Cộng đoàn Xa Quê Hà Nội mừng Đại Lễ

VRNs (19.10.2014) – Hà Nội – Do đặc thù của thời tiết miền Bắc Việt Nam nên Đại Lễ Di Dân khu vực này được tổ chức vào tuần cuối của tháng 10 hàng năm. Vì tháng 1, thời tiết khu vực này thường xuyên mưa dầm gió bấc rất lạnh nên các linh mục linh hướng đã quyết định chọn ngày 20/10 để khai mạc tuần lễ di dân.

Tuần Lễ Di Dân năm nay được bắt đầu từ ngày 20 đến ngày 22/10 với nhiều chương trình mừng lễ do chính những người di dân sống trên địa bàn thành phố Hà Nội đứng ra tổ chức với sự linh hướng của Cha Gioan Lưu Ngọc Quỳnh và Cha Giuse Trần Hữu Hoan. Địa điểm tổ chức tại Nhà thờ giáo xứ Thái Hà.

Đặc biệt trong dịp đại lễ di dân năm nay sẽ có sự góp mặt của Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh – Giám Mục Đặc Trách Di Dân Việt Nam trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chủ tế Thánh Lễ khai mạc Đại Lễ Di Dân ngày 20/10 tới đây.

Sau Thánh Lễ khai mạc sẽ có đêm Thánh Ca mừng Đại Lễ Di Dân.

Ngày 21/10 từ lúc 19h30 sẽ có đêm diễn nguyện với chủ đề: Tân Phúc Âm Hóa Gia Đình.

Ngày 22/10 Đại Gia Đình Công Giáo Xa Quê Hà Nội đón niềm vui chung trong tuần Đại Lễ Di Dân, đón tiếp các vị khách mời đến vui chung. Buổi tối sẽ có cuộc rước kiệu Thánh Tâm Chúa Giêsu, sau đó Thánh Lễ Đồng Tế. Cuối cùng là đêm Thánh Ca bế mạc tuần Đại Lễ Di Dân.

Cha Gioan Lưu Ngọc Quỳnh – Đặc trách Gia Đình Công Giáo Xa Quê Hà Nội mong muốn: Dịp Đại lễ nhằm quy tụ mọi người di dân đang sống và làm việc trên mảnh đất Hà thành này có cơ hội được giao lưu, chia sẻ, sống đời sống Phúc Âm giữa những bon chen, vất vả của cuộc sống mưu sinh hàng ngày. Đây cũng là dịp để anh chị em đã tham gia vào Gia Đình Công Giáo Xa Quê Hà Nội  đang được phát triển theo mô hình cộng đoàn Giáo xứ giới thiệu những anh chị em khác của giáo xứ mình chưa biết đến sẽ tham gia sau kỳ đại lễ này.

14101900

Read more

Bảo chứng của đức tin

VRNs (19.10.2014) – Sài Gòn – “Ông Abraham  đã chẳng mất niềm tin, chẳng chút nghi ngờ lời Thiên Chúa hứa; trái lại, nhờ niềm tin, ông đã nên vững mạnh và tôn vinh Thiên Chúa,vì ông hoàn toàn xác tín rằng: điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Người cũng có đủ quyền năng thực hiện” (Rom. 4: 20, 21).

141019002 “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm”. (1Ga 3: 18).

 “Ai tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 3: 24).

Mọi con cái của Chúa đều cần sự bảo đảm của đức tin: là sự xác tín đầy đủ rằng Thiên Chúa đã đón nhận và làm cho mình trở nên con cái của Ngài. Lời Kinh Thánh luôn luôn nói về những người Ki-tô hữu như là những người biết rằng họ được cứu độ, rằng bây giờ họ là con cái của Thiên Chúa, và họ sẽ nhận được sự sống đời đời (Dnl 26: 27, 28; Is 44: 45; Gal 4: 7; 1 Ga 5: 12). Làm sao một đứa trẻ có thể cầu xin, yêu thương và phục vụ cha của nó trong khi nó lại nghi ngờ không biếtngười cha đó có thực sự biết và coi nó là con hay không?

Kinh Thánh nhắc đến ba điều, nhờ đó chúng ta có sự bảo đảm của đức tin: trước hết, đức tin trong lời nói; sau đó, việc làm; và cùng với hai điều trên là Thánh Thần.

Trước hết, đức tin trong lời nói. Abraham đối với chúng ta là một mẫu gương tiêu biểu trong đời sống niềm tin, và đồng thời cũng là bảo đảm của niềm tin. Và sau đó Kinh Thánh đã nói gì về điều bảo đảm mà ông đã có được?  Ông đã tin chắc rằng những gì Thiên Chúa đã hứa thì Người có đủ quyền năng thực hiện. Niềm hy vọng duy nhất của ông là từ Đức Chúa và những gì mà Ngài đã hứa. Ông tựa nương vào Chúa và thi hành những điều Ngài phán dạy: lời hứa của Chúa đối với ông là duy nhất nhưng lại đầy sự bảo đảm. (Ga 3: 33, 5:24; Cv 27:25; Rm 4:21, 22; 1Ga 5:10,11).

Nhiều người Ki-tô hữu trẻ nghĩ rằng đức tin trong lời nói thì không thể mang lại sự bảo đảm đầy đủ:  họ đành tìm nhiều điều hơn nữa. Họ cho rằng sự bảo đảm, là một sự cảm nhận hay nột sự thâm tín tự bên trong, là cái gì đó được ban trên xuống hay ở ngoài đức tin [they imagine that assurance, a sure inward feeling or conviction, is what is given above or outside of faith]. Đây là một sai lầm. Khi tôi không cần gì hơn ngoài lời đáng tin cậy của một người mang lại cho tôi sự bảo đảm, thì Lời Chúa chắc hẵn sẽ là sự bảo đảm cho tôi. Con người phạm tội vì họ tìm kiếm điều gì đó trong chính con người của họ và trong chính suy nghĩ của họ. Không: toàn bộ ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa: linh hồn không phải được cư ngụ bởi chính nó hay các công việc của nó nhưng là chính Thiên Chúa: linh hồn phải quên đi chính mình để lắng nghe tiếng Chúa và để tin tưởng vào lời hứa của Ngài, là điều có giá trị bảo đảm chắc chắn (Ds 23:19; Tv 89:35). Linh hồn không được nghi ngờ lời hứa của Chúa nhưng phải vững tin vào Ngài, dâng lời tán tụng Ngài và xác tín đầy đủ rằng những gì Chúa đã hứa thì Ngài có khả năng thực hiện.

Rồi Kinh thánh cũng đề cập đến việc làm: bằng một tình yêu chân thành chúng ta tự hứa với lòng mình: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1Ga 3: 18).Tuy nhiên, hãy cẩn thận ghi nhớ điều này: đầu tiên, sự bảo đảm bởi đức tin là trong lời hứa chứ không phải bằng việc làm. Ngay một người vô thần khi đón nhận ân ban cũng biết điều đó chỉ đến bởi lời [the godless man who receives grace knows this only from the word].  Nhưng rồi, sự bảo đảm đó sẽ được theo sau bởi việc làm. “Nhờ việc làm mà đức tin được nên hoàn hảo” (Ga 15: 10, 14; Gl 5:6; Jas 2: 22; 1Ga 3, 14). Một cây vừa được trồng trong “mãnh đất đức tin” thì dĩ nhiên nó chưa sinh hoa kết quả. Nhưng khi thời gian sinh hoa kết quả đã điểm mà nó vẫn trơ trơ thì thật đáng e ngại. Rõ ràng, khởi đầusự bảo đảm của đức tin thì chưa có việc làm, chỉ có lời nhưng dần dà chắc chắn việc làm phải được theo sau.

Và cả hai – sự bảo đảm nhờ tin và nhờ việc làm –phải được triển nở cùng với Thần Khí. Không phải chỉ nhờ lời, và cũng không phải bởi việc làm như là điều mà chính tôi tự có được nhưng lời như là khí cụ của Thần Khí và việc làm lại như là hoa quả của Thần Khí, nhờ đó con cái của Chúa mới có sự bảo chứng bởi trời là trở nên con cái Chúa (Ga 4: 13; Rm 8:13, 14; 1Ga 3, 24).

Hãy đặt niềm cậy trông vào Chúa Giêsu là cuộc sống của chúng ta và cư ngụ trong Người và sự bảo đảm của đức tin sẽ không tuột khỏi tầm tay của chúng ta.

Ôi lạy Cha, xin dạy con biết tìm kiếm sự bảo đảm của đức tin trong sự gắn kết với Ngài, trong sự tin cậy vững vàng vào lời hứa của Ngài, và trong sự vâng phục các huấn lệnh của Ngài. Xin dùng Thần Khí của Ngài mách bảo cho con biết rằng con chính là con thật của Cha. Amen.

1. Điều quan trọng của bảo chứng đức tin hệ tại ở chỗ, tôi không thể nào yêu hay phục vụ một Thiên Chúa trong khi tôi lại không biết liệu Người có yêu và công nhận tôi như là con của Người hay không.

2. Toàn bộ Kinh Thánh là một bảo chứng tuyệt vời cho đức tin. Bởi lẽ chính Kinh Thánh tự đề cập về mình chứ không phải được ai gán cho. Ab-ra-ham và Mô-sê đã  nhận thức một cách rõ ràng rằng Thiên Chúa đã đón nhận họ nếu không, biết đâu họ lại chẳng tin nhận và và phục vụ Người. Ít-ra-en biết rằng Thiên Chúa cứu độ họ: vì vậy họ đã phụng sự Người. Chẳng phải điều đó cũng quan trọng với hồng ân cứu độ lớn lao trong  Kinh Thánh Tân Ước đó sao?

3. Đức tin và sự vâng phục là hai điều bất khả phân ly, là cội rễ và hoa quả. Trước hết, cần phải có rễ và rễ phải có thời gian chờ đợi rồi mới đâm hoa kết trái: sự bảo đảm đầu tiên chưa có hoa quả bởi sống đức tin bằng lời; rồi sau đó, sự bảo đảm đi  xa hơn nữa là sinh hoa quả. Đó chính là cuộc sống với Đức Giê-su, trong Người sự bảo đảm đức tin được cũng cố vững chắc và không còn nghi ngại.

4. Sự bảo đảm đức tin được trợ giúp rất nhiều bởi sự hoán cải. Điều gì tôi thể hiện nổ lực của mình một cách thiện chí ắt tôi sẽ xác tín một cách sâu xa hơn.

