Đức Thánh Cha cần người thừa hành, không cần người cộng tác. Có lẽ đã đến lúc tìm một đường lối lãnh đạo có tinh thần tập thể hơn.

Như vậy phải chăng không còn ai đủ tầm kế vị Đức Pio XII ?. Thật ra còn một vị đang được nhiều người ở nhiều quốc gia ngưỡng vọng. Nhưng đối với vị này đang có những trở ngại. Đó là Đức cha Giovanni Battista Montini, đang làm Tổng Giám Mục Milano.

Trường hợp đặc biệt của Đức cha Montini

Trở ngại thứ nhất: Ngài không phải là Hồng Y.

Luật Hội Thánh không có điều nào ngăn cấm việc bầu một người không phải là Hồng Y làm Giáo Hoàng. Ví dụ: năm 1292 Đức Giáo Hoàng Nicolas IV qua đời. Hơn hai năm ròng rã, các Hồng Y không đồng thuận được với nhau về người kế vị. Cuối cùng, các vị đi lên rừng núi rước một ẩn sĩ 79 tuổi sống giữa hang động về làm Giáo Hoàng: Đó là Thánh Celestino V. Ngài chỉ ở ngôi có năm tháng rồi từ nhiệm vì thấy không hợp với chức vụ.

Luật không cấm, nhưng việc bầu một người trong Hồng Y đoàn làm Giáo Hoàng đã thành lệ bảy thế kỷ rồi. Tôn giáo vốn trọng cổ lệ, không dễ gì phá lệ.

Nhưng cổ lệ chưa phải là khó khăn lớn nhất. Còn một trở ngại khác tế nhị hơn nhiều. Các vị mà chúng ta đã kính tặng danh hiệu Vệ binh già rất nghi ngại với ngài Montini. Có những vị Hồng Y hỏi nhau: Nếu đắc cử, ngài có đưa Đức Cha Montini về Rôma không ?

Vậy ngài Montini là ai mà gây ra những cảm nhận ngược chiều như vậy ?

Thưa:  Ngài đã từng là cánh tay mặt của Đức Pio XII trong 10 năm. Đức Hồng Y quốc vụ khanh Tòa Thánh Maglione qua đời năm 1944. Đức Pio XII bắt đầu thể hiện khuynh hướng độc tài của mình. Ngài không cử Hồng Y quốc vụ khanh mới ( coi như không có thủ tướng chính phủ ). Đức Thánh Cha trực tiếp theo dõi và điều hành công việc của phủ quốc vụ khanh qua hai người phụ tá: Đức Ông Tardini và Đức Ông Montini.

Trong mười năm liên tiếp, Đức Ông Montini làm việc với Đức Pio XII hàng ngày. Có thể coi Đức Ông Montini như người con tinh thần của Đức Pio XII. Chính Đức Ông nói: “ Đức Giáo Hoàng Pio XII là đấng nhân lành. Ngài đã mở cho tôi một cơ hội để tôi được nhìn thấu tư tưởng của ngài đến tận thâm tâm”( Lazzarini, Paolo VI, Profilo di Montini, Đức Phaolô VI,Nhân dáng  Montini, 1964 ). Và Đức Ông Montini cũng có ấn tượng rất sâu đậm về Đức Pio XII: “Ngài là đấng học rộng tài cao, có khả năng phi thường để tư duy và nghiên cứu. Do đó ngài xa lánh mọi sự vui chơi, thậm chí xa cả những thư giãn không cần thiết. Ngài muốn đi sâu vào lịch sử của thời đại đau thương của mình. Ngài hiểu sâu sắc rằng ngài là một phần của lịch sử ấy, ngài muốn tham gia đầy đủ vào lịch sử, mang lấy những đau thương của lịch sử ấy trong chính tâm hồn của mình.”( Peter Hebblethwaite: Paul VI, The First modern Pope, Đức Phaolô VI, Vị giáo hoàng hiện đại đầu tiên, 1983 ).

Trong mười năm đó, những ai có việc phải giải quyết ở Tòa Thánh, những bậc khách quý từ khắp thế giới đến viếng thăm Tòa Thánh và yết kiến Đức Giáo Hoàng đều có ấn tượng sâu sắc về Đức Ông Montini. Đức Ông là một người rất tinh anh, đầu óc bén nhạy trước các vấn đề thời đại, đối nhân xử thế thì tế nhị, nhân ái và sắc sảo. Được Đức Piô XII tin tưởng và hằng ngày ở bên ngài, Đức Ông Montini góp phần giải quyết rất nhiều việc quan trọng. Không có Đức Ông, nhiều người có tầm nhìn và sáng kiến đưa Giáo Hội vào thời đại mới cả trong lĩnh vực tư tưởng thần học lẫn những đường lối hành động cụ thể đã bị các đấng bảo thủ kết án oan. Ngài nói: “ Đừng có lúc nào cũng lên án. Chẳng lẽ Giáo Hội là bà mẹ ghẻ sao?” (Đức Cha Lefebvre tiết lộ trong một cuộc diễn thuyết ).

Sau buổi Đức Ông Montini họp báo hồi cuối năm 1949 về năm thánh 1950, đại sứ Pháp bên cạnh Tòa Thánh, Wladimir d’Ormesson, gửi báo cáo về Paris cho Bộ trưởng ngoại giao Robert Schuman: “Họp báo tan, tôi nghe nhiều người nói với nhau: chúng ta vừa lắng nghe Đức Giáo Hoàng tương lai. Ta nên cầu chúc như thế cho Giáo Hội” ( Cả ông đại sứ lẫn ông bộ trưởng đều là người Công giáo). Quả vậy: dần dần hình thành dư luận nơi nhiều vị Hồng Y, Giám Mục, nhiều người trong giới trí thức và truyền thông, nhiều nhà hoạt động trong các lãnh vực, cho rằng Đức Ông Montini sẽ là người kế vị Đức Pio XII.

Nhưng từ năm 1953 trở đi, mặc dù Đức Ông Montini vẫn được Đức Pio XII hết lời ca ngợi, đã xuất hiện những dấu hiệu chẳng lành về bậc kỳ nhân này. Dịp phong Hồng Y năm 1953, Đức Ông Montini không có tên trong danh sách. Đức Giáo Hoàng nói về việc này: “ Chúng tôi có ý đưa vào thánh đoàn Hồng Y hai vị giám chức tài đức đang chủ trì công việc ở hai phân bộ của phủ quốc vụ khanh. Danh tính của hai vị đã đặt ở đầu bảng các vị tân Hồng Y chúng tôi sắp chỉ định. Nhưng hai vị này đã có phong cách rất đức độ và đã khẩn khoản van xin chúng tôi cho phép hai vị được thoái thác tước vị cao quý, đến độ chúng tôi nghĩ là phải ưng thuận những điều hai vị ước mong và đã xin với chúng tôi nhiều lần .”

Tới đó mọi sự kể như tốt đẹp. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó đã xảy ra sự việc làm nhiều người thắc mắc và suy nghĩ: Đức Ông Montini được cử làm Tổng Giám Mục Milano, nghĩa là ra khỏi Vatican. Về phương diện chính thức, đây là một sự thăng tiến. Milano là tổng Giáo phận lớn nhất nước Ý, là một tòa Tổng Giám Mục rất danh tiếng từ ngàn xưa, Tòa của Thánh Ambrosio hồi thế kỷ thứ IV; từ đây nhiều đấng đã lên kế vị Thánh Phêrô; gần nhất là năm 1922 Đức Hồng Y Ratti đã được bầu làm Giáo Hoàng, danh hiệu Pio XI ( 1922 – 1939 ). Milano cũng là một trung tâm lớn, một đầu tàu về chính trị, kinh tế và văn hóa của nước Ý và của cả Châu Âu. Lễ tấn phong Giám Mục diễn ra rất trọng thể ở đền Thánh Phêrô. Lẽ ra Đức Pio XII đích thân tấn phong cho người phụ tá gần kề của mình. Nhưng khi đó ngài đang đau nặng liệt giường. Từ giường bệnh, ngài gửi một sứ điệp truyền thanh được phổ biến khắp nơi để ca ngợi và chúc mừng tân chức.

