Công an công khai ăn cướp  

VRNs (03.03.2015) – Hà Nam – Lúc 16giờ ngày 02/03/2015 công an phường Hai Bà Trưng Tp. Phủ Lý, Hà Nam dẫn theo gần 20 côn đồ “chúng là an ninh Tp. Phủ lý và an ninh tỉnh Hà Nam” xông vào nhà tôi tại tổ 8 phường Hai Bà Trưng để đàn áp, mục đích cướp tờ Biểu ngữ trước cửa nhà tôi với nội dung tố cáo hành vi ăn cướp của CSGT cùng an ninh Tp Phủ lý giả dạng côn đồ cướp xe máy và tài sản của tôi ngày 20/12/2013.

 150303003

Xin tóm tắt vụ csgt cướp tài sản:

Khoảng 8 giờ ngày 20/12/2013, tôi chở con nhỏ đến Văn phòng tiếp dân tỉnh Hà Nam nộp đơn tố cáo hành vi của ông Vũ Hồng Phương, Phó trưởng phòng an ninh Tp. Phủ Lý, cùng ông Lê Thanh Nghị mặc thường phục giả dạng côn đồ chỉ đạo đồng bọn cướp máy ảnh và đánh vào bụng -khi tôi đang mang thai-, tại cửa nhà tôi, vào ngày 24/03/2012. Trên đường đi tôi bị nhóm an ninh côn đồ Tp Phủ Lý chỉ đạo cho CSGT Nguyễn Đức Hạnh mã số 347-221 và đồng bọn chặn cướp xe máy và tài sản trên xe của tôi.

 150303004

Tôi đã nhiều lần làm đơn khiếu lại, tố cáo, trình báo, khởi kiện lên công an, viện kiểm sát và tòa án Tp Phủ lý và tỉnh Hà Nam nhưng họ không giải quyết, viện kiểm sát đẩy cho công an, công an ép tôi nhận tội mà tôi không phạm và họ không chịu nhận bằng chứng video tôi bị cướp xe. Tôi đưa đơn khởi kiện lên tòa án họ trả lại đơn với lý do “chị không được phép kiện công an vì công an là cơ quan hành chính của nhà nước”. Tôi yêu cầu họ đưa ra điều luật nào cho phép công an dùng con dấu đỏ và hội chứng bầy đàn ăn cướp tài sản của tôi mà tôi không được quyền kiện, thì họ ra văn bản trả lời là họ không đủ thẩm quyền để trả lời. Vì bị công an cướp tài sản tôi có quyền dùng tất cả mọi hình thức để đòi lại tài sản của mình.

Lúc 15h45 bạn Nguyễn Văn Kỳ từ Nghệ An ra Hà Nội đã ghé vào thăm tôi, hai chị em đang ngồi uống nước và ăn ổi thì công an, côn đồ  kéo đến, kẻ trấn áp, kẻ quay phim đàn áp tinh thần chúng tôi. Công an gây sự kiếm cớ đòi kiểm tra tạm trú đối với Kỳ và đòi bắt Kỳ về đồn công an về tội không đăng ký tạm trú. Chúng tôi phản đối hành vi vô cớ vi phạm pháp luật đó của công an bởi vì không có một quy định của pháp luật nào yêu cầu bạn bè đến thăm nhau ban ngày có 15 phút mà phải đăng ký tạm trú.

Những tên côn đồ là công an Tp Phủ lý và công an tỉnh Hà Nam cà khịa ghé tai tôi dọa giết. Tôi đã nói với những người công an mặc sắc phục, hãy mở to mắt ra mà nhìn đồng đội của họ đang đe dọa giết tôi thì họ lảng chuyện.

Người dân kéo đến xem càng lúc càng đông, đa số người dân ủng hộ lý lẽ của chúng tôi thì lực lượng công an, côn đồ có vẻ xấu hổ, nên dần dần họ bớt đi sự hung hãn, họ tự lập biên bản, tự ký rồi kéo nhau lại cướp tờ biểu ngữ ở trên tường nhà tồi. Rồi từ từ họ bỏ đi.

Vào lúc 17giờ, tôi đã đuổi được họ ra khỏi cửa nhà. Tôi đã đóng được cửa lại, thì công an mặc sắc phục bỏ về, còn lại hơn chục tên công an tỉnh Hà Nam giả dạng côn đồ vẫn bao vây quay nhà tôi.

Vì sự an toàn của bạn Kỳ bởi những tên côn đồ công an đang vây quanh nhà tôi, nên chúng tôi đã quyết định đêm nay bạn Kỳ sẽ lánh nạn tại nhà tôi.

Lúc 18 giờ 40 tôi đã gọi điện cho công an phường Hai Bà Trưng số điện thoại 0351.3851761 báo lưu trú và thông báo với công an là nửa đêm đừng kéo côn đồ đến quấy nhiễu gia đình tôi.