5. Hãy quỳ dưới chân Chúa Giê-su, ngước trông lên Người với ánh nhìn đầy trìu mến, hãy lắng nghe những lời hứa thân thương của Người, chính trong mối tình thâm sâu với Đức Giê-su qua đời sống cầu nguyện, tất cả những lắng lo của Chúng ta sẽ tan mau. Hãy kiên vững bước đi và chúng ta sẽ đón nhận được sự bảo đảm của đức tin.

Rev. Andrew Murray

(Jos. Đồng Lạc chuyển ngữ từ tác phẩm The New Life)

Read more

Loan báo Tin Mừng

VRNs (19.10.2014) – Sài Gòn – Chúa Giêsu nói: Hãy đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân” (Mc 16:15). Đó vừa là lời mời gọi vừa là mệnh lệnh đối với mọi người, không trừ ai, cả nam-phụ-lão-ấu!

LÀM SAO LOAN BÁO TIN MỪNG?

141019001Có 3 điều cần phải làm để chia sẻ Phúc âm:

1. Chuẩn bị tinh thần. Hãy học hỏi Lời Chúa, đọc thêm các tài liệu hữu ích để bổ sung kiến thức: “Hãy cố gắng ra trước mặt Thiên Chúa như một người đã được thử luyện, một người thợ không có gì phải xấu hổ, một người thẳng thắn dạy lời chân lý” (2 Tm 2:15).

2. Chuẩn bị tâm hồn. Hãy cầu xin Chúa ban cho trái tim đầy lòng trắc ẩn để cứu giúp người khác: “Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải” (2 Pr 3:9). Hãy cầu xin Chúa thắp lửa nhiệt thành để nhận biết những điều cần thiết trong mối quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu: “Anh em sẽ sống được như Chúa đòi hỏi, và làm đẹp lòng Người về mọi phương diện, sẽ sinh hoa trái là mọi thứ việc lành, và mỗi ngày một hiểu biết Thiên Chúa hơn” (Cl 1:10).

3. Chuẩn bị cách thức. Hãy cầu nguyện. Hãy xin Chúa ban cho bạn lòng can đảm nói về Chúa cho những người mình gặp. Hãy xin Chúa ban cho bạn sự khôn ngoan để bạn có thể làm cho họ những điều họ cần. Hãy cầu xin cho mình là “sứ giả” đã được chuẩn bị để có thể nói với cả lòng nhiệt thành.

LÀM SAO NGƯỜI TA NGHE?

“Làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng?” (Rm 10:14).

Bạn đã đưa ai đến với Đức Kitô? Nếu chưa, tại sao vậy? Có thể bạn nghĩ rằng Thiên Chúa không thể dùng bạn theo cách này, vì bạn có sở trường khác, và điều đó chỉ dành cho một số người được đặc ân để đưa người khác đến với Đức Kitô. Nhưng nếu vậy, tại sao sứ vụ loan báo Tin Mừng được trao cho mọi Kitô hữu? Đức Kitô đã kêu gọi: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28:19). Nghĩa là tất cả chúng ta đều được kêu gọi để loan báo Tin Mừng.

Thật mầu nhiệm khi Thiên Chúa chọn con người để trao sứ vụ loan báo Tin Mừng, họ là những người giao tiếp với Phúc Âm, những sứ giả của Thiên Chúa.

TRẦM THIÊN THU (Viết theo Jesus.org và Crosswalk.com)

Read more

ĐTC Phanxicô tiếp TT Nguyễn Tấn Dũng

VRNs (19.10.2014) – Sài Gòn – Radio Vatican cho biết hôm qua, 18.10, ĐTC Phanxicô đã tiếp kiến Thủ Tướng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng. Sau đó Thủ tướng đã gặp ĐHY Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, có Đức TGM ngoại trưởng Dominique Mamberti tháp tùng.

141019004

Đài này cho biết thêm: “Trong các cuộc hội kiến thân mật, các vị bày tỏ sự hài lòng về cuộc gặp gỡ hôm nay, đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong tiến trình củng cố những quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam, vì đây là lần thứ hai, Thủ Tướng Dũng thực hiện cuộc viếng thăm tại Vatican sau cuộc viếng thăm hồi năm 2007. Trong cuộc hội kiến có nêu bật sự dấn thân của Giáo Hội đóng góp vào việc phát triển đất nước, nhờ sự hiện diện của Giáo Hội trong nhiều lãnh vực để mưu ích cho toàn thể xã hội. Trong bối cảnh đó có tái khẳng định sự đánh giá cao đối với sự nâng đỡ của Chính Quyền dành cho Cộng đồng Công Giáo trong khuôn khổ những phát triển được Hiến Pháp năm 2013 khẳng định liên quan đến chính sách tôn giáo, cũng như về sự trợ giúp cho Vị Đại Diện Tòa Thánh không thường trú ở Việt Nam trong việc thi hành sứ mạng của Ngài, nhắm thăng tiến quan hệ giữa Giáo Hội và Nhà Nước, hướng tới mục tiêu chung là các quan hệ ngoại giao. Rồi cũng đề cập tới một vài vấn đề mà hai bên cầu mong sẽ được đào sâu và giải quyết qua các kênh đối thoại hiện có”.

Báo điện tử của Chính phủ VN cho biết: “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Tòa thánh, đồng thời thực hiện nhất quán và không ngừng hoàn thiện chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của người dân; ủng hộ Giáo hội và đồng bào Công giáo Việt Nam tiếp tục đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước”.

Khác với các lần viếng thăm của các quan chức khác, lần này không thấy TT Dũng xin Tòa thánh khuyên Giáo hội tại Việt Nam tôn trọng pháp luật, mà đã cho biết luật về tư do tôn giáo chưa hoàn thiện, hiện này đang “không ngừng hoàn thiện chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của người dân”.

141019005

báo chính phủ cũng cho biết Đức giáo hoàng “bày tỏ quan ngại về tình hình căng thẳng ở Biển Đông và khẳng định mong muốn đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh tại khu vực và trên thế giới”.

PV. VRNs

Read more

Thân mẫu anh Đặng Xuân Diệu kêu cứu cho con

VRNs (18.10.2014) – Nghệ An – Bà Nguyễn Thị Nga viết: “Theo những gì chúng tôi được các luật sư cho biết, con tôi hoàn toàn vô tội

Trước tình trạng tính mạng của con tôi đang bị đe dọa từng ngày, từng giờ. Tôi viết thư kêu cứu này tới quý vị với mong muốn rằng: Bằng lương tâm và tình người, với ý thức xây dựng một nhà nước pháp quyền, một xã hội tốt đẹp, tôi xin quý vị hãy cứu lấy con tôi

Tôi xin gửi lời kêu cứu khẩn cấp của tôi đến các cơ quan công quyền, các hãng truyền thông chân chính, các tổ chức xã hội dân sự cùng tất cả mọi người. Xin hãy cứu lấy con tôi: Đặng Xuân Diệu”.

—-

141017010

ĐƠN KÊU CỨU KHẨN CẤP

Kính gửi: Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng  Chính Phủ.

Ông: Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước CHXHCNVN

Ông: Trần Đại Quang Bộ trưởng Bộ Công An Việt Nam.

- Viện Trưởng Viện KSND Tối Cao

- Cục Quản lý Trại giam – Bộ Công An.

- Viện Trưởng Viện KSND Tỉnh Thanh Hóa.

- Các cơ quan hữu quan

Đồng kính gửi: – Các cơ quan Ngoại giao, các tổ chức Quốc tế, các Tổ chức Xã hội – Dân sự, Chính trị.

- Các hãng truyền thông trong nước, quốc tế và mọi thành phần dân tộc Việt Nam.

Tôi là:  Nguyễn Thị Nga (69 tuổi).

Hiện sinh sống tại: Xóm 4 xã Nghi Đồng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Việt Nam.

Thưa quý vị

Tôi là Mẹ của Đặng Xuân Diệu, một Tù nhân lương tâm bị bắt bớ, kết án oan sai và đang bị giam giữ tại Trại 5, Yên Định, Thanh Hóa, Việt Nam.

Ngày 30 tháng 7 năm 2011, tại Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Công an Việt Nam đã bắt cóc con trai tôi không có một lý do chính đáng. 2 năm sau  mới  đưa ra xét xử  tại tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An vào ngày 09/01/2013.  Tòa án đã  kết án con tôi 13 năm tù về tội trạng hết sức mơ hồ là  “Âm mưu lật đổ chính Quyền”

Ngay tại Tòa, con tôi đã tố cáo việc bắt bớ, giam giữ,và bác bỏ mọi lời kết tội một cách áp đặt vô pháp luật. Luật sư biện hộ đã bác bỏ hoàn toàn Cáo trạng và kết tội của VKSND, Tòa Án Nhân dân Tỉnh Nghệ An. Dư luận hết sức phẫn nộ trước việc cố tình dùng Tòa án để trả thù một thanh niên yêu nước, hy sinh vì cộng đồng như con tôi.

Sau đó, con trai tôi không được xét xử phúc thẩm và bị biệt giam, không cho người nhà thăm gặp. Tới nay đã hơn 3 năm, 2 tháng 15 ngày.

Những thông tin chúng tôi nhận được cho biết: Con tôi đã bị phân biệt đối xử, tra tấn, đàn áp bằng bạo lực về thể chất và tinh thần hết sức nặng nề tại Trại Giam số 5, huyện Yên Định, Tỉnh Thanh Hóa. Nhiều lần con tôi đã phải dùng tới biện pháp mạo hiểm nhất là tuyệt thực để phản đối các hành động ấy nhưng thay vì được cải thiện thì các khung hình phạt lại gia tăng.

Tình trạng an toàn về sức khỏe, tính mạng của con tôi hiện nay hết sức nguy cấp

Chúng tôi có nhân chứng cho những lời nói trên đây.

Thưa quý vị

Con trai tôi, Đặng Xuân Diệu là một thanh niên đầy nhiệt huyết và giàu lòng yêu nước, thương người. Là người mẹ, tôi biết rõ con tôi là một thanh niên dám hy sinh thân mình vì cộng đồng, vì mọi người và vì tình yêu quê hương, đất nước

Theo những gì chúng tôi được các luật sư cho biết, con tôi hoàn toàn vô tội

Trước tình trạng tính mạng của con tôi đang bị đe dọa từng ngày, từng giờ. Tôi viết thư kêu cứu này tới quý vị với mong muốn rằng: Bằng lương tâm và tình người, với ý thức xây dựng một nhà nước pháp quyền, một xã hội tốt đẹp, tôi xin quý vị hãy cứu lấy con tôi

Tôi xin gửi lời kêu cứu khẩn cấp của tôi đến các cơ quan công quyền, các hãng truyền thông chân chính, các tổ chức xã hội dân sự cùng tất cả mọi người. Xin hãy cứu lấy con tôi: Đặng Xuân Diệu

Gia đình tôi yêu cầu được thăm gặp con trai tôi như các tù nhân khác vẫn thường được hưởng theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp Bệnh tình nguy cấp, sức khỏe bị suy kiệt, cần được đưa về điều trị kịp thời

Giờ phút này, tôi không biết nói gì hơn, gia đình tôi cầu mong quý vị, bằng mọi cách, xin hãy kịp thời cứu lấy con tôi

Tôi và gia đình xin chân thành biết ơn.