Như vậy đáng lẽ đây là một biến cố vui mừng rực rỡ, Vậy mà nhiều người cảm nhận rõ ràng một bầu khí bâng khuâng buồn bã. Vinh thăng đấy, nhưng đàng sau đó có những nỗi éo le. Trong cái thế giới rất thầm lặng, cẩn mật của Vatican đang lộ ra một thế cờ mới. Cuối cùng, khuynh hướng bảo thủ của các vị Vệ binh già đã loại trừ được một người bị coi là nguy hiểm, và hình như các vị đã phần nào thuyết phục được cả Đức Giáo Hoàng.

Từ đầu thập niên 50, bệnh tình của Đức Pio XII bắt đầu trầm trọng, có lúc thập tử nhất sinh. Năm 1954, Vatican đã chuẩn bị tang lễ, nhưng Đức Thánh Cha bất ngờ bình phục ( nghe nói là sau khi ngài đã nhìn thấy Chúa hiện ra bên mình ). Với tình hình sức khỏe của Đức Pio XII như vậy, hình như Đức Ông Montini đôi khi đã chậm trễ tâu trình một số vụ việc, nhất là những việc có thể làm phật ý Đức Thánh Cha, ví dụ như việc một số thủ lãnh trẻ của Công giáo tiến hành Ý muốn từ nhiệm vì bất đồng ý kiến với đường lối bị coi là quá bảo thủ của Đức Giáo Hoàng, hoặc những nguồn thông tin về những gì có khả năng xảy ra về mặt tôn giáo trong các nước Cộng sản. Từ đó, có những ý kiến là Đức Ông Montini thao túng quyền hành. Đằng sau những ý kiến tiêu cực đó là sự lo sợ Đức Ông Montini sẽ là người kế vị. Thậm chí Đức Giáo Hoàng Pio XII trong những năm cuối đời cũng đã lo lắng, nghi ngại nhiều về những đổi thay khả dĩ trong Giáo Hội.

Một người lương tâm luôn suy nghĩ đắn đo như Đức Pio XII không thể nào trao một Tổng Giáo phận như Milano vào tay Đức Cha Montini, nếu Đức Cha là một người sai trái về đức tin hoặc nguy hại cho Giáo Hội vì một lẽ gì đó. Nhưng mặt khác, trong sự điều hành công việc ở trung tâm Giáo Hội, đã có sự khác biệt trong nhận xét giữa Đức Thánh Cha và người cộng sự gần gũi nhất của ngài. Không chỉ là khác biệt ý kiến, có cả cái gì đó tổn thương đau đớn về tình cảm.

Người bạn rất thân của Đức Cha Montini, triết gia, văn sĩ Jean Guitton, thuộc Hàn Lâm Viện Pháp quốc, nói : “Có những điều tôi biết nhưng khó nói. Chắc chắn là những điều bi thảm. Vào một lúc nào đó, Đức Pio XII đã cảm thấy nghi kỵ ngài Montini. Đức Giáo Hoàng cho rằng bổn phận của mình là ngăn chặn không để ngài Montini thành Giáo Hoàng.” ( Yves Chéron, Paul VI, Le Pape écartelé, Đức Phaolô VI, Vị Giáo Hoàng bị xâu xé, 1973 ). Những ai đến thăm Đức Cha Montini trong những ngày ấy đều cảm thấy sự buồn bã. Người ta đoán có thể Đức Cha Montini đã cảm thấy sự nghi ngại của các giới bảo thủ ở Vatican, thậm chỉ cả ở nơi Đức Pio XII về “ Người kế vị”, và đó là lý do  khiến cho ngài khước từ bộ áo đỏ. Ngài muốn xa lánh những đầu mối tranh chấp sắp xảy ra về người kế vị Thánh Phêrô chăng ? Cũng có người nói phái bảo thủ đã khéo léo vận động người đồng sự với ngài Montini là ngài Tardini, để ngài Tardini xin khước từ tước vị Hồng Y, và do đó kéo theo sự khước từ của ngài Montini. Nếu vậy đây là một nước cờ cao để ngăn ngài Montini lên ngôi.

Ngày Đức Tổng Giám Mục Montini từ giã Vatican để đi Milano, cả Đức Thánh Cha lẫn Đức Tổng Giám Mục cùng khóc. Lòng quý trọng nhau vẫn cao dày, mà vẫn còn một cái gì lấn cấn không cảm thông được. Tài sản quý báu Đức Cha Montini chuyển đi theo mình là 90 thùng sách. Cùng với những giao tiếp của ngài với đủ hạng người trên thế giới, kho sách đó đã giúp ngài chắt lọc biết bao nhiêu suy tư cho Giáo Hội. Từ ngày đó, Đức Cha Montini không còn trở lại Vatican trong cương vị người có ảnh hưởng đặc biệt.

Bây giờ  Đức Pio XII đã nằm xuống. Trong Giáo Hội lại có nhiều người hướng về Đức Cha Montini. Ngài dẫn đầu đoàn Milano về Rôma chịu tang Đức Cố Giáo Hoàng. Trước thi hài Đức Pio XII đặt trên linh sàng cất cao giữa đền Thánh Phêrô, những người thân ở bên cạnh Đức Cha Montini nghe ngài thì thầm một câu ngậm ngùi: “ Tôi đã muốn đưa lại cho ngài biết bao kết quả tốt lành, vậy mà rồi chúng tôi không hiểu nhau.” ( Yves Cheron, Sđd ). Thế kỷ 19, ở Pháp có một vị linh mục danh tiếng, cha Gratry, sau một thời gian bị bầm dậpvì chính anh em mình trong Giáo Hội, đã nói với các đồ đệ trước khi qua đời: “ Thương yêu nhau thì cũng dễ thôi. Hiểu nhau mới khó.” Trong Hội Thánh Chúa, xưa nay không thiếu những uẩn khúc như vậy.

Xét cho cùng, có lẽ cũng chẳng phải vấn đề ai đúng ai sai. Việt Nam ta nói: Sông có khúc, người có lúc. Phải đứng đúng ở khúc, ở lúc của mình mới thấy một khía cạnh nào đó của nhân sinh. Và trong Hội Thánh mênh mông của Chúa, có đủ mọi thời, đủ mọi thế hệ, đủ mọi người. Tất cả mọi người không cùng một khúc, một lúc. Hội Thánh là một con đường, một dòng sông nước luôn chảy thao thiết, chứ không phải một trái núi bất động. Lịch sử là vậy. Nó tạo nên những con người thánh thiện mà không giống nhau.