Hiện tại là 21 giờ 36 phút, ngày 02/03/2015, gia đình tôi vẫn bình an và côn đồ vẫn bao vây bên ngoài.

Cảm ơn mọi người quan tâm.

Trần Thị Nga

Read more

Huyện Kỳ Anh đuổi 155 học sinh cắp sách đến trường

VRNs (03.03.2015) – Hà Tĩnh – Nhà cầm quyền huyện Kỳ Anh đuổi 155 em thiếu nhi Công Giáo không được đến trường học trong niên khóa 2014 – 2015. Các em có độ tuổi từ 4 – 15 thuộc cấp Mần non, Tiểu học và Trung học cơ sở.

Hiện nay, các em đã nghỉ học và ở nhà. Các em thiếu nhi này thuộc Giáo xứ Đông Yên, thôn Đông Yên, xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Thầy Hiệu Trưởng trường THCS Kỳ Lợi – huyện Kỳ Anh cho các bậc phụ huynh biết lý do con em của họ không được đến trường, bởi vì “danh sách của các em đã chuyển đến chỗ tái định cư mới của người dân Đông Yên – xã Kỳ Lợi cách chỗ ở hiện tại khoảng 30 km”.

Các bậc phụ huynh cũng cho hay, Thầy Hiệu trưởng nói, đây là lệnh của cấp trên nên bắt buộc nhà trường phải thi hành.

Được biết, hiện nay có 6 phòng học tại trường THCS Kỳ Lợi để trống do thiếu học sinh ghi danh đến trường, trong khi đó 155 học sinh bị nhà cầm quyền cấm cắp sách đến trường.

150303002

Nguyên nhân chính dẫn đến sự việc này bắt đầu từ năm 2012 khi nhà cầm quyền huyện Kỳ Anh cho triển khai dự án di dời dân tái định cư đối với 1000 hộ dân thuộc Giáo xứ Đông Yên. Nhưng, cho đến nay, có hơn 840 hộ di dời, còn lại 158 hộ vẫn chưa di dời bởi họ phản đối các lý do sau: Thứ nhất, mục đích di dời, giải tỏa chưa được sáng tỏ. Thứ hai, nhà cầm quyền huyện Kỳ Anh đã định mức tài sản vật chất của người dân không đúng giá bồi thường theo quy định của pháp luật. Thứ ba, khu tái định cư không đáp ứng được các điều kiện tối thiểu về đời sống như y tế, giáo dục, công ăn việc làm, thực hành các lễ nghi tôn giáo. Thứ tư, vùng đất thôn Đông Yên đã được ông cha xây dựng hơn 100 năm nay…

Xét về khía cạnh pháp lý, nhà cầm quyền tỉnh Hà Tĩnh đuổi 155 em học sinh không được đi học là vi phạm pháp luật, bởi vì “công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” quy định tại Điều 39 Hiến pháp. Cũng vậy, Luật Giáo dục qui định : “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân”. Điều 11 Luật Giáo dục cũng qui định: “Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập. Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước. Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập”. Như vậy, việc nhà cầm quyền ngăn cản -bằng thủ thuật ‘chuyển danh sách’- Ban giám hiệu nhà trường ‘tuân theo’ là trắng trợn vi phạm quyền và nghĩa vụ học tập của các em.

Đặc biệt trong lứa tuổi giáo dục phổ cập, gia đình có nghĩa vụ đấu tranh ‘cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập’ như Luật định.  Điều 20 Luật Giáo dục cũng đưa ra qui định: “Cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội. Cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi”. Rõ ràng nhà cầm quyền tỉnh Hà Tĩnh và Ban giám hiệu trường đã có hành vi “lợi dụng hoạt động giáo dục” để đạt mục tiêu buộc cha mẹ học sinh phải di dời.

Cần nhấn mạnh Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em qui định rõ không được phân biệt đối xử với trẻ em tại Điều 4: “Trẻ em, không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật”.

Điều này xác định, hành vi tự ý “chuyển trường” các em học sinh -do chính kiến của cha mẹ các em chống lại chính sách di dân, giải tỏa không phù hợp- của nhà cầm quyền Hà Tĩnh và nhà trường là “phân biệt đối xử” với các em. Điều 5 Luật này cũng qui định: “Trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em: 1. Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân. Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu. 2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân ở trong nước và nước ngoài góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”.

Về quyền của trẻ em, Luật này quy định tại Điều 6: “1. Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện. 2. Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật.”

Luật này cũng nghiêm cấm các hành vi ‘cản trở việc học tập của trẻ em’ tại Điều 7. Và khẳng định “trách nhiệm bảo đảm quyền được học tập’ tại khoản 1, Điều 28: “Gia đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn”.