Nghệ An, Ngày 14/10/2014

Ký tên

(đã ký)

Nguyễn Thị Nga.

Read more

Viễn tượng về chính thể cộng hòa cho Việt Nam

VRNs (17.10.2014) – Melbourne, Úc Đại Lợi – Các bạn trẻ quan tâm đến tình trạng đất nước thường phân vân giữa chính thể cộng hòa và thể chế dân chủ. Có bạn còn chưa rõ các quốc gia Đông Âu và Liên Xô đều đã theo chính thể cộng hòa và tương tự Việt Nam sẽ thế.

 

Cộng hòa – Cộng sản

141017006Cộng hòa nghĩa là mọi công dân đều bình đẳng về chính trị. Có như vậy quyền lực chính trị mới thực sự thuộc về tòan dân. Công dân có quyền và có bổn phận bầu ra người đại diện quốc gia.

Nhờ bình đẳng về chính trị, nền cộng hòa khuyến khích sự phát triển của đa nguyên, đa đảng tạo nền tảng xây dựng xã hội dân chủ.

Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (1946-76) và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (1976-) là quốc gia theo thể chế cộng sản. Đảng trên cả Tổ Quốc. Ngay trong đảng Cộng sản các đảng viên đã bị đối xử bất bình đẳng về chính trị.

Ngòai xã hội người dân đã mất hẳn quyền tự do chính trị. Hiến Pháp chỉ là hình thức. Phương thức “Đảng cử dân bầu” cũng là dân chủ hình thức nên không thể xem là nước cộng hòa.

Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia Cộng Hòa trong thời chiến và đã trải hai qua hai nền Cộng Hòa – Tổng Thống chế.

Đệ Nhất Cộng hòa (1956-63) do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo qua 2 nhiệm kỳ và đã chấm dứt sau cuộc đảo chánh 1-11-1963.

Đệ Nhị Cộng hòa (1967-75) trải qua 3 đời Tổng thống.

1.  Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đắc cử 2 nhiệm kỳ và ông Thiệu đã từ chức ngày 21-4-1975.

2.  Tổng thống Trần Văn Hương chỉ được 7 ngày (21-4 đến 28-4-1975).

3.  Tổng thống Dương Văn Minh chỉ được 3 ngày 30-4-1975 thì đầu hàng quân đội Bắc Việt, chấm dứt nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

Hai nền Đệ Nhất Cộng Hòa (1956-63) và Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-75) đã đi vào lịch sử. Mỗi nền Cộng Hòa có nhiều điểm khác nhau, việc đánh giá và viết lại trang sử là việc làm của những nhà viết sử.

Trong giới hạn bài viết chỉ xin đưa ra một số ưu điểm chung của cả hai nền Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam.

 

Giá Trị Của Nền Cộng Hòa tại Miền Nam

Việt Nam Cộng Hòa là một nước cộng hòa non trẻ trong thời chiến nhưng đã xây dựng dựa trên một nền tảng dân chủ: (1) công dân bầu Quốc Hội Lập Hiến (2) Quốc Hội Lập Hiến sọan Hiếp Pháp (3) công dân bầu Quốc Hội Lập Pháp và bầu Tổng Thống.

Quốc Hội Lập Hiến và Lập Pháp đều có sự tham gia của đa đảng chính trị. Các đảng chính trị đóng một vai trò vô cùng quan trong trong việc xây dựng nền dân chủ và pháp trị tại miền Nam. Cả Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa đều đã có đối lập chính trị họat động trong nghị trường.

So với các quốc gia trong vùng Đông Nam Châu Á cùng thời, Hiến pháp 1967 chỉ rõ sự tiến bộ vượt bực của Việt Nam. Hiến pháp vừa ngắn gọn, rõ ràng, vừa nêu rõ chính phủ phải bảo đảm những quyền tự do căn bản, kể cả quyền đối lập chính trị. Hệ thống tam quyền phân lập cũng đã được đưa vào Hiến Pháp 1967.

Cũng so sánh với các quốc gia trong vùng, Việt Nam Cộng Hòa có một số đặc điểm nổi bật:

1.  Các quyền tự do căn bản đã được chính phủ bảo đảm, đặt biệt là quyền tư hữu;

2.  Xây dựng được một nền dân chủ tam quyền phân lập;

3.  xây dựng thành công một nền giáo dục, lấy dân tộc, nhân bản và khai phóng làm căn bản

4.  theo kinh tế thị trường tự do;

5.  nhưng vẫn đảm bảo được vấn đề dân sinh như y tế hay thực hiện luật Người Cày Có Ruộng.

Kinh nghiệm thế giới cho thấy các yếu tố trên là căn bản trong việc phát triển quốc gia. Nghĩa là nếu miền Nam không rơi vào tay cộng sản thì Việt Nam Cộng Hòa sẽ không thể kém xa các quốc gia Đông Nam Châu Á như hiện nay. Nếu không nói là sẽ vượt trội hơn người.

Sau 40 năm, đảng Cộng sản đã hủy họai tất cả những gía trị nền cộng hoà đạt được. Tuy nhiên giá trị tinh thần vẫn còn đó và sẽ đựơc phục hồi.

 

Tinh Thần Cộng Hòa vẫn tồn tại

Mặc dù Việt Nam Cộng Hòa không còn tồn tại nhưng sinh họat và tinh thần cộng hòa đã ăn sâu vào cách suy nghĩ của người miền Nam.

Tinh thần này đã được truyền cho thế hệ tiếp nối và lan tỏa khắp nơi. Trong nước tại miền Nam các thế hệ đi trước đã kể cho con em họ về lịch sử của họ và của Việt Nam Cộng Hòa.

Ở hải ngọai tinh thần được những người tị nạn mang theo và gìn giữ. Biểu hiện rõ ràng nhất là các sinh họat cộng đồng tại Hoa Kỳ, Tây Âu và Úc châu vẫn tiếp tục sử dụng Quốc Kỳ, Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa và luôn gắn bó với cuộc đấu tranh giành lại tự do tại Việt Nam.

Ngày nay nhờ các phương tiện truyền thông hiện đại tinh thần cộng hòa đang từng bước hồi phục tại Việt Nam.

Nhiều người sống ở miền Bắc hay trước đây theo cộng sản dần dần cũng nhận ra những ưu điểm mà thể chế cộng hòa mang lại cho dân, cho nước.

Việc công nhận Việt Nam Cộng Hòa cũng được ghi nhận trên những cơ quan truyền thông chính thức tại Việt Nam.

Ngày nay, ở hải ngọai có hằng triệu người thuộc thế hệ tiếp nối Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ học hỏi, sống và làm việc tại các cường quốc trên thế giới họ đã tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm sẽ là nền tảng xây dựng lại Việt Nam. Một yếu tố mà Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa không hề có.

Một khi Việt Nam có tự do, những công dân gốc Việt cũng sẽ dùng lá phiếu, sẽ nỗ lực vận động các cường quốc giúp đỡ xây dựng lại Việt Nam.

 

Viễn Tưởng Về Nền Đệ Tam Cộng Hòa.

Tình hình thế giới đang biến chuyển không ngừng, càng ngày càng nhiều quốc gia trở thành các quốc gia Cộng Hòa. Úc trong 10 năm tới có lẽ cũng sẽ trở thành một quốc gia cộng hòa.

Tình hình Việt Nam cũng thế: (1) bên trên Bộ Chính trị càng ngày càng phân hóa, (2) bên trong đảng Cộng sản diễn biến hòa bình càng ngày càng khốc liệt, (3) bên ngòai xã hội thì đòi hỏi thay đổi chính trị mỗi ngày một tăng thêm.

Các tổ chức tôn giáo, tổ chức đấu tranh chính trị, tổ chức xã hội dân sự đã và đang liên kết tìm một hướng đi mới cho Việt Nam.

Khi chế độ sụp đổ, các quốc gia Đông Âu và Liên Xô đều đã theo chính thể cộng hòa và tương tự Việt Nam sẽ thế.

Muốn có một nền tảng vững chắc cho tương lai, cần hướng đến một Quốc hội Lập hiến sọan một hiến pháp mới cho Việt Nam. Tên nước, cờ, thủ đô, mô hình thể chế dân chủ sẽ được tòan dân quyết định.

Cho đến nay lá cờ vàng vẫn là biểu tượng của những người theo khuynh hướng cộng hòa. Vì thế họ luôn tìm mọi cách vinh danh và hợp thức hóa lá cờ.

Quan điểm cho rằng phải bỏ màu cờ để có thể bàn chuyện dân chủ là một quan niệm thiếu dân chủ. Trước đây ở miền Nam và sau này ở Hải Ngọai cũng đã từng tranh luận công khai về việc thay đổi màu cờ.

Quan điểm dân chủ sẵn sàng chấp nhận phương cách đấu tranh dân chủ qua một cuộc trưng cầu dân ý để có một màu cờ chung cho tòan dân tộc.

 

Kết Luận

Việt Nam đã từ bỏ chế độ Quân Chủ, đang từ bỏ chế độ độc tài cộng sản, chính chế cộng hòa sẽ là thể chế tương lai Việt Nam. Các quyền tự do cơ bản và giá trị cộng hòa sẽ được phục hồi.

Nền Đệ Tam Cộng Hòa sẽ tiếp tục sứ mệnh xây dựng, giữ gìn đất nước và đưa đất nước đi lên hội nhập vào thế giới văn minh.

Các bạn trẻ dấn thân đấu tranh cho dân chủ khi nắm được điều đơn giản bên trên sẽ định được hướng đấu tranh một cách rõ ràng hơn.

Xây dựng lại đất nước là một việc rất khó, cần biết rõ phải làm gì để có thể làm nhanh hơn với kết quả tốt hơn.

Nguyễn Quang Duy

Read more

Chống không nổi – sao cứ ỳ ra thế ?

VRNs (17.10.2014) – Washington DC, USA – Người Cộng sản Việt Nam (CSVN) đầu Thế kỷ điện tử 21, năm 2014, nổi tiếng Thế giới trong  4 lĩnh vực: Biết sai mà cứ cãi; Có lỗi nhưng không nhận để sửa chữa và không chịu từ chức; Làm hỏng mà cứ chối quanh cho huề cả làng; Cứ viết bừa, nói quậy rồi người đọc và nghe cũng quen đi.