Trước khi qua đời, Đức Pio XII đã tâm sự với Đức Hồng Y Siri: “ Tôi đã đi hết con đường của mình.” Nếu có người nào xứng đáng nhận được phiếu bầu của cánh bảo thủ, thì đó là Đức Hồng Y Siri, nhân vật trẻ xuất sắc trong hàng ngũ Vệ binh già. Khi nghe có người nhắc đến Đức Cha Montini như vị Giáo Hoàng sắp đến, Đức Hồng Y Siri đã nắm chặt tay đập mạnh một phát rung chuyển mặt bàn, khiến cho mặt nhẫn Giám Mục của ngài bị rạn. Xem như thế thì cũng chưa phải khúc, phải lúc cho Đức Cha Montini. Tình hình Giáo Hội chưa chín mùi để đón tiếp ngài.

Nhưng cũng không lâu nữa đâu. Chỉ 5 năm thôi, chiếc áo tím của Đức Cha Montini sẽ chuyển thành màu trắng. Năm năm nữa, ngài sẽ là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ( 1963 – 1978).Còn bây giờ thì chưa. Ngai Thánh Phêrô đang chờ một người khác…

Kết quả bất ngờ

Có những mật hội bầu Giáo Hoàng mà người ta có thể dự đoán kết quả. Năm 1939, mọi người đều hướng về Đức Hồng Y Pacelli. Và đúng như vậy, Hội Thánh đã có Đức Giáo Hoàng Pio XII ( 1939 – 1958). Mật hội 1963, biết bao người đã mong đợi Đức Hồng Y Montini lên ngôi, và đúng là đã có Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ( 1963 – 1978). Nhưng mật hội 1958 này, dư luận dự đoán mông lung, không biết sẽ là ai, thiếu một gương mặt lớn cho lòng người quy về. Có thể nói đang thiếu lãnh tụ.

Nhưng chính trong khoảng trống đó, điều kỳ diệu đã xảy ra: trong Giáo Hội có một vị Thánh mà mọi người không biết. Bản thân vị Thánh cũng không biết, không ai biết gì. Sự thánh thiện ấy bất ngờ nở rộ trước mắt mọi người trong năm năm thôi.

Trong một khu vườn tĩnh mịch, một vị Hồng Y già 77 tuổi đang ký thác tâm sự với một người bạn: “ Tâm hồn tôi tìm được nguồn bồi dưỡng, vì tôi tin tưởng sẽ có một lễ Hiện Xuống mới, sẽ là ngọn gió lành tỏa vào Hội Thánh một sức mạnh mới cho chân lý, nhân ái và hòa bình cả sáng, qua sự đổi mới người đứng đầu và sự chấn chỉnh guồng máy Giáo Hội.”

Vị Hồng Y già đó là ngài Angelo Giuseppe Roncalli, người mà ngày 27 tháng 04 sắp tới, Hội Thánh sẽ tôn phong hiển Thánh: Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII ( 1958 – 1963). Ngài đến để khai sáng Công đồng Vatican II, mở đầu một giai đoạn rất mới trong lịch sử Hội Thánh…

( Còn nữa…)

Lm. Vũ Khởi Phụng CSsR

Read more

Hội thánh dạy gì về thông tin?

VRNs (24.04.2014) – Sài Gòn – Đi trong xã hội và đi cùng con người, Hội Thánh Công Giáo cũng chia sẻ mọi vấn đề của con người. Và hơn tất cả mọi tổ chức trần thế, Hội Thánh ý thức sứ mạng của mình là lên tiếng nói, bởi vì chính bản chất của Hội Thánh là loan cho thế giới thông tin về ơn Cứu độ. Đức Kitô, Đấng Hội Thánh tôn thờ, là Nhà Truyền Thông vĩ đại nhất, nên Hội Thánh phải làm truyền thông.

 

1404220012            Hội Thánh Công Giáo chính thức lên tiếng về Truyền Thông trong Sắc lệnh Inter Mirifica (1963) của Thánh Công Đồng Chung Vatican II. Các Nghị phụ Công đồng đã xác quyết: “Việc thông tin đã trở nên rất hữu ích và nhiều khi cần thiết; thật vậy việc thông tri đúng lúc các biến cố và các sự kiện giúp cho từng cá nhân biết” (số 5).

            Hội Thánh cũng lường trước rằng sẽ có một số quốc gia vì thể chế độc tài toàn trị hay vì nhà cầm quyền thiếu hiểu biết và thiếu lương tâm mà ngăn chặn việc truyền tải thông tin. Cho nên Hội Thánh cũng mở cho chính quyền các quốc gia một con đường: “Thật vậy, vì nhiệm vụ, chính quyền có bổn phận phải bênh vực và bảo đảm sự tự do đích thực và chính đáng của việc thông tin, sự tự do mà xã hội ngày nay rất cần để tiến bộ, nhất là những gì thuộc về báo chí; chính quyền cũng có bổn phận nâng đỡ tôn giáo, văn hóa, những nghệ thuật chân chính, và phải bảo đảm cho những người xử dụng có thể tự do hưởng thụ quyền lợi chính đáng”.

            Con đường ấy là đúng đắn và phù hợp lương tri nhân loại. Tuy nhiên, ngày hôm nay trong một số xã hội, thông tin vẫn còn là cái gì đó quá đỗi xa xí. Vốn ẩn chứa quá nhiều những bí mật do sự tuyên truyền gian dối, một số nhà cầm quyền sợ rằng khi thông tin lan rộng thì sẽ có nhiều bất lợi cho họ, nên chính sách “bế quan tỏa cảng” về thông tin vẫn được coi là phương thế hiệu nghiệm để ngăn chặn tầm hiểu biết của dân chúng.

            Khi nói rằng “chính quyền cũng có bổn phận nâng đỡ tôn giáo, văn hóa, những nghệ thuật chân chính, và phải bảo đảm cho những người xử dụng có thể tự do hưởng thụ quyền lợi chính đáng”, Thánh Công Đồng nhận thấy mối liên hệ rõ nét giữa quyền tự do tôn giáo và tự do thông tin. Có nhiều cách lý giải, nhưng đơn giản nhất, tôn giáo là tổ chức luôn nói sự thật. Và tự do tôn giáo sẽ dẫn đến tự do thông tin.

            Trong các khóa học Truyền Thông của DCCT, Cha An Thanh luôn nhắc: “Không phải mọi thông tin cần được loan báo cho mọi người”. Điều này hoàn toàn phù hợp với Giáo huấn của Mẹ Hội Thánh. Thánh Công Đồng khôn ngoan nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, đã dạy bảo một cách đơn giản nhưng đầy đủ. Thiết tưởng chúng ta chỉ nên chép lại và nghiền ngẫm mà không cần bình giải thêm:

            “Việc tường thuật, mô tả hay trình bày điều xấu về phương diện luân lý, ngay cả bằng những phương tiện truyền thông xã hội, chắc chắn có thể giúp nhận biết và khám phá con người một cách sâu rộng hơn, giúp bày tỏ và biểu dương vẻ huy hoàng của điều Chân, điều Thiện, nhờ các tác động kịch nghệ thích hợp; tuy nhiên để khỏi làm hại hơn là làm ích cho các tâm hồn, các hoạt động trên vẫn phải tuyệt đối tuân theo luật luân lý, nhất là nếu đề cập đến những vấn đề đòi phải được kính trọng tương xứng, hay đến những gì dễ khích động dục vọng xấu xa của con người đã mang vết tội tổ tông” (Số 7)

            Ở đây chúng ta thấy một điều trớ trêu: trong xã hội này, khi thông tin không được dễ dàng truyền tải, thì những thông tin có tính báng bổ, những thông tin làm phương hại các cá nhân và những lối mô tả tội ác một cách rùng rợn lại được đưa ra công chúng một cách quá đỗi hào phóng.