Cùng lúc, báo Vietnamnet.vn có bài viết: ‘Nhà cầm quyền tỉnh Hà Tĩnh cho ‘doanh nghiệp nước ngoài thuê đất vượt cả quyền chính phủ’. Nguồn báo này dẫn chứng, “cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất vượt cả thẩm quyền của Chính phủ, đấu thầu thiếu minh bạch, bồi thường giải phóng mặt bằng có dấu hiệu vi phạm pháp luật”… “Đặc biệt, những sai phạm đó có nguy cơ gây thất thoát ngân sách Nhà nước với số tiền lên đến hơn 493 tỉ đồng”.

Phải chăng, cùng với Vũng Ánh, Hà Tĩnh đang muốn tách ra, thành lập khu tự trị mới, với những luật lệ mới và ngang nhiên bất tuân pháp luật hiện hành?

Pv.VRNs

Read more

Chuyển đổi sang dân chủ (8):Những nghịch lý của dân chủ đương thời – các chiều hình thức, tham gia, và xã hội  

VRNs (03.03.2015) – Hà Nội – Chúng tôi đã đưa ra khẳng định này khi chúng tôi giới thiệu kết quả của một khảo sát lịch sử so sánh có cơ sở rộng về gốc rễ của dân chủ trong sự phát triển tư bản chủ nghĩa: “Chúng ta quan tâm đến dân chủ hình thức bởi vì nó có khuynh hướng là nhiều hơn hình thức đơn thuần. Nó có khuynh hướng là thực ở một mức độ nào đó. Trao cho nhiều người một tiếng nói trong việc ra quyết định tập thể hình thức của một nước là cơ sở hứa hẹn nhất cho tiến bộ thêm nữa trong phân bổ quyền lực và các dạng khác của sự bình đẳng thật.”1

Chúng tôi đã cho rằng dân chủ hình thức có giá trị riêng của nó, nhưng chúng tôi đã nhấn mạnh rằng nó làm sâu sắc thêm cho dân chủ tham gia đầy đủ hơn và làm cho sự tiến bộ vì sự bình đẳng tăng lên là có thể. Và, thêm nữa, chúng tôi đã cho rằng cùng các điều kiện xã hội và lịch sử mà đã thúc đẩy dân chủ hình thức – đặc biệt, một sự thay đổi cán cân sức mạnh giai cấp trong xã hội dân sự bênh vực các giai cấp dưới – sẽ cũng thúc đẩy mục tiêu của sự bình đẳng xã hội và kinh tế lớn hơn. Thế mà trong tình thế lịch sử hiện thời sự tiến bộ theo hướng đưa ra và củng cố dân chủ hình thức ở Mỹ Latin và đông Âu có vẻ đã kết hợp với những chuyển động rời xa dân chủ tham gia đầy đủ hơn và sự bình đẳng. Chúng tôi muốn phân tích sự bất thường rõ ràng này trong tiểu luận này.

Chúng tôi bắt đầu bằng việc định nghĩa dân chủ hình thức, dân chủ tham gia, và dân chủ xã hội. Chúng tôi hiểu dân chủ hình thức là một hệ thống chính trị mà kết hợp bốn đặc tính: các cuộc bầu cử tự do và công bằng đều đặn, quyền bầu cử phổ quát, trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước đối với các đại diện được bầu, và các đảm bảo hữu hiệu cho quyền tự do ngôn luận và lập hội cũng như sự bảo vệ chống lại hành động tùy tiện của nhà nước. Quả thực, từ dân chủ thường được hiểu theo cách này khi nó được dùng với sự thận trọng khái niệm nào đó. Tuy vậy, nó thường được dùng một cách lỏng lẻo hơn. Đàm luận chính trị hiện thời ban nhãn này thường xuyên cho bất cứ nước nào mà đã tổ chức một cuộc bầu cử đại thể không bị gian lận. Cho dù các cuộc bầu cử được tổ chức với sự đều đặn nào đó, đáng hỏi liệu đối lập đã có thể được phát biểu và tổ chức mà không có sự sợ hãi không và bộ máy nhà nước thực sự có trách nhiệm giải trình đến mức độ nào với các quan chức được bầu. Nếu trong quá khứ những hạn chế về quyền đi bầu đã là các công cụ thông dụng nhất để hạn chế dân chủ, ngày nay việc hạn chế trách nhiệm giải trình của nhà nước và sự cắt xén các quyền dân sự là các công cụ ít dễ thấy hơn của sự lựa chọn.2