141017004Đi sâu vào từng lĩnh vực, hãy kể ra đây tin hàng đầu về vụ bùn đỏ tràn ra đường ở khu vực hồ thải quặng bô xít Tân Rai đuôi số 5 (tỉnh Lâm Đồng) ngày 08/10 (2014), theo báo Tuổi Trẻ.

Bộ Công thương và chủ đầu tư tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Viẹt Nam (Vietnam National Coal – Mineral Industries Group- Vinacomin,TKV) khẳng định “loại đất này không gây độc hại, không gây ảnh hưởng tới môi trường.”

Ông Trần Văn Chiều – Phó Tổng giám đốc Vinacomin (TKV) nói với báo chí: “Đây hoàn toàn là bùn đỏ tự nhiên, không độc hại. Chúng tôi còn có kế hoạch nếu thiếu đất hoàn thổ sẽ đưa lên để trồng cây”.

Tuy nhiên, theo Tiến Sỹ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc quản lý dự án Than đồng bằng sông Hồng thì : “ Nếu ai đó khẳng định hồ thải quặng đuôi không nguy hại là không đúng. Bất cứ hồ (bãi) thải quặng đuôi nào cũng nguy hại, do có chứa rất nhiều khoáng vật của KIM LOẠI NẶNG và hợp chất hóa học khác nhau chưa được xử lý.

Vì vậy, trong các sách giáo khoa, người ta phải có hẳn 1 chương hướng dẫn thiết kế bãi thải quặng đuôi. Chắc chủ đầu tư lẫn Bộ Công Thương chưa được học! Ở Tân Rai, về mặt lý thuyết, hồ thải quặng đuôi chỉ ít nguy hại hơn hồ thải bùn đỏ.” (Trích từ báo Một Thế Giới, 12/10/2014)

Ông Sơn là người nghiên cứu và chống dự án khai thác Bauxite ỏ Tây Nguyên ngay từ  năm 2007 khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định 167 phê duyệt quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít từ giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.

Theo ông Sơn và nhiều chuyện gia về địa chất và kinh tế thì tốn phí khai thác Bauxite không có lợi cho nền kinh tế Việt Nam vì giá bán trên thị trường rất bấp bênh. Các chất thải khi biến chế và các hồ chứa chất bùn đỏ độc hại sẽ có nguy cơ tác hại nghiêm trọng đến môi trường, kể cả thương tổn đến sinh mạng con người và các sinh vật do chất độc của bùn đỏ ngấm vào đất và các nguồn nước gây ra, vì Tây Nguyên có lượng mưa nhiều và ở vị trí trên cao rất nguy hiểm nếu hồ chứa bùn đỏ độc hại bị vỡ !

Khỏang 4,000 Trí thức và đảng viên kỳ cựu, kể cả Bà nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Địa phận Vinh, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình của Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đã ký tên vào kiến nghị yêu cầu nhà nước đình chỉ dự án nguy hiểm này.

Tuy nhiên do sức ép  của Trung Cộng, nước có nhu cầu lớn về lượng nhôm cho kỹ nghệ của họ nên Bộ Chính trị của đảng CSVN thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã bằng lòng để cho Công ty xây dựng của Trung Cộng, Tập đoàn Chalieco chuyên sản xuất Alumin – nhôm của Trung Quốc,  .được “trúng thầu” xây dựng hai nhà máy Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Dăk Nông).

Khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lên thay ông Mạnh từ tháng 01/2011, đã không điếm xỉa đến lời khuyên của các chuyên gia mà còn  bỏ ngòai tai cả lời cảnh giác “nguy hiểm cho an ninh quốc gia” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Nói thêm về sự độc hại của bùn đỏ đã tràn ra đường ở “hồ đuôi số 5”  Tân Rai, Tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn nói tiếp : “Bãi thải quặng đuôi từ nhà máy tuyển rửa quặng của dự án Tân Rai được lựa chọn địa điểm và các giải pháp thiết kế ấu trĩ. Công nghệ tuyển quặng được “copy” của Trung Quốc, nhưng lại không có thử nghiệm tuyển công nghệ, tiêu hao nhiều nước, phải nhờ các bạn Ấn Độ hiệu chỉnh bằng sử dụng chất trợ lắng.

Trong ngành khai khoáng, bãi thải quặng đuôi là một hạng mục rất quan trọng cần được thiết kế đúng. Ở Việt Nam cách đây hơn 40 năm, chúng ta đã có các bãi thải quặng đuôi được các chuyên gia Trung Quốc giúp thiết kế ở mỏ Cromite Cổ Định (Thanh Hóa) và mỏ sắt Trại Cau (Thái Nguyên), các chuyên gia Liên Xô giúp thiết kế bãi thải quặng đuôi ở apatite Lào Cai… Nói chung, đây là những công trình thực sự (phải có đầy đủ các bước, từ luận chứng chọn địa điểm đến các giải pháp thiết kế cơ bản, đặc biệt là vấn đề chống thấm và chống các chất kim loại nặng lọt ra ngoài môi trường nước.

Xin nhắc lại, ở Việt Nam, thời bao cấp, tai nạn lớn nhất trong ngành khai khoáng đã xẩy ra tại bãi thải quặng đuôi của mỏ măng gan Tĩnh Túc từ những năm 1960 của thế kỷ trước, và làm thiệt mạng gần 100 người. Vì khi đó đang còn chiến tranh, nên tai nạn thuộc loại “nhậy cảm”, chỉ có các cán bộ kỹ thuật, tâm huyết với ngành mỏ và những người có trách nhiệm mới được biết. Hiện nay chỉ còn một vài người chứng kiến và nhớ. Sử sách đã không thấy ghi lại…” (Trích báo Một Thế giới, 12/10/2014)

Như vậy ai sai ai đúng giữa bộ Công thương và Tiến sỹ Sơn đã rõ như ban ngày. Vậy mà mà các viên chức của Bộ này và Tổng Công ty TKV cứ cảng cổ ra nói quanh để bám trụ bất kể thua lỗ sau cùng chỉ đổ lên đầu dân phải đai lưng làm trả nợ cho những quyết định “tùy hứng”.

VÔ TRÁCH NHIỆM

Để hiểu hơn về cung cách nói và làm của các cơ quan trách nhiệm khai thác Bauxite, hãy nghe một mẩu đối thọai giữa Nhà văn Nguyên Ngọc, người chống dự án Bauxite từ lúc đầu với Đài Phát thanh Quốc tế Pháp RFI (Radio France International,Chương trình tiếng Việt) ngày 14/10/2014:

Nhà văn Nguyên Ngọc nói : “Cách đây mấy năm tôi cùng với anh Nguyễn Thành Sơn, một chuyên gia về mỏ, nghiên cứu rất nhiều về bauxite Tây Nguyên, cũng như tham gia phản biện về bauxite Tây Nguyên, chúng tôi đã viết bài nói về 10 lý do không nên khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Cho đến nay, chúng ta chỉ mới làm thí điểm ở hai nhà máy, nhà máy Tân Rai đã sản xuất và nhà máy Nhân Cơ sắp hoàn thành. Qua hai thí điểm này, những điều mà chúng tôi đã báo động lần lượt bộc lộ ra, trước hết là về kinh tế.

Gần đây có một báo cáo của bộ Công Thương, dựa trên tư liệu của tập đoàn TKV, đơn vị chủ thầu, bảo rằng khai thác bauxite không có vấn đề gì cả, rất là tốt. Chúng tôi đang tập trung phản biện cái báo cáo này. Đây là một báo cáo hết sức vô trách nhiệm, hoàn toàn không dựa trên thực tế của hai nhà máy đang làm thí điểm.

Về kinh tế thì càng ngày càng lỗ, mặc dù cái tính đầu vào đã có rất nhiều gian dối, không tính đầy đủ cái đầu vào. Thứ hai, tập đoàn TKV, đơn vị chủ thầu thì liên tục xin giảm các loại thuế môi trường, thuế khoáng sản…, mà vẫn cứ lỗ. Như vậy về mặt kinh tế không có lý do gì để làm bauxite cả. Họ cũng bảo là trong bao năm nữa sẽ hết lỗ, nhưng cũng chẳng có căn cứ gì để nói như vậy. Ngoài ra, cái việc bán không có ai mua, ngoài Trung Quốc, tức là bán chỉ có một người mua, là rất nguy hiểm.”

RFI: Trong báo cáo vừa qua, bộ Công thương còn đề nghị là chuyển từ làm thí điểm bauxite sang sản xuất nhôm. Theo ông, sản xuất nhôm thì có tác động ra sao?

Nhà văn Nguyên Ngọc:” Nói như thế là nói bừa, vô trách nhiệm! Điện ở đâu mà làm nhôm? Điện bây giờ đang thiếu như thế, mà như ta đã biết, cái khâu từ alumina làm ra nhôm là tốn điện rất nhiều. Với giá điện ở Việt Nam hiện nay thì không thể làm nhôm được. Làm alumina đã lỗ rồi. Trong khi đó nhu cầu tiêu thụ alumina và nhôm ở Việt Nam không có nhiều như thế. Bán ra ngoài thì chỉ có Trung Quốc mua thôi. Chưa nói đến đời sống xã hội bị xáo trộn, khiến văn hóa cũng bị đảo lộn.

Ấy là chưa nói đến mặt an ninh quốc phòng. Lao động của Trung Quốc, lao động không có tay nghề được đưa vào đấy, trong khi lao động của mình thì không sử dụng hết. Lao động nước ngoài tràn vào, thâm nhập vào trong đời sống người dân trong làng. Ở một vùng đất có tính chất chiến lược như Tây Nguyên, chưa biết nguy cơ lâu dài ra sao.”

 

CỐ ĐẤM ĂN XÔI ĐẤT ?

Đến năm 2014, hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ đã nuốt trôi 1.5 tỷ dollars tiền đầu tư, kể cả tiền vay trả lãi nặng của nước ngòai, nhưng Tổng công ty TKV vẫn  tiếp tục “nhăn mặt” kêu khó để xin nhà nước ưu đãi đủ thứ, kể cả vốn đầu tư, thuế tài nguyên, môi trường v.v…

Bộ Công thương phỏng đóan cả hai nhà máy sẽ tiếp tục thua lỗ, nhưng vẫn lạc quan, dù không có căn cứ, rằng Bauxite Việt Nam sẽ có lời sau 11 năm vận hành !