            Dường như có một khuynh hướng muốn con người bội thực một món ăn quá tệ hại để họ cũng chán ngán những món ăn ngon lành bổ dưỡng. Như thế là giết người. Và đôi khi chúng ta thấy người ta lỗi Giới răn thứ 5 không chỉ vì giết người hay hành hung người khác, mà là bỏ đói con người dưới mọi hình thức.

            Hội Thánh cũng nhấn mạnh đến “Bổn phận của thanh thiếu niên và phụ huynh”. (Số 10): Những người xử dụng, nhất là thanh thiếu niên, phải lo tập cho quen điều độ và kỷ luật trong việc dùng những phương tiện này; ngoài ra họ cũng phải cố gắng thấu hiểu sâu xa hơn những điều họ thấy, nghe và đọc; họ phải thảo luận với những nhà giáo, những người chuyên môn, và phải học phán đoán cho đứng đắn. Còn bậc phụ huynh thì phải nhớ mình có bổn phận tận tâm coi sóc kẻo kịch ảnh, sách báo và những thứ cùng loại trái nghịch với Ðức Tin, trái thuần phong mỹ tục, lọt vào ngưỡng cửa gia đình, cũng đừng để con cái gặp những thứ đó ở nơi khác.

            Có lẽ chúng ta nên lấy mạnh xã hội Facebook làm ví dụ. Có những Facebook của các bạn Công giáo mà trong đó chỉ thấy toàn thời trang và các món ăn đắt tiền. Điều này không đáng trách vì đó là tự do của mỗi cá nhân, nhưng trình bày như thế khi anh chị em mình còn quá lam lũ thì e rằng có cái gì đó hơn nhẫn tâm.

            Hơn nữa, tinh thần truyền giáo mà mỗi cá nhân cần thể hiện qua nếp sống hàng ngày phải được biểu lộ qua chính công cụ truyền thông cá nhân của mỗi người. Khi Thánh Công Đồng dạy giới trẻ “phải lo tập cho quen điều độ và kỷ luật trong việc dùng những phương tiện này”, thì Mẹ Hội Thánh muốn nói đến cả nội dung, hình thức cũng như phương thế thông tin.

            Cũng xin nói thêm rằng khi Hội Thánh nhắc đến bổn phận các bậc phụ huynh thì chắc chắn các chủ chăn cũng thấy có mình trong đó. Chúng ta không bài bác các trang mạng xã hội của các chủ chăn chỉ có hình ăn chơi, tụ họp, nhưng chúng ta ước ao rằng các ngài biết quan tâm hơn một chút, dùng chính phương tiện mình có để rao giảng Lời thông qua các hoạt động vui chơi ấy, và loan báo Công Lý, Bình An mà thời đại đang rất vắng bóng.

            Vấn đề quá phong phú không thể trình bày được trong một hay hai bài viết, nhưng chúng tôi cũng mạo muội phác họa vài suy tư khởi điểm, mong rằng nhiều người cùng nhìn vào Giáo huấn của Mẹ Hội Thánh và những tuyên bố của lương tri nhân loại, để góp phần làm cho xã hội đẹp lên nhớ thông tin như những cơn mưa xuân làm dịu cái oi bức ngột ngạt.

Gioan Lê Quang Vinh, VRNs

Read more

Report on Violations of Freedom of Religion by the Government of Vietnam for First Quarter of 2014

VRNs (April 24th, 2014) – Saigon – However from January 1st through March 31st of 2014, there had been numerous cases of violations of freedom of religion by offices in the Vietnamese government system upon individuals and religious organizations. 

 

COMMITTEE TO PROTECT FREEDOM OF RELIGION

 

Report on Violations of Freedom of Religion by the Government of Vietnam

Report Numbered 01/2014 for First Quarter of 2014

 

Article 24 of the 2013 Version of Vietnamese Constitution, which was approved by Congress on November 28th, 2013 and became effective on January 1st, 2014, defines:

1. Everybody is entitled to freedom of religion.  A person can choose to practice any religion of their choice or remains atheist.  All religions are equal by laws. 

2. The government respects and guarantees freedom of religion.

3. No person can violate freedom of religion for another, and no person can abuse freedom of religion to breach the laws. 

 

However from January 1st through March 31st of 2014, there had been numerous cases of violations of freedom of religion by offices in the Vietnamese government system upon individuals and religious organizations. 

 

JANUARY, 2014

1.         On January 1st, 2014, police arrested member of United Vietnamese Buddhism Association with falsified reason.

On the morning of January 1st, 2014, Leader Le Cong Cau, Head of Youth Buddhist Family Committee with the United Vietnamese Buddhism Association was removed from his flight going from Hue to Saigon.  The reason of his removal was to search his belongs because of a “bomb threat.”   The police interrogated Mr. Cau for thirteen hours and accused him of working with an unrecognized religious organization, the United Vietnamese Buddhism Association.   The police presumed that Mr. Le Cong Cau carried illegal materials; therefore they needed to detain him for further investigation.  The illegal materials that security forces referred to were document by United Vietnamese Buddhism Association, which they deemed unlawfully.  He has been under house arrest with a watch force of at least fifteen officers in both uniforms and plainclothes.  (Details of the interview of Mr.  Le Cong Cau by Radio Free Asia reporter Y Lan can be found at the following link.)

2.         Eradication of previously planned ceremony at Long Quang Monastery in Huong Tra town, Thua Thien – Hue province.

Venerable Thich Nhu Dat, the newly elected President of the United Vietnamese Buddhism Association planned a ceremony on January 10th, 2014 to jointly honor the immortalizations of Buddha, contributing founders of Buddhism, and martyrs who scarified their lives for Buddhism at Long Quang Monastery in Hue.  The organizers of this ceremony arranged to invite approximately three-hundred guests from the United Vietnamese Buddhism Association and Vietnamese Buddhist Family Committees nationwide. 

Beginning on January 1st, 2014, the government of Thua Thien – Hue province banned this ceremony from taking place.  They prohibited guests from the southern provinces to convene in Hue.  Venerable Thich Chon Tam was expelled from Long Quang Monastery and taken to Saigon on January 9th, 2014.  Seventeen leaders of Youth Buddhist Family were investigated and placed under house arrests since January 7th, 2014.

3.         January 18th, 2014, Violation against Vietnamese Conference of Catholic Bishops, Thai Nguyen province.

Prisoner of conscience Paul Tran Minh Nhat, who is a Catholic, is currently imprisoned in Thai Nguyen province.   Mr. Nhat sent a letter to Archbishop Peter Nguyen Van Nhon, the president of Vietnamese Conference of Catholic Bishops raising concerns violations of religious freedom in prison including the right to access religious publication, the right to conduct religious practices and ceremonies. 

4.         January 21st, Violation against Vietnamese Conference of Catholic Bishops, Kontum Dioceses. 

On January 21st, 2014, the People’s Committee of Ayun Pa town sent document numbered 77/UBND-VX  to the office of Kontum Dioceses proposing the transfer of Father Vu Van Bang out of Ayun Pa town.  The reason mentioned in this document was that the Religion Committee in Ho Chi Minh city had not recognized Father Vu Van Bang as a priest.   On the other hand, Decree on Religious Freedom issued in 2004 states that religious committees along with all other government organizations do not have the right to approve or disapprove statutory in Catholicism.  This letter  clearly fits the definition of power abuse and law breaching by the government of Ayun Pa town with the purpose of interfering and disturbing religion.  