Cho dù toàn bộ bốn đòi hỏi được thỏa mãn, một nước vẫn còn xa mới bình đẳng trong quá trình ra các quyết định tập thể. Dân chủ hình thức không đòi hỏi một sự phân bố ngang nhau về quyền lực chính trị. Và – có lẽ có quan hệ mật thiết với những sự chênh lệch trong phân bố quyền lực chính trị thực tế – các nước dân chủ hình thức sẽ khác nhau đáng kể về các chính sách xã hội mà làm giảm sự bất bình đẳng xã hội và kinh tế. Vì thế chúng tôi đưa vào thêm hai chiều nữa: mức độ tham gia cao mà không có những sự khác biệt có tính hệ thống ngang các phạm trù xã hội (chẳng hạn, giai cấp, sắc tộc, giới) và sự bình đẳng tăng lên trong các kết cục xã hội và kinh tế. Chúng tôi gọi một hệ thống chính trị mà thỏa mãn bốn đòi hỏi đầu tiên cộng thêm chiều thứ năm là nền dân chủ tham gia.3 Dân chủ xã hội biểu thị một hệ thống chính trị mà thỏa mãn các đòi hỏi trong cả sáu chiều.4 Như thế dân chủ xã hội là giống với khái niệm của T. H. Marshall về “tư cách công dân xã hội.” Các chính sách mà thúc đẩy nó một cách hiệu quả sẽ được gọi là các chính sách “dân chủ xã hội.”5

150303001

Các nền dân chủ hình thức còn xa mới đạt các lý tưởng gắn với quan niệm này về dân chủ xã hội. Nhưng gạt bỏ chúng vì chỉ là hình thức sẽ là có vấn đề và thậm chí vô trách nhiệm về mặt chính trị và trí tuệ. Chắc chắn, sự bảo vệ các quyền con người và như thế sự loại trừ sự sợ hãi quân đội và sự tàn bạo cảnh sát là vô cùng quan trọng cho tất cả các công dân trong cuộc sống hàng ngày của họ. Ngay cả sự tham gia hình thức vào việc lấy quyết định chính trị được đại diện bởi việc bỏ phiếu trong các khoảng thời gian đều đặn thường đã mang lại lợi thế cho nhiều người. Và trách nhiệm giải trình của chính phủ đối với các đại diện được bầu hạn chế sự lạm dụng quyền lực mà rõ ràng có cho lợi ích của công dân nói chung. Tuy vậy, trên hết dân chủ hình thức mở ra khả năng về, và là một điều kiện cần thiết cho, những sự tiến bộ hướng tới dân chủ tham gia và dân chủ xã hội.

Dân chủ hình thức có thể ủng hộ những tiến bộ đến dân chủ xã hội nơi các mức cao hơn của sự huy động chính trị ủng hộ các phân tích chính trị cải cách và các chính sách dân chủ xã hội. Các chính sách xã hội bình quân đến lượt lại cho phép nhiều công dân hơn tham gia vào quá trình chính trị và như thế đóng góp cho sự củng cố và làm sâu sắc thêm nền dân chủ. Những diễn tiến lịch sử có thể chứng tỏ một vòng thiện (virtuous cycle) như vậy.

Thế nhưng vòng thiện này không phải là khả năng duy nhất. Dân chủ hình thức có thể vẫn là hình thức. Một sự tách rời giữa dân chủ hình thức và dân chủ xã hội đã không là một vấn đề đối với các nhà khai phóng (liberal) thế kỷ thứ mười chín. Quả thực, họ đã tiên đoán và mong muốn nó, và nhiều người tân-liberal ngày nay có cùng lập trường.

Cuối cùng, một khả năng tai hại hơn nhưng thực tế ngang vậy là một vòng luẩn quẩn (vicious cycle). Các chính sách không quân bình và sự nghèo do chúng tạo ra dẫn đến những vấn đề như sự bị gạt sang bên lề xã hội và tội phạm. Về chính trị, chúng có thể dẫn đến sự giải ngũ, sự xói mòn các quyền tư pháp và dân sự, và một “nền dân chủ ủy thác-delegative” mà làm giảm đột ngột trách nhiệm giải trình của chính phủ.6 Khả năng của một vòng luẩn quẩn là đặc biệt thích hợp với các nền dân chủ mới và quá độ, nơi chúng ta thường thấy sự biến động đáng kể về mức độ mà theo đó các tiêu chuẩn cho nền dân chủ hình thức được thỏa mãn và nơi các nền móng của dân chủ là đặc biệt dễ tổn thương.