Tin báo chí Việt Nam đưa tin Nhà máy Tân Rai năm 2013 đã lỗ hơn 258 tỉ đồng, Nhân Cơ dự kiến năm 2015 sẽ lỗ hơn 671 tỉ đồng…

Nhưng Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải tỏ vẻ lạc quan trong buổi họp báo ngày 07/04/2014: “Đối với dự án Tân Rai sẽ lỗ trong vòng 5 năm đầu, và 12 năm sau sẽ hoàn vốn. Dự án Nhân Cơ lỗ trong 7 năm và hoàn vốn trong 13 năm. Cả hai dự án này đều có thời gian khai thác là 30 năm nhưng tuổi thọ lên đến 50 năm nên hoàn toàn có tính khả thi. Mặt khác, bô-xít cũng không độc hại như nhiều người khác nghĩ”.

Tính lạc quan “tự phát” này lại thiếu khả thi vì tổng giá thành làm ra 1 tấn hàng gồm nhiều chí phí như vận tải, làm đường, tân trang xa lộ, tiêu phí bảo vệ môi trường, bảo hiểm v.v.. chưa được công chung nên chưa ai biết cuối cùng rồi sẽ thua lỗ bao nhiêu ngàn tỷ nữa và thời gian còn kèo dài thêm bao nhiêu năm nữa ?

Mặt khác, hàng của Việt Nam lại chỉ dành bán phần lớn cho Công ty hữu hạn Nhôm Vân Nam (Trung Quốc).

CÓ LỖI VẪN CỨ NGỒI

Thành tích thứ hai là chuyện người có lỗi sờ sờ ra đấy mà cứ coi trời bằng vung, chả ai dám đuổi việc hay thay thế. Bằng chứng như Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bị cả Bộ chính trị đề nghị phải chịu một hình thức kỷ luật vì không làm tròn nhiệm vụ mà còn gây ra những hậu qủa kinh tế nghiêm trọng trong hai vụ phá sản thua lỗ hàng trăm nghìn tỷ bạc của hai Tổng Công ty Vinashin và Vinalines.

Tại Hội nghị Trung ương 6, Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN không đủ phiếu để kỷ luật ông Dũng vì Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không có khả năng vận động và “tính nể nang nhau” còn bao phủ nghị trường.

Bằng chứng này đã viết trong Bản Thông báo ngày 15/10/2012:”

Sau khi đánh giá toàn diện và toàn bộ kết quả đợt kiểm điểm lần này, Bộ Chính trị đã báo cáo kết quả với Ban Chấp hành Trung ương. Bộ Chính trị, Ban Bí thư nghiêm túc tự phê bình và thành thật nhận lỗi trước Ban Chấp hành Trung ương, trước toàn Đảng và toàn dân về tất cả những yếu kém, tồn tại trong công tác xây dựng Đảng, về những suy thoái, hư hỏng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu. Mặc dù nhiều khuyết điểm, hạn chế có từ các khoá trước, thậm chí chủ yếu là từ các khoá trước dồn lại, nhưng với trách nhiệm của người đứng đầu hiện nay (tập thể, cá nhân), Bộ Chính trị và từng Uỷ viên Bộ Chính trị đã nhận thức sâu sắc trách nhiệm chính trị rất lớn trước những khuyết điểm và hạn chế đó. Để giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng và góp phần giữ gìn uy tín, hình ảnh thiêng liêng của Đảng và làm gương cho toàn Đảng, Bộ Chính trị đã thống nhất cao tự nhận và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương xem xét có hình thức kỷ luật khiển trách về trách nhiệm chính trị đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị. Ban Chấp hành Trung ương đánh giá cao việc tập thể Bộ Chính trị tự giác xin nhận kỷ luật; điều đó thể hiện tinh thần thẳng thắn, cầu thị, nghiêm túc, gương mẫu và quyết tâm cao trong việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng. Sau khi thảo luận, cân nhắc nhiều mặt, Ban Chấp hành Trung ương đã bỏ phiếu quyết định không kỷ luật Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị.”

Tuy tên của “một đồng chí” không bị công khai nhưng ai cũng biết người đó là ông Nguyễn Tấn Dũng. Ông Dũng rất may mắn được sống và có chức có quyền trong chế độ CSVN nên không phải biết vì danh dự và liêm sỉ để tự ý xin từ chức như ở các nước Nhật Bản hay Nam Hàn, nói chi đến các nước tự do dân chủ Tây phương khác.

NUỐT KHÔNG XUÔI

Thành tích ngọan mục thứ 3 của đảng CSVN là hai chuyện phòng, chống tham nhũng và Học tập và làm theo tấm gương “cần,kiệm,liêm, chính” theo như đạo đức Hồ Chí Minh.

Về tham nhũng trong đảng thì ai cũng biết không phải do dân gây ra vì dân không có quyền để đòi tiền, bắt người khác phải hối lộ, chạy chức, chạy quyền với mình. Chuyện này thuộc về cán bộ, đảng viên nhất là những kẻ có chức có quyền.

Nhưng tại sao, kể từ khi có Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 rồi được sửa đổi năm 2012, tham nhũng lan tràn vẫn là câu chuyện “đầu môi chót lưỡi” trong dân mỗi khi họ trao đổi với  Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hay Chủ tịch nước Trương Tấn Sáng ?

Bởi vì ông Hùynh Phong Tranh, Tổng Thanh tra Chính phủ đã báo cáo tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII, ngày 12/06/2014 rằng : “Đây là một thách thức đe dọa sự tồn vong của chế độ.”

Tại sao ? Vì chỗ nào cũng có tham nhũng nhưng đảng vẫn chưa bắt được hết kẻ phạm tội. Vì vậy, theo báo riêng của Ban Thanh tra: “Ông Tranh cho biết, dự báo tình hình tham nhũng sắp tới vẫn nhận định công tác phòng chống tham nhũng vẫn chưa đạt yêu cầu ngăn chặn và đẩy lùi; tham nhũng vẫn xảy ra nghiêm trọng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.Tình hình tham nhũng chưa có dấu hiệu giảm, việc phòng ngừa còn hạn chế trong hiệu quả.”

Ông Tranh còn thẳng thắn nói với Quốc hội rằng:”Ngành (Thanh tra) đưa ra dự báo thanh nhũng vẫn còn diễn ra nghiêm trọng, tinh vi, khó phát hiện, thiệt hại gây ra với tài sản của nhà nước, xã hội còn cao nhưng xử lý tài sản tham nhũng còn thấp. Hành vi tham nhũng có nhiều dạng khác nhau, trong đó có tham ô tài sản, tham nhũng, nhũng nhiễu, cố ý làm trái… diễn ra trong nhiều lĩnh vực nhạy cảm. Tham nhũng vặt xảy ra thường xuyên trong việc tiếp xúc với công dân, doanh nghiệp…

“Như vậy, có thể khẳng định rằng tham nhũng vừa qua chưa được đẩy lùi, diễn biến tinh vi phức tạp cần đấu tranh mạnh mẽ hơn”.

Về câu hỏi của đại biểu Đại biểu Lê Thị Yến (Phú Thọ) với vấn đề tỷ lệ xử lý sau thanh tra thấp, về tiền chỉ đạt 30%, đất đai 20%ông Tranh khẳng định:”Từ 2011 đến nay, kết quả đã tốt hơn. Đến nay, tiền đã đạt hơn 50%, đất đạt 83%.”

Ông cũng chỉ ra nguyên nhân xử lý thấp, vì “chưa có một chế tài mạnh. Trách nhiệm của người đứng đầu ngành là có những chế tài chưa khả thi với người phải thực hiện kết luận thanh tra. Nhận thức pháp luật của đối tượng bị thanh tra cũng chưa tốt.

Thẩm quyền của ngạch thanh tra theo quy định pháp luật cũng chỉ là phát hiện và kiến nghị chứ chưa có quyền cưỡng chế hoặc thi hành kết luận thanh tra.”

Vậy ai trong đảng có trách nhiệm thi hành kết luận của Thanh tra ?

Trên nguyên tắc thuộc về Bộ Công an đi điều tra theo lệnh của Bộ Chính trị và của Thủ tướng Chính phủ, nhưng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại bảo :” Chống tham nhũng “phải làm sao diệt được chuột, nhưng đừng để vỡ chiếc bình.” (nói với cử tri Hà Nội ngày 06/10/2014)

Nhưng cái “bình” đây là ai nếu không phải là “đảng” do ông đứng đầu ?

Vì vậy, ông Trọng mới sợ “bứt dây thì động đến rừng” nên cứ từ từ mà làm, đừng đi đâu mà vội mà vàng, lỡ ra “qùang vào dây” ngã lăn đùng ra cả lũ thì khốn !

Ông nói tiếp với cử tri tại quận Ba Đình và Tây Hồ (Hà Nội) :” Tham nhũng gây hại cho chính trị, kinh tế… nên Đảng, Nhà nước và người dân rất không đồng tình. Không ai “bật đèn xanh” cho tham nhũng, lãng phí”. Tuy vậy, phòng, chống tham nhũng là công việc khó, rất phức tạp, lâu dài, không thể nóng vội, bởi lẽ việc phát hiện tham nhũng đã khó, việc xem xét, xử lý tham nhũng càng khó hơn. Tổng Bí thư phân tích: “Trong vấn đề này, chúng ta muốn làm nhanh, nhưng trên thực tế lại phải qua nhiều công đoạn cùng các mối quan hệ trong một vụ án phức tạp, nếu không làm cẩn thận dễ xảy ra oan sai, song tinh thần là đã phát hiện vụ việc thì phải xử lý rất nghiêm. Chúng ta kiên quyết nhưng phải bình tĩnh, tỉnh táo, làm lâu dài, bằng nhiều biện pháp.”

Bình tĩnh và tỉnh táo bao nhiêu để đưa đến kết qủa “tham nhũng vừa qua chưa được đẩy lùi, diễn biến tinh vi phức tạp…” như nhìn nhận của Tổng Thanh tra Hùynh Phong Tranh thì đủ biết sự rụt rè không dám “đánh rắn phải đánh vào đầu” thì còn khuya những quan chức to đầu tham nhũng mới bị lôi ra ánh sáng !

Hay là ông Trọng sợ bắt hết kẻ tham nhũng thì đảng sẽ tan vì đã  có tới “một bộ phận không nhó” cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng, đạo đức, tự diễn biến và tự chuyển hóa rồi cơ mà ?

Nhưng đối với chủ tịch nước Trương Tấn Sang thì ông lại chỉ biết trông vào dân báo cáo với Đại biểu Quốc hội để bắt kẻ tham nhũng, thay vì chính nhà nước phải đi lùng bắt trộm.