 

FEBRUARY 2014

5.         February 20th, 2014, Violations against Hoa Hao Buddhist Worshipers in Lap Vo district, Dong Thap province. 

Hoa Hao Buddhist worshipers in Lap Vo district have constantly been harassed and threatened following the arbitrary arrests of Ms. Bui Thi Minh Hang, Ms. Nguyen Thi Thuy Quynh, and Mr. Nguyen Van Minh on February 11th, 2014.  Mr. Nguyen Van Hoa, a Hoa Hao Buddhist worshiper in Long Hung B commune, Lap Vo district, Dong Thap province informed reporter An Nhien of Radio Free Asia that he and his family have been blocked in traffic, threatened with arrests.  He also mentioned that police went to his home in large number to summon him for investigation at the commune’s police station.  Mr. Hoa insistently refused for fear that he would face beatings or even danger to his life inside the station.   Police from Lap Vo district have constantly been harassing Hoa Hao Buddhist worshipers in the area. 

Some Hoa Hao Buddhist worshipers have informed us that there are currently more than two million Hoa Hao Buddhist practitioners in Vietnam with the majority of them living in the Mekong delta region.  Many Hoa Hao Buddhist practitioners have often been physically assaulted, imprisoned, and threatened because of their religious belief and their refusal to participate in Hoa Hao Buddhist Association organized by the government of Vietnam.   The Vietnamese government continuously tells the international community that they respect freedom of religion, but their repetitive attacks on Hoa Hao Buddhist practitioners in the Mekong delta prove that the local governments betray words from the central government. 

 

MARCH 2014

6.         March 19th through 25th, 2014, Violation against Hoa Hao Buddhist Worshipers  in Cho Moi district, An Giang province

Hoa Hao Buddhist Association usually conducts an annual memorial ceremony to mark the day Prophet Huynh Phu So was assassinated by Viet Minh on February 25th of the lunar calendar, which coincides with March 25th, 2014. 

A group of Hoa Hao worshipers in Cho Moi district, An Giang province planned for a memorial ceremony at the residence of Mr. Nguyen Van Vinh at 393, Group 10, Long Hoa hamlet, Long Giang commune, Cho Moi district, An Giang province.  In the afternoon of March 18th, 2014, the government of An Giang province came to this location to order a ban on the ceremony with threats of punishment for anyone who disobeyed this order.  Mr. Tong Van Chinh and Mr. Nguyen Van Vinh fiercely attested this ban.  They insisted on conducting the ceremony even if they had to face jail-time or even risk of being shot at.  Mr. Le Quang Liem, the president of Central Traditional Hoa Hao Buddhist Association had issued a statement of condemnation from Saigon.

7.         March 19th, 2014, Violation against Vietnamese Conference of Catholic Bishops, Church of Vietnamese Redemptorists, Thai Ha Parish.

During the evening of March 19th, 2014, the government of Hanoi used bulldozers and excavators to fill the pond inside the premise of the Church of Vietnamese Redemptorists in Hanoi.  This track of land had been illegally taken from the church and given to Dong Da hospital.  Father Luu Ngoc Quynh, acting on behalf of the Church, contacted Mr. Le Van Hung, the president of Dong Da hospital to request a halt on the work.  Mr.  Le Van Hung assured him that the work was to recondition the lake.  But reliable sources informed the Church that the government of Hanoi planned to build a high-rise right on the lake once it is filled; therefore the reason of reconditioning the lake was deceptive.   If this high-rise is built, it will cause significant disruption to the layout and composition of the Churches’ premise. 

Father Joseph Nguyen Van Phuong, the bishop of Thai Ha parish said: “We have tried our best to maintain a peaceful protest from the parishioners.  If the government deliberately destroys the church then they will be fully responsible for any reaction by angry parishioners.  The Church of Thai Ha has taken tremendous loss resulted from the lack of respect for the laws by the government.  The priests, students, and parishioners of this Church have all been victimized.   We all share the pain with the land-grab victims and people under persecution from all over Vietnam.”

In addition to illegal land-grab taking place at the Church of Vietnamese Redemptorists’s premise, land in the Ho Ba Giang area of the church is also under serious invasion with many signs of corruption taking place. 

This very first report may not comprise all of the violations against freedom of religion by the government due to lack of information.  To make future reports more complete, we ask for your inputs in the forms of reports of violations taking place anywhere inside of Vietnam. Please include any documentation, photographs, voice or video recordings, with specific time and location when possible. Correspondence can be sent to email address of: [email protected] or [email protected]

 

Note: 

 

QUESTIONS AND ASNWERS ON COMMITTEE TO PROTECT FREEDOM OF RELIGION

 

What legal status is the formation of Committee to Protect Freedom of Religion based on?

The formation of this committee is based on Articles 24 and 25 of the 2013 version of Vietnamese Constitution, which was approved by Congress on November 28th, 2013 and became effective on January 1st, 2014.  Article 24 states that:

1. Everybody is entitled to freedom of religion.  A person can choose to practice any religion of their choice or remains atheist.  All religions are equal by laws. 

2.  The government respects and guarantees freedom of religion.

3. No person can violate freedom of religion for another; and no person can abuse freedom of religion to breach the laws. 

Article 25 mentions:

Citizens have the rights to freedom of expression, freedom of the press, freedom to access information, freedom of assembly, freedom to form associations, and freedom to protest.   The right to exercise these freedoms is defined by laws.” 

Up until now, there are no other laws beside the Constitution provide further clarification on the right to form an association.   Therefore, Article 25 of the Constitution is the only and the Grandfather law for this matter.

 

What is the objective of Committee to Protect Freedom of Religion? 

The ultimate purpose of Committee to Protect Freedom of Religion is assisting citizens to practice their freedom of religion and to fight any attempt to restrain or obstruct freedom of religion. 

 

Who can be eligible in becoming a member of Committee to Protect Freedom of Religion?

Any person who meets the following criteria can become member of Committee to Protect Freedom of Religion:

1. Currently practicing any faith-based belief.  Please take notice that honoring the deceased ancestors is not a religion, but this is truly a long standing respectful tradition in the Vietnamese culture.   Honoring Ho Chi Minh is neither a religion. 

2. Having the courage to publically participate in all activities initiated by the Committee.

3. Having the willingness to work towards common objectives without financial assistance.

4. Agreeing to the objectives and activities initiated by the Committee. 

 

What are the priorities of Committee to Protect Freedom of Religion in this phase?

The Committee is focusing the following projects:

1. Compiling quarterly reports on violations of freedom of religion by the government of Vietnam.

2. Demanding better care from the government of Vietnam for belief, spiritual, and religious aspects for members of the military. 

3. Demanding freedom of religion for prisoners, especially prisoners of conscience.

4. Requesting total abolition of the current Decrees on Belief and Religion.  If total abolition of these decrees cannot be achieved then there should at least be formation of new religious laws with guaranteed protection of freedom of religion for all citizens.  These new laws cannot serve the purpose of current management on religions by the government. 

 

When will the Committee to Protect Freedom of Religion dissolve?

The Committee will dissolve when all Vietnamese citizens recognize that freedom of religion is truly respected based on standards established by independent organizations inside of Vietnam and abroad.

COMMITTEE TO PROTECT FREEDOM OF RELIGION - CPFR

Read more

Xin ý kiến về ý định lập đảng Dân chủ Xã hội

VRNs (23.04.2014) – Sài Gòn – Hôm qua, có một vị nhận tên Quang Nguyen đã phổ biến trên mạng xã hội facebook một bản thăm do ý kiến về việc thành lập đảng Dân Chủ Xã Hội.