Trong phần tiếp theo chúng tôi sẽ thảo luận các yếu tố quyết định của dân chủ hình thức, tham gia, và xã hội trong tình thế lịch sử hiện thời, dựa chủ yếu vào những diễn tiến ở các nước Mỹ Latin mà đã tiến hành chuyển đổi dân chủ từ cuối các năm 1970. Tuy vậy, trước khi quay sang diễn biến Mỹ Latin hiện thời đầu tiên chúng tôi sẽ nhắc lại ngắn gọn khung khổ lý thuyết chúng tôi đã phát triển và đưa ra kiểm thử trong sự phân tích lịch sử so sánh trước kia của chúng tôi về các điều kiện của dân chủ hình thức, sau đó trình bày những kỳ vọng lý thuyết về các điều kiện của dân chủ tham gia và xã hội dựa trên văn liệu xử lý các nền dân chủ công nghiệp chín muồi.7

Về các Điều kiện của Dân chủ Hình thức

Dân chủ, ngay cả dân chủ hình thức, là vấn đề của quyền lực và chia sẻ quyền lực. Tiền đề này đã dẫn chúng tôi để tập trung vào ba cụm quyền lực khi định hình các điều kiện cho dân chủ hóa cũng như cho việc duy trì dân chủ hình thức. Thứ nhất, cân bằng sức mạnh giai cấp là khía cạnh quan trọng nhất của cân bằng quyền lực trong xã hội dân sự. Thứ hai, cấu trúc của nhà nước và các mối quan hệ nhà nước-xã hội định hình sự cân bằng quyền lực giữa nhà nước và xã hội dân sự và cũng ảnh hưởng đến cân bằng quyền lực bên trong xã hội. Thứ ba, các cấu trúc quyền lực xuyên quốc gia dựa vào nền kinh tế quốc tế và hệ thống các quốc gia; chúng làm thay đổi cân bằng quyền lực bên trong xã hội, tác động đến các mối quan hệ nhà nước-xã hội, và kiềm chế việc ra quyết định chính trị.

Những sự thay đổi về cân bằng quyền lực trong xã hội và đặc biệt về cân bằng quyền lực giữa các giai cấp xã hội là sự giải thích chính cho mối quan hệ tổng thể giữa sự phát triển tư bản chủ nghĩa và dân chủ. Sự phát triển tư bản chủ nghĩa, chúng ta đã thấy, làm giảm quyền lực của các địa chủ và làm các giai cấp dưới mạnh lên. Giai cấp lao động và giai cấp trung lưu, không giống các giai cấp dưới khác trong lịch sử, có được một năng lực chưa từng thấy cho sự tự tổ chức nhờ những sự phát triển như đô thị hóa, sản xuất nhà máy và các hình thức mới về truyền thông và giao thông. Và việc tổ chức tập thể trong các hiệp hội, nghiệp đoàn, và đảng tạo thành nguồn sức mạnh chính của nhiều người, mà thiếu sức mạnh dựa trên tài sản, sự cưỡng bức, địa vị xã hội, hay sự bá quyền văn hóa. Những thay đổi này về cán cân quyền lực giai cấp kết nối dân chủ với phát triển, cho dù các kết cục cá biệt thay đổi ngang các nước do những sự khác biệt về hoạt động chính trị huy động và các liên minh giai cấp.

Sự khám phá này phủ nhận những giải thích khác về mối liên kết giữa sự phát triển tư bản chủ nghĩa và dân chủ. Mối liên kết này trước hết không do một sự mở rộng của giai cấp trung lưu. Nó cũng chẳng thể được giải thích bằng một sự tương ứng cấu trúc giữa chủ nghĩa tư bản và dân chủ, bởi luận đề rằng các xã hội phức tạp hơn đòi hỏi một hình thức khác biệt và linh hoạt của chính phủ. Cuối cùng, những khám phá của chúng tôi là bất hòa với yêu sách cổ điển của cả lý thuyết khai phóng lẫn Marxist rằng dân chủ là một sự tạo tác của giai cấp tư sản, giai cấp chi phối của các chủ tư bản.

Tuy vậy, cân bằng quyền lực không phải là nhân tố duy nhất hình thành các điều kiện cho dân chủ hình thức. Sự tương quan giữa sự phát triển tư bản chủ nghĩa và dân chủ là không hoàn hảo, và sự bất hoàn hảo này phần lớn là do tác động của hai cụm quyền lực khác, cấu trúc của nhà nước và các mối quan hệ nhà nước-xã hội và các cấu trúc quốc tế.

Cấu trúc nhà nước và các mối quan hệ nhà nước-xã hội là quan trọng cốt yếu đối với các cơ hội cho dân chủ. Nhà nước cần đủ mạnh và tự trị để đảm bảo pháp trị và để tránh bị các lợi ích của các nhóm chi phối giam cầm. Tuy vậy, sức mạnh của nhà nước cần được làm ngang bằng bởi sức mạnh tổ chức của xã hội dân sự để làm cho dân chủ có thể đứng vững được. Nhà nước phải không được mạnh và tự trị khỏi tất cả các lực lượng xã hội đến mức chế ngự xã hội dân sự và cai trị mà không có trách nhiệm giải trình. Các phần khác nhau của nhà nước, đặc biệt các lực lượng an ninh, phải nằm dưới sự kiểm soát tổng thống và/hoặc quốc hội đủ để đảm bảo trách nhiệm giải trình de facto (trên thực tế).