Ông Sang nói với cử tri Quân 1 ở Sài Gòn ngày 14/10/2014: “Tham nhũng chưa được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi thì không thể xem đạt yêu cầu về công tác phòng chống.””

Báo ViệtnamNet tường thuật : “Không chỉ đồng tình với ý kiến cử tri chống tham nhũng phải dựa vào dân, Chủ tịch nước còn động viên cử tri mạnh dạn trao đổi thông tin về tình hình tham nhũng: “Các cử tri giữ mối liên hệ với chúng tôi, qua những buổi tiếp xúc, cung cấp thông tin, từ đó mới có cơ sở xác minh, làm rõ các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Với tình hình hiện nay thì người dân không yên tâm. Đơn cử mỗi lần gặp cử tri, chúng tôi đều nghe về chủ đề này, có nhiều ý kiến gay gắt. Thực tế kết quả chưa tốt thì cử tri gay gắt là phải thôi”.

Nhưng tại sao nhà nước lại cứ để cho dân “gay gắt” về “quốc nạn tham nhũng” mỗi lần ông gặp cử tri thì ông Sang không nói.

Còn nhớ ngày 07/05/2011 ông Sang cũng đã từng khẳng định với cử tri  Sài Gòn “sẽ không loại trừ bất cứ sự thay đổi nào, rà soát tất cả các khâu, thể chế nào, tổ chức nào, con người nào chưa đáp ứng được mục tiêu đẩy lùi tham nhũng, lãng phí đều phải thay đổi.”

Hồi đó ông nói mạnh: “Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này“. (Trích từ VNNET, 07/05/2011)

Nhưng ông Sang có biết đảng và nhà nước của ông bây giờ có bao nhiều “bầy sâu không” ? Chắc là ông không biết, nhưng khi người dân Sài Gòn còn “gay gắt” chuyện tham nhũng thối nát trong cơ chế thì phải biết chỗ nào cũng có tham nhũng.

Bởi vì hồi tháng 9/2013, cũng trong dịp tiếp xúc với cử tri Hà Nội, ông  Nguyễn Phú Trọng cho biết ông cũng rất khó chịu khi thấy tham nhũng vặt lộng hành, “cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi”.

Ông nói:”Sốt ruột, bức xúc lắm, không phải bây giờ mà mấy năm trước Đảng đã gọi đây là quốc nạn, giặc nội xâm, quyền lực lớn mà không kiểm soát dễ sinh hư hỏng, tham nhũng…Lãng phí cũng ghê gớm, có khi còn hơn tham nhũng, về thời gian, công sức, tiền bạc…”

Báo Việtnam Net tường thuật: “Theo Tổng bí thư, phải chống nhiều thứ như lợi ích nhóm, cục bộ, suy thoái và cả tham nhũng nhỏ. “Cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi, như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chịu.”

Ngay đến Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cũng ta thán các quan tham “ăn của dân không từ cái gì“, và  Chủ tịch Quốc hội  Nguyễn Sinh Hùng thì tự chất vấn : “tiền ăn, chơi, chạy chạy không phải từ tham nhũng thì từ đâu”?

Qủa nhiên ai nghe những “lời vàng ngọc” này cũng thấy khoái lỗ nhĩ, nhưng bình tĩnh một chút thì thấy cũng bứt rứt cay đắng lắm đấy vì các quan chỉ nói mà không hành thì giết được thằng tây tham nhũng nào ?

Các “quan lớn” nói sao mà chẳng được nhưng quan đánh trống xong rồi bỏ dùi biến mất thì người dân phải è cổ ra chịu trận thôi chứ biết đổ cho ai bây giờ ?

Chuyện dài vô tận tham nhũng, lãng phí trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên đã phản ảnh rất đầy đủ và nghiêm túc về thất bại của kế họach đảng bắt cả nước phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” mà ông Hồ đã dạy đảng viên từ khi còn ở chiến khu Việt Bắc kháng chiến chống Pháp.

VIẾT BỪA NÓI QUẬY

Cuối cùng là thành tích “nói văng mạng”  “viết bừa” vô tiền khóang hậu của các Dư Luận Viên của đảng khi họ phát ngôn chống các nhóm nhân dân đấu tranh cho dân chủ, tự do, nhân quyền và quyền làm chủ đất nước.

Những “ngòi bút nhọn như dao găm” này đã được huấn luyện để dùng mọi ngôn ngữ để chống đến tận xương tủy điều được gọi là “những phấn tử phản động ở nước ngòai” , “những thành phần cơ hội” trong đảng, ở trong nước và “những thế lực thù địch” hay “diễn biến hòa bình” với  một kết luận duy nhất và cuối cùng là kết án những tiếng nói đòi tự do và dân chủ cũng chỉ nằm trong âm mưu chống đảng, nhằm lật đổ đảng cầm quyền CSVN. Các dư luận viên chỉ biết nói bừa cho xong nhiệm vụ, dẫu phải vu cáo mà không cần có bằng chứng !

Chẳng hạn như mới đây, người có tên là Bắc Hà đã viết trên báo Quân đội Nhân dân ngày 06/10/2014 bài có nhan đề “Cương lĩnh 2011 của Đảng Cộng sản Việt Nam với xu thế thời đại”

Nội dung chính là chống lại những ý kiến trong và ngoài nước phê bình bản Cương lĩnh của đảng không còn thích hợp với nhu cầu phải thay đổi của đất nước là cần có tự do và dân chủ để tạo sức mạnh tòan dân xây dựng đất nước, đưa dân tộc đến phú cường thịnh vượng.

Bản “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ nhằm lập lại tham vọng “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội” và duy trì Chủ nghĩa ngọai lai đã phá sản Mác-Lenin lên dân tộc. Không người dân Việt Nam nào đã bỏ phiếu cho đảng làm như thế và đảng cũng chưa bao giờ dám hỏi dân có đồng ý hay không thì có phải là “tự biên tự diễn” hay “nhân dân đã bị bắt buộc phải muốn” như thế ?

Nhưng Tác gỉa Bắc Hà không biết rằng khi hăng say lý luận bảo vệ Cương Lĩnh của đảng vốn đã “ngồi lên Hiến pháp”, bộ luật cao nhất của Quốc gia, thì lại viết bừa rằng : “Về kinh tế, việc kêu gọi xóa bỏ Cương lĩnh cũng có nghĩa là xóa bỏ: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối…”. Theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, nền kinh tế của Việt Nam hiện nay là “nền kinh tế thị trường”, nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO.”

Nhưng “quan niệm chung của cộng đồng quốc tế” đã nhìn nhận kinh tế của  Việt Nam là “nền kinh tế thị trường” là “cộng đồng quốc tế” nào ?

Nếu đã được nhìn nhận như thế thì tại sao từ Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải không ngừng kêu gọi Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên hiệp Châu Âu (European Union) hãy nhìn nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường để được hưởng nhiều ân huệ thuế khoá và mậu dịch với các nhà nước tư bản hàng đầu Thế giới ?

Tổ tiên người Việt đã dậy:”Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Đằng này đã “không biết” mà còn “điếc” nữa thì nghe sao được ?

Do đó mà không lạ khi không làm được thì cứ ỳ ra đấy hay cứ nói qùang rồi muốn ra sao thì ra.

Phạm Trần

Read more

Cựu TNCT Nguyễn Tuấn Nam: Xin ghi nơi đây lòng biết ơn sâu sắc

VRNs (17.10.2014) – Sài Gòn – Lúc 2g chiều ngày 26/9 tôi nhận được một cuộc điện thoại của một người xưng là các bộ trại giam Z30A Xuân Lộc thông báo về việc ông Nguyễn Tuấn Nam đã được đặc xá và đang về gần nhà tôi. 

Khi bước vào cổng UBND xã Xuân Thới Thượng, Hốc Môn, tôi thấy chiếc xe cứu thương mang nhãn hiệu “Trại giam Xuân Lộc – BCA”. Bước vào phòng, tôi thấy ông ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế nhựa, tôi quỳ xuống ôm chầm lấy ông trước sự chứng kiến của hơn chục công an, an ninh, quản giáo.

Vòng lưng của ông đã cong oằn vì gánh nặng của thời cuộc, tiếng nói ông không còn rõ vì đôi lần gồng mình hô vang “đả đảo cộng sản”, hơi ông đã yếu vì đã giảng không biết bao nhiêu lần về giá trị tự do dân chủ, chiếc gậy tôi mua gửi cho ông đã không còn đi chung với đôi chân quá yếu, mắt đã mờ, tay run…vì 18 năm tù, vì nợ nước thù nhà, vì không phải cái gì đó cho riêng ông. Ông dấn thân cho dân tộc này.

Ông Nguyễn Tuấn Nam nhận bí tích Xức dầu bệnh nhân tại DCCT

Ông Nguyễn Tuấn Nam nhận bí tích Thánh Thể tại DCCT

Kể từ ngày ông về, ông đã nhận được nhiều quan tâm của đồng bào gần xa. Có người dân thường từ Hà Nội, Đà Nẵng điện thoại chia sẻ, có Việt kiều ở Mỹ, Úc bày tỏ sự cảm thương, anh chị em đấu tranh nói lên lòng ngưỡng mộ. Tất cả tôi đều chuyển cho ông nghe, đọc. Ông khóc khi đọc bài viết của Bang Trần, ông thổn thức với bài của anh Trịnh Quốc Thảo. Trong suốt buổi lễ Giêrađô ngày 15/10 tại DCCT ông lại thúc thít, gặp rất đông anh chị em tại Văn phòng CLHB ông lại không kềm được lòng mình. Kể lại cảm xúc, ông nói “Tôi khóc vì đã 18 năm rồi, tôi sống trong cô đơn, thiếu vắng tình thương của cộng đồng”. 

Sự hổ trợ của cộng đồng trong thời gian qua đã giúp ông cải thiện sức khỏe. Tổng cộng ông đã nhận được 58 lượt tặng quà với số tiền gồm 58.140.000 đồng, 3.100 USD và 300 đô Canada. Đính kèm theo thư này là danh sách quý ân nhân.

Trước khi chấm dứt thư cảm tạ này, ông nhờ tôi chuyển lời tâm huyết gửi đến các Cha DCCT Sài Gòn “Các Cha đã tận tình thương sót và giúp đỡ, đưa con trở về với cộng đồng Công giáo. Trong suốt buổi lễ, con xúc động vô cùng vì bao nhiêu năm trời tha phương và tù đày, con sống thiếu tình thương của cộng đồng và sự huấn dạy của các Cha. Nay con được sống tràn đầy hạnh phúc. Con xin chân thành biết ơn”.