1404230001Theo vị này tự giới thiệu thì đang có một nhóm nghiên cứu xúc tiến thành lập đảng dân chủ Xã hội. Nhóm này cũng tự giới thiệu là “những người Việt tị nạn Cộng Sản đã trở thành công dân Mỹ nhưng vẫn luôn quan tâm đến sự an nguy của dân nước Việt Nam”.

Tuy nhiên bản thăm dò không để lại địa chỉ liên lạc hay cách thức trả lời thăm dò. tạm thời, nếu quý vị độc giả quan tâm, có thể comment hoặc gởi tin nhắn đến cho chủ nhân của trang facebook này: https://www.facebook.com/quangthenguyen1958

Sau đây là nguyên văn bản thăm dò.

—-

 

Thăm do ý kiến về việc thành lập đảng Dân Chủ Xã Hội.

1. Lời tâm sự: Chúng tôi là những người Việt tị nạn Cộng Sản đã trở thành công dân Mỹ nhưng vẫn luôn quan tâm đến sự an nguy của dân nước Việt Nam. Chúng tôi đang nghiên cứu thành lập đảng Dân Chủ Xã Hội với ước mong thay thế chế độ độc tài Cộng Sản bằng chế độ Dân Chủ theo mô hình dân chủ Mỹ hoặc Bắc Âu với những nguyên tắc căn bản như tam quyền phân lập, pháp trị (rule of law), dân chủ và nhân quyền. Xin quý vị giúp chúng tôi ý kiến. Xin chân tình cảm tạ quý vị.

2. Tên đảng: Đảng Dân Chủ Xã Hội. Khi nghe “Dân Chủ Xã Hội” thì quý vị liên tưởng đến điều gì:

a. Democratic Socialism Party

b. Socialist Democracy Party

c. Republican Democracy Party

d. Direct Democracy Party

e. People’s Democracy Party

f. Thể chế dân chủ thiên về xã hội kiểu Bắc Âu

g. Dân chủ theo mô hình hiện tại của Mỹ

h. Lê Hiếu Đằng với sự phục hồi hai đảng Dân Chủ và Xã Hội

I. điều gì khác, (xin cho biết)

3. Theo quý vị, “dân chủ xã hội” nghĩa là gì?

4. Theo quý vị, đảng Dân Chủ Xã Hội mà chúng tôi đang nghiên cứu thành lập phải nên có chủ trương như thế nào để có thể đáp ứng được sự trông đợi của quý vị?

5. Theo quý vị, người dân trong nước có sẽ tin tưởng hợp tác với chúng tôi không và tại sao?

6. Vision (viễn ảnh): Một nước Việt Nam dân chủ theo mô hình Mỹ hoặc Bắc Âu.

7. Mission (sứ mạng): Đảng Dân Chủ Xã Hội sẽ đồng hành với người dân Việt tiến hành giải thể chế độ Cộng Sản và sẵn lòng hợp tác với các đảng phái khác xây dựng thể chế dân chủ đa nguyên.

8. Goals (mục tiêu): Xin quý vị cùng đóng góp ý kiến về những mục tiêu mà đảng Dân Chủ Xã Hội của chúng ta nên nhắm đến trước mắt, trong trung hạn, và trong dài hạn:

a)

b)

c)

d)

e)

Thưa quý vị, việc quốc gia đại sự đòi hỏi sự chung tay góp sức của rất nhiều người. Chúng tôi tha thiết kêu gọi quý vị giúp đỡ chúng tôi hoàn thành bản thăm do này. Nếu được sự đồng tình của nhiều người, chúng ta có thể cùng nhau thành lập một đảng chính trị giá trị để tích cực góp phần giải quyết vấn nạn hiện nay của dân nước Việt Nam.

Trân trọng kính chào quý vị,

Quang Nguyen,

Một thân hữu mới của Nhóm Nghiên Cứu Thành Lập Đảng Dân Chủ Xã Hội. (QTN 4/19/14)

Read more

Singapore: Khuyến khích các tín hữu chia sẻ Tin mừng Phục sinh một cách vui tươi

VRNs (23.04.2014) – Singapore – Hãng tin Catholic News Agency cho biết: “Khi chúng ta ăn mừng lễ Phục Sinh, chúng ta được nhắc nhở rằng: Nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu mang lại cho chúng ta một niềm hy vọng chắc chắn về đời sống mới”.

1404220013Đó là những lời của Đức TGM William Goh Seng Chye, TGM Singapore gửi tới các tín hữu trong thông điệp Mùa Phục Sinh 2014. Đức TGM cũng khuyến khích tín hữu công bố Tin Mừng “với niềm vui và sự đam mê”.

Ngài nói: “Sự tuyệt vọng bị đánh bại bởi niềm hy vọng, hận thù được chế ngự bởi tình yêu. Sự tha thứ sẽ chiến thắng sự bất công, và cái chết bị khuất phục bởi sự sống đời đời”.

Thông điệp của Đức Tổng tập trung vào 3 điểm chính: đời sống mới trong Đức Kitô, cuộc gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa Phục Sinh, và ra đi loan báo Tin mừng với niềm vui.

Dựa vào những lời của Thánh Phaolô “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới”, Đức TGM mời gọi các tín hữu thoát khỏi sự tức giận, cơn giận dữ, ác ý, vu khống và “sống như một thụ tạo mới trong Đức Kitô”.

Sau đó, Đức TGM bàn luận về tầm quan trọng của một cuộc gặp gỡ cá nhân với Đức Kitô. Ngài nhấn mạnh rằng Đức Tin và sự cầu nguyện “phải là trung tâm điểm của đời sống Kitô hữu”.

Để có được cuộc cuộc gặp gỡ cá nhân này, ngài khuyến khích các tín hữu tĩnh tâm thường xuyên: “Một cuộc gặp gỡ riêng tư với Đức Kitô sẽ giúp ta có niềm tin để tham gia vào sứ vụ Tân Phúc Âm hóa của Giáo Hội, với tư cách là những chứng nhân của Tin Mừng”.

Cuối cùng, Đức TGM khẩn cầu các tín hữu hãy loan báo Phúc Ấm với “niềm vui và sự đam mê”: “Tin Mừng phải được trình bày như là một điều gì đó đẹp đẽ, có sứ thu hút con người”.

Đức TGM giải thích: “Sẽ không thể tân phúc âm hóa nếu chính chúng ta không được tân phúc âm hóa và lòng bừng cháy lửa mến bởi tình yêu Thiên Chúa, và châ  lý mà Ngài mạc khải cho ta”.

Kết thúc thông điệp, Đức TGM yêu cầu: “Hãy ra đi loan báo Tin Mừng với niềm vui! Đức Kitô đã sống lại thật!”.

Được biết, ĐTGM William Goh Seng Chye là vị Tổng Giám Mục thứ 4 của Singapore. Ngài chịu chức linh mục năm 1985 và được tấn phong giám mục năm 2013.

Jos Đức Trung

Read more

Những câu hỏi về thông tin

VRNs (23.04.2014) – Sài Gòn – Ngày nay hầu như bạn trẻ nào cũng có dịp “lướt Net” mỗi ngày ít là một lần, hoặc là đọc tin tức trên các website, hoặc tìm tài liệu học hành, hoặc giao tiếp với một hình thức nào đó: email, chat, gọi điện thoại Internet v.v…

1404220011            Rất nhiều người sử dụng Internet, hay nói rộng hơn, tiếp cận thông tin mà không bao giờ đặt câu hỏi về thông tin hay các phương tiện thông tin. Họ cũng chẳng cần quan tâm đến tự do thông tin gì cả.