Các mối quan hệ quyền lực quốc tế là quan trọng ngang thế đối với các cơ hội cho dân chủ. Ngoài tác động của chiến tranh (một cách điển hình tạo ra một sự cần thiết cho sự ủng hộ quần chúng và làm mất tín nhiệm nhóm cai trị trong trường hợp thua trận) ra, các mối quan hệ quyền lực dựa vào những hình trạng thay đổi của chính trị thế giới và nền kinh tế thế giới có thể tác động rất mạnh đến cấu trúc và năng lực của nhà nước, các ràng buộc đối mặt với các nhà hoạch định chính sách nhà nước, các mối quan hệ nhà nước-xã hội, và thậm chí đến sự cân bằng của quyền lực giai cấp bên trong xã hội.

Giả thuyết của chúng tôi đã, và vẫn là, ba cụm quyền lực là không chỉ quan trọng trong việc thiết lập và duy trì nền dân chủ hình thức mà cũng là cốt yếu trong việc làm sâu sắc dân chủ hình thức theo hướng nền dân chủ tham gia đầy đủ và sự thúc đẩy sự bình đẳng xã hội và kinh tế.

Về các Điều kiện của Dân chủ Tham gia và Xã hội: Nghiên cứu vừa qua và những kỳ vọng lý thuyết

Nhiều khối văn liệu là xác đáng cho việc phát triển các giả thuyết của chúng tôi về các yếu tố quyết định của dân chủ tham gia và dân chủ xã hội. Khối thứ nhất quan tâm đến các yếu tố quyết định của sự tham gia chính trị ngang qua các nước. Chúng tôi không hạn chế sự tham gia chính trị ở việc bỏ phiếu mà bao gồm tất cả các hình thức của sự huy động chính trị liên quan cũng như việc truyền đạt hữu hiệu các đòi hỏi của công dân vào quá trình chính trị qua các kênh định chế như các đảng chính trị. Văn liệu về chính sách xã hội so sánh và văn liệu có quan hệ qua lại mật thiết về dân chủ xã hội, kể cả mặc cả lương, tổ chức nghiệp đoàn, sự tham gia và cùng quyết định của các công nhân, là cũng xác đáng đối với lý lẽ của chúng tôi. Chúng tôi có thể dựa chỉ một cách chọn lọc vào các khối to lớn này của văn liệu ở đây, nhưng tổng quan của chúng tôi phản ánh trung thành điểm chính của nghiên cứu vừa qua.

Cân bằng  Quyền lực  Giai cấp và các Liên minh Giai cấp

Sự cài vào nhau giữa lý thuyết của chúng tôi về các nguồn gốc xã hội của dân chủ hình thức và những khám phá kinh nghiệm của các khối văn liệu liên quan đến các yếu tố quyết định của dân chủ tham gia và xã hội là rất chặt trong trường hợp của các mối quan hệ quyền lực giai cấp. Quả thực, những lý lẽ của chúng tôi về những tác động của quyền lực giai cấp và các liên minh giai cấp về dân chủ hình thức có thể xem như bản đối chính xác của cách tiếp cận “các nguồn lực quyền lực giai cấp” để giải thích những sự khác biệt ngang quốc gia trong sự phát triển nhà nước phúc lợi và những biến thể rộng hơn trong chương trình nghị sự chính sách dân chủ xã hội như đã được mô tả đặc trưng ở trên.8 Các giáo lý trung tâm của cách tiếp cận này đã nhận được sự ủng hộ đáng kể trong cả nghiên cứu lịch sử so sánh lẫn nghiên cứu định lượng ngang quốc gia. Về tác động tái phân phối của các khoản dự phòng phúc lợi, về tác động “phi hàng hóa hóa” của chúng, về dự phòng của các dịch vụ xã hội công, và về tác động của chúng lên bình đẳng giới, sự cai trị bởi các đảng dân chủ xã hội hay sức mạnh nghiệp đoàn có vẻ là biến số giải thích quan trọng nhất duy nhất.9

Hình mẫu chính sách dân chủ xã hội không hạn chế ở chính sách xã hội. Quả thực, nó không hạn chế ở chính sách chính phủ mà bao gồm cả, quan trọng nhất, các kết cục của sự mặc cả giữa các nhà sử dụng lao động và các nghiệp đoàn. Những nghiên cứu khác nhau đã cho thấy một mối quan hệ mật thiết giữa sự cai quản dân chủ xã hội và/hoặc sức mạnh nghiệp đoàn và các quyền của công nhân, sự cùng quyết định, chính sách lương bình quân chủ nghĩa, và thất nghiệp.10 Những nghiên cứu khác đã cho thấy rằng hình mẫu chính sách bình quân chủ nghĩa được thúc đẩy bởi dân chủ xã hội đã không đến với cái giá của sự tăng trưởng kinh tế.11 Căn cứ vào các chi phí lương cao và các khoản dự phòng xã hội hào phóng, mô hình tăng trưởng dân chủ xã hội (và, tình cờ, mô hình Dân chủ Thiên chúa giáo Đức) của thành công kinh tế đã đi “con đường cái” đến cạnh tranh quốc tế, dựa trên nền sản xuất xuất khẩu thâm dụng vốn, chất lượng lao động cao.