Khi có mặt khách đến thăm, ông có nhắc lại một câu mà ông viết cho tôi trong một lá thư hồi đầu năm ngoái rằng “Xin đừng bỏ tôi!”. Đó là thời điểm ông bị tai biến liệt bán thân, nằm trạm xá trại tù phải luôn cần người chăm sóc dìu đỡ. Trong danh sách hổ trợ nhân đạo của tôi, ông luôn đứng ở vị trí số một.

Ông đã không còn cô đơn! Tôi là cái phao trong thời bão tố đời ông. Ông đã đến được với mọi người, với cộng đồng. Vấn đề lương tâm không chỉ của riêng ai. Có rất nhiều, nhiều người cảm nhận được cái lương tâm ấy.

Phạm Bá Hải

Danh sách ân nhân: 

Hội Phụ nữ nhân quyền 2,000,000
Hội Bầu bí 2,000,000
Lê Nguyên Sang 500,000
Thích Thiện Minh 1,000,000
Lư Văn Bảy 500,000
Mẹ Đốp (Lan Phuong) 1,000,000
Trần Tú (Canada) (Tú Nguyễn) 200 CAN 
Phạm Chí Dũng 1,000,000
Nguyễn Thị Hằng (Hanoi) 1,000,000
Tuyen Nguyen (My) 200 USD
Ta Van Chi 300,000
Huong (Thailand) 2,000,000
Lam Phi 500 USD
Viet 3,000,000
Van Ba 500,000
Luan 100 USD
KKH 1,000,000
Ân Xá QT Úc 10,170,000
Peter Do 100 USD
Duc Cong Nguyen 100 USD
Tuynh Van Nguyen 100 USD
Dấn thân 500,000
Hoàng Văn Thành 200,000
CLB Lê Hiếu Đằng 10,000,000
Nhóm Gioan Tiền Hô (Hoa Kỳ) 300 USD
Mai Nguyen (Mỹ) 100 USD
Hội ÁI huữ tu nhân CT&TG 2,000,000
Bang Tran 1,000,000
Cha Thoai 1,000,000
Tuan Kiet Tran 100 USD
Nguyen Ngoc Trinh 100 USD 
Luu trọng Kiệt 200,000
Dương Văn Ngỡi 100 USD 
Phan Hữu Lợi 100 USD
Ngoc Vu 500,000
Lao Nong Dan 2,130,000
Diep Chi 940,000
Quang Tam Thich 200 USD 
Nam Nguyen 100 USD
Trần Phong 200 USD
Nguyễn Tiến Trung 500,000
FB Therese Strehlnerin 1,300,000
Lư Thị Thu Trang 2,100,000
Con Đường VN 4,000,000
Vinh Lê 200,000
Ngo Minh Tâm 200,000
Lưu Gia Lạc 600,000
Nguyen Van Loi 500,000
Do Nguyen 100 USD
MS Nguyen Hoang Hoa 1,000,000
Một thân hữu ở Mỹ 200 USD
Thang Luu 200 USD
Nhóm Những người bạn LQQ 100 CAN 
Anh Hoàng 1,000,000
Anh Tuyến 1,000,000
Cha Thoai 1,000,000 (lần 2)
Anh Ngo 200 USD
Vũ Quốc Ngữ 300,000

Read more

Sửa chữa sai lầm của Hoa Kỳ: Bán vũ khí cho Việt Nam là bán đứng các nhà hoạt động

VRNs (17.10.2014) – Bangkok, Thailand – Tháng này chính quyền Hoa Kỳ đã mắc sai lầm khi nới lỏng lệnh cấm vận buôn bán và chuyển giao vũ khí sát thương cho Việt Nam – một quốc gia phi dân chủ, độc đảng với bảng thành tích nhân quyền tệ hại. Bước đi này của Hoa Kỳ, được công bố vào ngày mồng 2 tháng Mười trong chuyến thăm Washington của Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Bình Minh, đã gây tổn hại cho các nhà hoạt động can đảm ở Việt Nam và phí phạm một đòn bẩy quan trọng đáng lẽ có thể sử dụng để thúc đẩy thêm nhiều cải cách hơn nữa.

141017002

Giới chức Hoa Kỳ tuyên bố rằng Việt Nam đang đạt được những tiến bộ tuy nhỏ nhưng rất đáng kể về nhân quyền, nhấn mạnh vào các vụ thả tù nhân chính trị trong thời gian gần đây. Nhưng các tiến bộ được nêu làm dẫn chứng đều nhỏ lẻ, và một trong những tù nhân nổi tiếng nhất được phóng thích trong năm nay, tiến sỹ, luật gia Cù Huy Hà Vũ không hề được thả mà thật ra là bị ép đi lưu vong ở Hoa Kỳ.

Trên thực tế, con số các tù nhân chính trị bị giam giữ đã gia tăng trong những năm gần đây, tính đến thời điểm này đã có tới hơn 150 nhà bất đồng chính kiến đang bị giam, giữ. Với những vụ phóng thích mới đây nhất, người ta chỉ có thể nói một cách tích cực nhất là chính phủ Việt Nam đang vận hành một cánh cửa quay, những tù nhân cũ đi ra bên này thì những tù nhân mới lại vào bên kia. Và cho dù tổng số tù nhân trong các trại giam có thể tăng hay giảm, nhưng một xu hướng đáng báo động đang gia tăng: việc sử dụng côn đồ để tấn công và đe dọa những người phê phán chính quyền.

Khi đánh giá kết quả cải cách ở Việt Nam, chính quyền Obama cần phân tích nhiều yếu tố khác ngoài con số những người đang bị giam giữ và được thả, đồng thời cân nhắc những câu hỏi đặt trong bối cảnh cụ thể. Nếu Việt Nam thực sự nghiêm túc kiềm chế không đàn áp những người phê phán chính quyền một cách ôn hoà thì tại sao trong tháng Tám, tòa án Việt Nam lại xử ba nhà hoạt động (Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Nguyễn Văn Minh) tội cản trở giao thông trong một lần biểu tình và kết án họ tới ba năm tù giam? Vì sao chính quyền Việt Nam lại bắt giữ blogger nổi tiếng Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm) vào tháng Năm? Vì sao Việt Nam xử blogger Phạm Viết Đào trong tháng Ba? Và vì sao chính quyền đã kết án gần mười người Thượng vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm nay với tội danh bị cho là chống nhà nước?

Câu hỏi lớn hơn đối với Việt Nam là liệu chính quyền có thực sự thể hiện rằng họ đang nghiêm túc thực hiện các thay đổi mang tính hệ thống để nới rộng các quyền tự do cho người dân hay không? Hà Nội đã có những bước đi quan trọng hay thể hiện thiện chí thực sự muốn cải cách luật pháp để loại bỏ điều luật trong bộ luật hình sự có nội dung hình sự hóa hành vi thể hiện quan điểm chính trị hay không? Các nhà lãnh đạo Hà Nội đã có những bước đi quan trọng hay thể hiện thiện chí thực sự muốn cải cách luật pháp để cho phép hình thành các công đoàn độc lập hay không? Hà Nội đã có những bước đi quan trọng hay thể hiện thiện chí thực sự để hủy bỏ yêu cầu đăng ký và hủy bỏ việc hình sự hóa các hoạt động tín ngưỡng độc lập hay chấm dứt đàn áp các nhóm tôn giáo thiểu số không? Câu trả lời cho tất cả và từng câu hỏi trên đây là không.

Thật đáng tiếc là quyết định nới lỏng cấm vận vũ khí sát thương đã được ban hành. Tuy nhiên, chưa phải là quá muộn để sử dụng các đòn bẩy còn lại để đạt được những thay đổi. Vì vẫn chưa thấy có cải cách thật sự nào được thực hiện, và còn nhiều bước quan trọng phải đi tiếp, Hoa Kỳ cần nói rõ với Hà Nội rằng còn nhiều việc phải làm được trước khi lệnh cấm vận được nới lỏng hơn nữa.

Đây là lúc Hoa Kỳ cần nói với Việt Nam rằng, ngoài các hỗ trợ về hàng hải, việc bán và chuyển giao vũ khí trong tương lai chỉ được thực hiện nếu Việt Nam thả một số đáng kể tù nhân chính trị; có các bước đi tích cực về những vấn đề như tự do tôn giáo, tra tấn và quyền của người lao động; và có các động thái chính thức để loại bỏ các tội danh về chính trị ra khỏi bộ luật hình sự, như điều 87, hình sự hóa các hành vi “phá hoại chính sách đoàn kết,” và điều 258 “lợi dụng quyền tự do dân chủ” để “xâm phạm lợi ích nhà nước.”

Chính quyền Hoa Kỳ có thể và cần làm rõ những điểm này trong các cuộc đối thoại vào cuối năm nay với Hà Nội, khi Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel dự kiến sẽ tới thăm. Những thông điệp nói trên có thể còn có trọng lượng hơn nữa nếu được kết hợp với các thông điệp của Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (đang đàm phán với Việt Nam trong khuôn khổ TPP) rằng Việt Nam đừng mong sẽ được tham gia hiệp định thương mại này nếu không cải cách pháp luật để các công đoàn độc lập được phép hoạt động.

Vẫn còn chưa muộn nếu muốn nắm giữ lại các đòn bẩy, dù quyết định nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí sát thương đã được ban hành một cách vội vã vào ngày mồng 2 tháng Mười. Vì các nhà bất đồng chính kiến can đảm ở Việt Nam, Hoa Kỳ cần cứng rắn hơn nữa trong thương lượng.

John Sifton

Giám đốc Vận động Châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền

HRW gởi trực tiếp cho VRNs

Read more

Những biên giới ‘môi hở răng lạnh’

VRNs (17.10.2014) – Sài Gòn – VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI MIỀN BẮC

1858 Pháp nổ phát súng đầu tiên đánh vô Đà Nẵng.

1862 Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông và 1867 chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ.

1895 Pháp vẽ bản đồ Đông Dương sau khi ký hiệp ước với triều đình Mãn Thanh ấn định biên giới dài 1300 km giữa Việt Nam và Trung Cộng.

1928 Để chống Pháp, Hồ Chí Minh thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương, hoạt động ở cả Việt – Miên – Lào, với sự trợ giúp của đảng Cộng Sản Tầu.