Nhưng nếu chúng ta đặt vài câu hỏi liên quan đến Internet thì không hẳn ai cũng có thể trả lời. Có những câu hỏi không cần thiết lắm, biết câu trả lời cũng được mà không biết cũng chẳng sao. Chẳng hạn: wi-fi nghĩa là gì? Ai là người nghĩ ra website? Website đầu tiên trên thế giới tên là gì? Website ấy được “launched” (đưa lên mạng) ngày nào? Vân vân.

            Thế nhưng cũng có những câu hỏi làm ta phải ray rứt, bận tâm và cứ mãi đi tìm câu trả lời vốn không có sẵn hoặc nếu có thì cũng không phải dễ tìm. Tự do thông tin là gì? Tại sao cần có tự do thông tin? Tôi đâu cần đến tự do thông tin, vì thật sự tôi cần gì có nấy kia mà.

            Hoặc những câu hỏi khác làm nhức đầu nhiều người: tôi có quyền biết tất cả thông tin không? Tôi có quyền và có nên loan truyền bất cứ thông tin nào tôi biết hay không? Tại sao có những con người suốt đời chỉ chăm chú một việc thôi: thông tin cho người khác? Tại sao truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển xã hội? Vân vân.

            Và dĩ nhiên, cũng có những câu hỏi gai góc hơn, chạm đến chính thân phận con người và chạm đến những nỗi đau triền miên của cả một lớp người hay rộng hơn, chạm đến nhiều cộng đồng trong xã hội. Tại sao tôi không được quyền biết nhiều thông tin? Tại sao tôi không được loan các thông tin ấy? Và tại sao con người sợ hãi khi tiếp cận một số thông tin?

            Hài hước mà cũng đau đớn nhất là khi tiếp cận thông tin thật, trái với cái loại “kiến thức” được nhồi nhét suốt những năm đi học, thì người ta ngỡ ngàng, rồi họ lại hỏi: làm sao bảo đảm thông tin trên Internet là thật? Họ làm như con người không có lý trí và không có lương tri để phân biệt đâu là thật đâu là giả.

            Từ ngày nhà khoa học người Anh Tim Berner-Lee phát triển mạng toàn cầu (World Wide Web) đưa địa chỉ web đầu tiên http://info.cern.ch/ đi vào hoạt động, ngày 06/8/1991, thì thế giới đã thật sự được “làm phẳng”.

            23 năm qua đi kể từ ngày đó, thông tin đã đi theo chiều hướng khác, ít ra đã làm được ba điều này: dẹp bỏ độc quyền thông tin, biến thông tin trở nên nhanh chóng tức thời, và cho phép tương tác trong tiếp nhận thông tin.

            Điều trớ trêu là khi thiên hạ hưởng được nhiều ích lợi từ việc thông tin nhanh chóng như thế, thì có một tầng lớp bắt đầu lo sợ. Cái lo sợ đó phát xuất từ đâu và tại sao phải lo, không phải là vấn đề chúng ta bàn ở đây. Nhưng quả thật, khi có một bàn tay nào đó nhúng vào đại dương thông tin, thì dĩ nhiên đại dương vẫn không cần quan tâm đến, nhưng có thể có vài chú cá đang tung tăng bị đưa ra khỏi nước.

            Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc năm 1948 đã viết:“Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm mà không bị can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện nào mà không có biên giới” (Điều 19).

            Xin chú ý: Tuyên ngôn này viết cách đây 66 năm. 66 năm sau vẫn có những xã hội chưa hiểu, chưa hội nhập và chưa thực hành thì quả là một cái gì ghê gớm mà một phần nhân loại văn minh không hiểu được.

            Cũng xin chú ý: Quyền thông tin và được thông tin là một phần của tự do ngôn luận, gồm 3 điểm chính, tìm thông tin, tiếp nhận thông tin và chia sẻ thông tin. Cho tìm thông tin mà không cho chia sẻ thì thật vô lý, cũng giống như cho anh thở không khí nhưng anh không được chia sẻ không khí cho người chung quanh anh!

            Nhân loại đã lên tiếng và đã thực hiện điều ấy 66 năm trước. Nhưng từ hàng ngàn năm nay, nhân loại đã hiểu được rằng tiếp nhận và chia sẻ thông tin là điều không thể thiếu được trong cuộc sống này. Các loại hình nghệ thuật ra đời, ngoài chức năng loan báo cái đẹp và chức năng giải trí, còn có chức năng thông tin nữa. Hội họa chẳng hạn, không phải là đưa cho công chúng một lượng thông tin phong phú về xã hội và về con người thời đại sao?

            Vậy mà, khi con người có vẻ như không còn đói cơm bao nhiêu, thì cơn đói thông tin bùng lên muốn làm cho cả xã hội chết dần chết mòn. Tại sao?

Gioan Lê Quang Vinh

            

Read more

TT Mỹ quên TPP của VN trong chuyến Á du cuối tháng 4

VRNs (23.04.2014) – Cần Thơ – Văn phòng báo chí thuộc Nhà Trắng của Hoa Kỳ vừa cho biết: “Tổng thống sẽ tới Nhật Bản, Đại Hàn Dân Quốc, Malaixia và Philippin vào cuối tháng 4 như một phần cam kết hiện tại của ông về tăng cường sự tham gia của Hoa Kỳ vào các hoạt động ngoại giao, kinh tế và an ninh với các nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương”. Thông báo không nhắc đến Việt Nam.

1404220006Vào cuối năm 2013 và đầu năm 2014, ngoại giao hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ cố gắng thuyết phục và tương nhượng nhau để hy vọng cuối tháng 04.2014 này, thỏa thuận Đối tác xuyên Thái bình dương (TPP) giữa hai nước sẽ hoàn tất, và TT Obama sẽ ghé thăm Việt nam trong chuyến Á du như một biểu tượng đẩy tương quan giữa hai nước từ hợp tác “toàn diện” lên “chiến lược”. Tuy nhiên kết quả nổ lực của hai phái bộ ngoại giao tỏ ra không hiệu quả, nên trong chuyến Á du này, TT Hoa Kỳ đã bỏ quên hồ sơ TPP của Việt Nam tại bàn làm việc của mình.

Thông báo của văn phòng báo chí Nhà Trắng cho biết nội dung làm việc tại bốn quốc gia Á Châu vào cuói tháng 4 như sau:

“Tại Nhật Bản, Tổng thống sẽ gặp gỡ Thủ tướng Abe để nêu bật các bước đi lịch sử mà Hoa Kỳ và Nhật Bản đang thực hiện nhằm hiện đại hoá liên minh 54 năm tuổi của chúng tôi, làm sâu sắc thêm các mối quan hệ về kinh tế của chúng tôi, trong đó bao gồm Hiệp định Đối tác Kinh tế  Xuyên Thái Bình Dương TPP, đồng thời mở rộng hợp tác của chúng tôi trong một loạt các vấn đề về thách thức ngoại giao tại Châu Á và trên toàn thế giới.

Sau đó Tổng thống sẽ tới Đại Hàn Dân Quốc. Tại đây, ông sẽ gặp gỡ Tổng thống Park để tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ về một liên minh vững mạnh, điểm lại sự phát triển gần đây tại Bắc Triều Tiên và nỗ lực chung của chúng tôi nhằm thúc đẩy việc tạo nên một vùng không có vũ khí hạt nhân, và trao đổi việc thực thi Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) giữa Hàn Quốc và Hoa Kỳ đang diễn ra.