Mặc dù dựa vào một cách tiếp cận lý thuyết rất khác, một số khám phá chính của văn liệu về những sự khác biệt ngang quốc gia về sự tham gia khớp nhau khéo với cách nhìn huy động giai cấp này về nhà nước phúc lợi.12 Nghiên cứu này cho thấy rằng những sự khác biệt ngang quốc gia về tham gia là kết quả chủ yếu từ những sự khác biệt về tham gia của các nhóm địa vị xã hội kinh tế. Những khác biệt này, đến lượt, là sản phẩm của môi trường định chế: các nước với các nghiệp đoàn mạnh và các đảng mạnh, đặc biệt các đảng giai cấp lao động, được đặc trưng bởi không có những sự khác biệt xã hội kinh tế về số người tham gia bỏ phiếu và những khác biệt tương đối nhỏ về các loại tham gia khác.

Nhà nước và Xã hội Dân sự

Công trình mang tính kinh nghiệm liên quan đến sự tham gia và dân chủ xã hội không đề cập đến mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự theo cùng cách như chúng tôi, cùng với các học giả khác đã làm trong phân tích các nguồn gốc xã hội và lịch sử của dân chủ hình thức. Tuy nhiên, một khối lớn công trình đề cập đến tác động của cấu trúc nhà nước và các diễn viên nhà nước lên nhà nước phúc lợi và có thể được tạo dáng lại để khớp với cách của chúng tôi về định khung câu hỏi.

Trước khi phác họa các giả thuyết được văn liệu này gợi ý, cần bình luận các khái niệm về “mật độ của xã hội dân sự,” “sự huy động và tham gia của công dân,” và “sức mạnh của các giai cấp dưới..” Các khái niệm này là khác biệt nhưng nhắc đến các hiện tượng liên quan mật thiết với nhau. Căn cứ vào các mối liên kết mật thiết giữa sự tổ chức và sự tham gia trong quá trình chính trị được chứng tỏ trong văn liệu kinh nghiệm, mật độ của xã hội dân sự và mức độ tham gia và huy động công dân phải cùng biến đổi ngang các xã hội. Sức mạnh giai cấp dưới chủ yếu là một hệ quả của sự tổ chức giai cấp, cho nên nó cũng phải cùng biến đổi với mật độ của xã hội dân sự. Nhưng chúng không phải là cùng thứ. Các liên đoàn Bowling và các hội ca hát củng cố xã hội dân sự mà không làm nhiều cho sự tham gia chính trị hay sự tổ chức giai cấp. Liên đoàn các Nữ Cử tri và Câu lạc bộ Sierra củng cố xã hội dân sự và sự tham gia chính trị mà không tăng cường nhiều sự tổ chức giai cấp. Các nghiệp đoàn và các liên đoàn nông dân tăng cường tất cả ba thứ.

Là sai lầm căn bản để xem quan hệ giữa hoạt động nhà nước và sự tự tổ chức của xã hội như một “sự đánh đổi” – một thứ càng nhiều thì thứ kia càng ít. Ngược lại, các hiệp hội trong xã hội dân sự đã có khuynh hướng tăng lên, cả ở Hoa Kỳ lẫn ở châu Âu, khi nhà nước tiến hành các nhiệm vụ mới trong xã hội. Sự tự tổ chức của các gia cấp dưới, cũng thế, ở mọi nơi có một mối quan hệ tăng cường lẫn nhau với các chính sách xã hội nhà nước.

Tính tự trị cũng như năng lực công cụ của nhà nước là quan trọng cốt yếu cho sự tiến bộ tới dân chủ xã hội. Người ta đã có thể bị cám dỗ trên cơ sở logic để cho rằng trong một chính thể dân chủ xã hội, nhà nước càng tự trị, thì sự huy động công dân càng ít và sự tham gia vào quá trình chính trị sẽ chuyển thành ảnh hưởng lên các kết cục chính sách, khi các thứ khác là ngang nhau (ceteris paribus). Trong trường hợp giới hạn, một nhà nước cực kỳ tự trị có thể bỏ qua các đòi hỏi của các công dân bất luận họ được tổ chức tốt đến thế nào. Tuy vậy, một sự phân biệt giữa sự tự trị của nhà nước khỏi các lợi ích xã hội-kinh tế chi phối và sự tự trị toàn bộ làm phức tạp bức tranh một cách hữu ích: mức độ độc lập với các lợi ích chi phối càng cao và sự phản ứng nhanh nhạy với những áp lực có cơ sở rộng càng lớn, thì các cơ hội cho những tiến bộ tới dân chủ xã hội càng lớn. Bất cứ sự tiến bộ dựa trên chính sách nào tới dân chủ xã hội đòi hỏi năng lực công cụ đáng kể của nhà nước: năng lực của nhà nước càng lớn để thực hiện các chính sách một cách hiệu quả, thì mức độ càng lớn mà theo đó sự huy động và tham gia của các công dân sẽ chuyển thành những ảnh hưởng đến các kết cục xã hội, ceteris paribus.