Năm 1941, Hồ Chí Minh về Việt Nam lập chiến khu dọc theo biên giới tiếp giáp với Tầu. Để bảo đảm an toàn, đoạn chót đường tầu hỏa và đường bộ của Tầu ăn sâu vào lãnh thổ Việt Nam có nơi 500 mét, nhiều nơi đến cả cây số và nơi này dùng làm an toàn khu đặt cơ quan đầu não, huấn luyện cán bộ, dưỡng quân, tiếp nhận và cất dấu vũ khí. Nếu Pháp hành quân hay dùng máy bay oanh tạc vùng này, Tầu sẽ la lên là vi phạm lãnh thổ của họ.

14101700

28-2-1972 Tầu Cộng ký thông cáo chung Thượng Hải với Mỹ để lộ chiều hướng chuyển từ đối đầu sang hợp tác, bảo đảm cho Mỹ có thể an toàn rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam.

27-1-1973 Ra đời Hiệp định Paris ‘Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam’.

Cuộc chiến Việt Nam kết thúc ngày 30-4-1975.

Từ năm 1975 đến cuối năm 1978, biên giới Việt Nam – Campuchia triền miên rối loạn. Đầu năm 1979 Việt Nam tiến quân sang Campuchia. Tầu liền tiến quân sang ‘dậy cho Việt Nam một bài học’, chiếm  vùng dọc theo biên giới (mà trước đây trong thời kỳ chống Pháp Hà Nội ‘ngầm giao’ cho họ nhờ bảo đảm an toàn) nói là phần đất của họ.

Việt Nam mất khoảng 1000km2 dọc biên giới với Tầu, trong đó có Ải Nam Quan, có cao điểm ở Bắc Giang, thác Bản Giốc…

Đầu năm 1991 quan hệ Tầu – Việt mới chính thức được nối lại sau Hội nghị Thành Đô. Nhiều tin loan truyền: nhân sự cấp cao trong Bộ chính trị đảng công sản VN (BCT) bị Bắc Kinh chi phối, và kinh tế, chính trị, quân sự phụ thuộc Bắc Kinh càng ngày cành nhiều.

Nhiều âm mưu đen tối giữa hai đảng cộng sản Tầu – Việt, dân ta hoàn toàn không được biết, nói chi đến đồng ý hay không.

Do đó, thái độ của dân tộc ta đối với biên giới trên bộ là:

Mọi công dân Việt Nam, trong cũng như ngoài nước đều có bổn phận bảo vệ lãnh thổ, tài nguyên của Việt Nam do tiền nhân để lại. Không một ai, một đoàn thể hay đảng phái nào trong bất cứ hoàn cảnh nào có thể nhân danh dân tộc Việt Nam ký kết những văn kiện bán nước cho ngoại bang. Do đó, dân tộc ta không bị ràng buộc bởi hiệp định phân định đường biên giới trên bộ ký kết 2001, Hà Nội dâng đất để được Tầu Cộng ủng hộ, hầu tiếp tục thống trị nhân dân ta. Nhân dân ta không coi những thỏa thuận ngầm giữa Hà Nội và Bắc Kinh là có giá trị.

Toàn bộ vấn đề biên giới trên bộ phải trở lại bản đồ do Pháp vẽ năm 1895 trên cả ba biên giới Việt Nam giáp Tầu, Lào và Campuchia. Sở dĩ phải dùng bản đồ này vì đây là bản đồ đầu tiên được vẽ một cách khoa học bởi các chuyên viên về địa dư của Pháp. Chỉ có dùng bản đồ biên giới do Pháp vẽ chúng ta mới hy vọng tránh khỏi những tranh chấp triền miên và tạo đuợc một nền hòa bình lâu dài cho bán đảo Đông Dương. Nhân dân ta cũng tố cáo trước dư luận trong nước và quốc tế sự hèn hạ của tập đoàn Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam để mất đất cho Tầu Cộng, nhưng lại đi hiếp đáp chiếm đất của Lào và Campuchia.

Phải kiên định lập trường này. Có thế, mới có thể đặt lại vấn đề với Tầu khi điều kiện lịch sử cho phép.

 

VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRÊN BIỂN ĐÔNG

Sau Hiệp định Geneva chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17 năm 1954.

Năm 1956 Tầu Cộng chiếm một số đảo ở phía Đông quần đảo Hoàng Sa.

14-9-1958 Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Chu Ân Lai công nhận Hoàng Sa thuộc Tầu Cộng.

Tháng Giêng năm 1974, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ quần đảo Hoàng Sa giao chiến với Hải Quân Tầu Cộng. Quần đảo này nằm ở 14o 30’ – 17o00’ độ vĩ Bắc và 111o 30’- 114o00’ độ kinh Đông, khoảng ngang ngoài khơi tỉnh Đà Nẵng. Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà đi vòng đánh từ Bắc xuống, Hải Quân Trung Cộng đánh bọc hậu từ phía Nam lên. Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thua, Tầu Cộng chiếm giữ đảo và cầm giữ một số tù binh nhưng đối xử tử tế và sau đó thả về. Sự việc xẩy ra chỉ hai ngày sau khi Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger gặp những nhà lãnh đạo Bắc Kinh. Mỹ không lên tiếng và Hải Quân Mỹ đang tuần tra trong vùng khi xảy ra xâm lăng đã phớt lờ không can thiệp, bênh vực Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng điều kinh ngạc và nổi bật nhất là chính quyền Hà Nội đã không có một lời phản kháng.

Cũng năm 1974, Tầu Cộng, Việt Nam Cộng Hòa, Đài Loan, Malaysia, Philippines, Brunei cùng lên tiếng đòi chủ quyền quần đảo Trường Sa khoảng ngang ngoài khơi Vũng Tàu.

30-4-1975 Quân đội Hà Nội chiếm Miền Nam Việt Nam, vi phạm Hiệp định Paris ‘Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam’.

Năm 1988 ngày 14 tháng 3 Tầu Cộng cho hải quân chiếm bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa. Năm 1995 lại chiếm thêm bãi đá Vành Khăn cũng thuộc Trường Sa. 

Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25-12-2000 nhằm xác định biên giới lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong Vịnh Bắc Bộ. Theo giới nghiên cứu, Việt Nam bị thiệt thòi so với công ước Pháp – Thanh ký năm 1887; trong khi đó Hà Nội nói phân chia này công bằng.

­Biển nói chung trong kỷ nguyên Kỹ-thuật-cao

Lục địa chiếm có 29% diện tích của trái đất và nguồn tài nguyên sắp cạn vì bị khai thác qua bao thế kỷ qua. Trong khi đó, biển cả chiếm đến 71%, cũng là vỏ quả đất nên tài nguyên phong phú và đa dạng như trong đất liền, còn nguyên vẹn chưa từng bị khai thác vì không có kỹ thuật.

Kỷ nguyên Kỹ-thuật-cao cho phép khai thác tài nguyên dưới đáy biển. Các nước có bờ biển vội tuyên bố thềm lục địa của mình 200 hải lý để xí phần. Có vùng chồng lên nhau, gây tranh chấp.

Các siêu cường Kỹ-thuật-cao tính toán sao cho trong tương lai, khi có Luật khai thác Tài nguyên dưới đáy biển, họ thủ lợi nhiều hơn. Đã có đề nghị là chia theo chiều sâu: Đáy biển (trong hải phận quốc tế) sâu xuống  xm thuộc về tất cả các nước, dù có bờ biển hay không. Xuống sâu hơn xm, ai có kỹ thuật thác thì tài nguyên kiếm được sẽ thuộc về người đó. Ai cũng biết, chỉ có các siêu cường giầu mới có điều kiện và Kỹ-thuật-cao khai thác ở độ sâu đó.

Các siêu cường Thái Bình Dương như Mỹ, Tầu, Nhật, Nga hiện đang tái bố trí chiến lược (hay còn gọi là xoay trục chiến lược). Quá trình hình thành, dần dần hiện ra ‘vùng ảnh hưởng’ cùng ‘phương cách làm chủ’của các siêu cường này trên Thái Bình Dương, trong đó tự do lưu thông trên biển và trên không chiếm lĩnh hàng đầu.

Lập trường của dân tộc ta về HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Rồi đây, những nguyên tắc chính của Luật khai thác tài nguyên dưới đáy biển sẽ được biết dần qua các hội nghị quốc tế về biển trong những thập niên tới.

Xin nhắc lại, một bộ luật khác đã ra đời: Đó là Luật biển của LHQ năm 1982 (qui định lãnh hải, thềm lục địa…). Nhiều quốc gia đã thông qua, trừ Mỹ. Phải chờ sự tham gia của Mỹ vì Mỹ là cường quốc biển số 1.

Lúc đó chủ trương quốc tế hóa các đảo tranh chấp để khai thác kinh tế với quy chế hư chủsẽ được ủng hộ mạnh mẽ, sau nhiều thập niên không có giải pháp. Qui chế hư chủ là các nước tranh chấp là chủ, nhưng không được có các hoạt động quân sự và không có quyền quốc hữu hóa; ngược lại họ có quyền tham gia vào cuộc thương thảo trong việc khai thác vùng biển xung quanh các đảo này và chia lợi nhuận.

Theo Bill Hayton vừa xuất bản cuốn The South China Sea: the Struggle fo Power in Asia thì “…thực ra đường chữ U là việc nhà chức trách Trung Quốc vào thập niên 1930 đã hiểu nhầm và diễn dịch sai bản đồ của Anh Quốc theo đó dẫn tới sự hiểu nhầm về sự liên hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Tức là có sự hiểu nhầm là Biển Nam Trung Hoa là một phần thuộc về Trung Quốc.”“ Vấn đề hiện nay là ở chỗ nhà chức trách Trung Quốc và người Trung Quốc tin rằng hoặc được dậy rằng Biển Nam Trung Hoa hay Biển Đông là thuộc về Trung Quốc về mặt lịch sử. Điều cần làm là nghiên cứu các dữ kiện lịch sử một cách trung lập để xem bên nào tuyên bố phần nào họ có chủ quyền. Tức là thay vì nói là chúng tôi sở hữu toàn bộ Tây Sa và Nam Sa hay Hoàng Sa và Trường Sa, các nước có thể nói rằng chúng tôi có thể chứng minh được rằng chúng tôi là bên đã có chủ quyền về một hòn đảo này hay đảo kia ở khu vực này hay khu vực kia và từ đó có thể bàn thảo với nhau”.

(Nguồn:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/10/141014_bill_hayton_noi_ve_sach_bien_dong).

Đối với những người tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ Việt Nam, phải thúc đẩy Dân Chủ Hóa nhanh nhất để có hậu thuẫn toàn dân phát triển nội lực; cũng như mới có căn bản pháp lý vững mạnh (do dân bầu) thì tiếng nói của Việt Nam trọng lượng hơn nhiều trên trường quốc tế khi thương thuyết các hải đảo tranh chấp.

Bs Nguyễn Đan Quế

Read more