Tại Malaixia, Tổng thống sẽ có cuộc gặp với Thủ tướng Malaixia Najib để nêu bật các tiến bộ to lớn trong mối quan hệ ngoại giao, kinh tế và quốc phòng với một đối tác quan trọng như vậy tại Đông Nam Á.

Tiếp theo, Tổng thống sẽ tới Philippin – nước đồng minh châu Á theo hiệp ước thứ 5 mà ông sẽ thăm trong nhiệm kỳ tổng thống của mình. Ông sẽ gặp gỡ Tổng thống Philippin Aquino nhằm nêu bật hợp tác về kinh tế và an ninh của chúng tôi thông qua việc hiện đại hoá liên minh quốc phòng, các nỗ lực mở rộng quan hệ kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua chương trình Đối tác Tăng trưởng, và thông qua các mối quan hệ nhân dân sâu sắc và lâu dài”.

Tãi bốn quốc gia, TT Obama có những mục tiêu làm việc cụ thể: TPP với Nhật Bản, khẳng định cam kết vững mạnh với Đại Hàn, ghi dấu ấn quan hệ ngoại giao, kinh tế và quốc phòng với một đối tác quan trọng tại Malaixia, và nêu bật hợp tác về kinh tế và an ninh tại Philippin. TT Mỹ tại Nhật Bản là dấu ấn quan trọng nhất của chuyến Á du kỳ này vì liên quan trực tiếp đến Hiệp ước TPP, giúp Mỹ thực hiện kế hoạch trở lại Thái Bình Dương. Còn tại Đại Hàn lúc này sẽ giúp phản lại những răn đe của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên về cuộc tấn công có thể nổ ra, đây là cách ủng hộ tinh thần đồng minh cách tuyệt vời. Còn tại Malaixia và Philippin thì gân như không có gì đặc biệt, có cảm giác như đã lên kế hoạch thăm Á Châu mà chỉ đi hai nước, mặc dù ban đầu có tính đi thêm một vài quốc gia khác, trong đó rất có thể có Việt Nam, thì kỳ quá, nên ghé thêm hai quốc gia đồng minh này.

Việc từ tháng 3.2014 đến nay, nhà cầm quyền Việt Nam ân xá trước thời hạn cho người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu, cố nhà giáo Đinh Đăng Định, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ (buộc phải đi Mỹ theo diện tị nạn chính trị, mặc dù báo chí trong nước cho biết là cho đi chữa bệnh), thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung và cựu giám đốc trường đảng Vi Đức Hồi như là một nổ lực để cải thiện tình trạng làm việc kém hiệu quả của phái bộ ngoại giao hai bên, nhưng có thể chưa được những người có thẩm quyền bằng lòng.

Một trong những đòi hỏi quan trọng của Hiệp ước TPP là quốc gia thành viên phải cho phép công nhân được tư do lập hội, nghiệp đoàn độc lập, nhưng đến nay đòi hỏi này chưa thấy được triển khai ở Việt Nam. Còn đối với danh sách các tù nhân lương tâm do các đối tác (các nước chứ không chỉ Hoa Kỳ) đưa ra vẫn còn dài, trong khi đó chính phủ Việt Nam chỉ mới thực hiện được một phần nhỏ.

Chuyến Á du của TT Mỹ sắp bắt đầu, với cách làm việc thực dụng, thích nghi nhanh, TT nước này có thể thay đổi hành trình hoặc thêm chút thời gian đến Việt Nam là điều không khó, nhưng khó ở chổ Việt Nam có thực sự quyết tâm thực hiện những gì đã được yêu cầu trước khi họ thay đổi kế hoạch hay không?

Chuyện chưa dễ dàng kết ở cuối tháng 4 này, vì sang giữa tháng 5 còn có đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ tại Washington DC, và còn nhiều sự nữa từ nay đến cuối năm. Đợi xem!

PV. VRNs

Read more

Nghệ sĩ Kim Chi: Thư từ nước Mỹ gởi bạn bè

VRNs (23.04.2014) – Washington DC, USA – Chúng tôi được lời mời tới Mỹ dự hội thảo về vấn đề tự do báo chí  VN của hai vị dân biểu Hoa Kì là bà Loretta Sanchez và Joe Lojgren. Ban tổ chức gửi vé bay, đưa đón chúng tôi ở các sân bay và lo mọi chuyện ăn ở đi lại trong nước Mỹ.

1404220014Vậy là các dư luận viên bắt đầu tấn công chúng tôi rằng : “ Bọn họ là những kẻ vì những đồng Dola mà bán rẻ Tổ Quốc…” Thấy những lời thóa mạ vô căn cứ đó của

những  người “trung thành” chỉ khiến tôi  tức cười. Họ nguyền rủa , kết tội  chúng tôi vì lòng họ yêu nước và đang ra sức bảo vệ đất nước thật ư? Họ nói rằng lịch sử VN sẽ phán xét chúng tôi những kẻ đi bêu xấu tổ quốc. Tôi thì nghĩ khác họ. Những kẻ nào bòn rút đất đai tiền của của dân để đem ra nước ngoài giấu vào các ngân hàng thì mới là kẻ có tội với dân. Những kẻ nào cậy đứng trên đỉnh cao quyền lực đã dùng bộ máy chuyên chính bịt mắt, bịt miệng và đàn áp thẳng tay những người lương thiện dám đấu tranh thì mới là kẻ có tội. Những kẻ chạy theo bám đít bọn tham nhũng và  bưng bít sự thật để được chủ thưởng thì mới có tội với dân với nước.

Đây xin mọi người hãy xem bản tổng kết của nhà bào nào đó mà Oanh Bùi đã gửi cho tôi thì mọi người sẽ biết rõ thêm tình trạng VN.

Thấy chúng tôi dám nói, dám viết sự thật hiện trạng của VN trên các trang mạng nên các dân biểu quốc hội Mỹ đã mời chúng tôi tới Hoa Kì. Đoàn hiện chỉ có 5 người, năm người đã bị chặn lại ở các sân bay. Còn nếu nhà nước cử người đi đại diện cho VN thì bọn tôi chẳng bao giờ tới lượt. Những người đang biểu diễn lập trường chắc chắn sẽ được cử đi để “bảo vệ danh dự của đảng cộng sản VN và nhà nước”. Lúc đó các nhà lý luận sẽ viết sẵn cho họ những bài tham luận đầy tự hào rằng: “Việt Nam tuy còn khó khăn, nhưng đang phát triển và dân chủ gấp vạn lần các nước tư bản”… Việt Nam “dân chủ” mới có những người như Đoàn Văn Vươn, Đặng Ngọc Viết phải đem cả mạng sống của mình ra giành lại đất đai… Việt Nam tự do nên các blogger và những người dám xuống đường  đấu tranh chống Trung Quốc bành trướng đã bị đàn áp và lần lượt vào tù.

Họ làm trò gắp lửa bỏ tay người chẳng mấy ai tin. Chúng tôi dẫu biết sẽ rất nhiều hệ lụy trong  ngày trở về, chúng tôi sẵn sàng đón nhận tất cả. Tù đày ư, tra tấn đánh đập ư? Chúng tôi sẵn sàng dấn thân cho một Việt Nam ngày mai được TỰ DO, DÂN CHỦ, GIÀU MẠNH, VĂN MINH, KHÔNG THÙ HẬN.

Nguyễn Thị Kim Chi

Nguồn: https://www.facebook.com/notes/chi-kim-nguy%E1%BB%85n/th%C6%B0-g%E1%BB%ADi-b%E1%BA%A1n-b%C3%A8/636165839805042?fref=nf

Read more