Một số học giả đã cho rằng sự tự trị nhà nước, hoạt động hoạch định chính sách của các quan chức hay “các elite chính trị,” và sự cách ly các elite khỏi các áp lực dân chúng (tất cả đều liên quan nhưng tách biệt về mặt quan niệm) dẫn đến sự đổi mới chính sách xã hội.13 Hơn nữa, trong khi các động cơ họ quy cho các elite đổi mới thay đổi từ lòng nhân từ đến sự chỉ định Bismarckian, chúng hầu như luôn luôn xem sự đổi mới như việc đẩy chính sách theo một hướng rộng lượng hơn. Nhưng mối quan hệ giữa tính tự trị và sự phát triển chính sách và tính rộng lượng là một sự khái quát hóa kinh nghiệm post hoc (hậu nghiệm). Về mặt logic, một nhà nước tự trị hoặc elite chính trị tự trị đã có thể đẩy lùi chính sách một cách dễ dàng hệt như mở rộng nó. Cái chúng ta kỳ vọng có tính quyết định là mức độ tự trị khỏi các lợi ích xã hội-kinh tế chi phối và sự phản ứng nhanh nhạy với các áp lực có cơ sở rộng hơn. Cái sau có thể bao gồm, như pháp luật an sinh xã hội của Bismarck, một sự phản ứng nhanh nhạy với những áp lực căng thẳng được lường trước trong xã hội.

Các Cấu trúc Xuyên quốc gia về Quyền lực

Trong các trường hợp của các quan hệ của quyền lực giai cấp và, ở mức độ ít hơn, của quyền lực nhà nước đối với xã hội dân sự, khung khổ lý thuyết của chúng tôi dẫn chúng tôi đến tiên đoán rằng cùng hình trạng của các lực sẽ thúc đẩy dân chủ hình thức cũng như dân chủ tham gia và dân chủ xã hội. Trong trường hợp của các cấu trúc xuyên quốc gia về quyền lực, tuy vậy, các tác động lên dân chủ hình thức và dân chủ xã hội là khá khác nhau, và tình thế hiện thời, tuy khá thuận lợi cho dân chủ hình thức, đặc biệt cho các cuộc bầu cử đều đặn, quyền tự do tranh luận, và quyền bầu cử phổ quát, lại rất không thuận lợi cho dân chủ tham gia và dân chủ xã hội. Chúng ta có thể phân biệt hai nét đặc điểm của các cấu trúc quyền lực xuyên quốc gia, một mặt là thị trường quốc tế, và mặt khác là các định chế đa biên bị chi phối bởi các nước cốt lõi và các mối quan hệ song phương.

Trong văn liệu mới đây về nhà nước phúc lợi và dân chủ xã hội ở các nền dân chủ công nghiệp tiên tiến, tác động của hệ thống quốc tế lên chính sách dân chủ xã hội đã là một mối quan tâm chủ yếu, có lẽ là mối quan tâm chính. Điểm xuất phát chính của nghiên cứu gần đây đã là luận điểm rằng sự đảo ngược mới đây của chính sách dân chủ xã hội ở khu trung tâm của nó ở bắc Âu có thể được quy cho sự quốc tế hóa tăng lên của các nền kinh tế của các xã hội tư bản chủ nghĩa tiên tiến nói chung và quá trình hội nhập Âu châu nói riêng, mà đã siết lại – quả thực, theo một số nhà quan sát, đã hầu như loại bỏ – các lựa chọn chính sách của các chính phủ của các xã hội này.

Có các lý do để rút ra cái sâu xa nhất từ các khẳng định này với một chút hoài nghi. Như Katzenstein đã chỉ ra, các nền dân chủ nhỏ ở châu Âu, mà hầu hết đã được cai quản thường xuyên bởi dân chủ xã hội, đã có các nền kinh tế rất mở trước xa thời đại hậu Bretton Woods của sự quốc tế hóa gia tăng, và các nhà nước phúc lợi lớn của chúng có thể được xem như “sự bồi thường trong nước” cho việc lao động có tổ chức chấp nhận sự kiềm chế lương và các chính sách khác để thúc đẩy tính cạnh tranh quốc tế.14 Ở nơi khác chúng tôi đã cho rằng những sự tăng lên khiêm tốn về cởi mở thương mại của hai thập niên vừa qua đã có ít tác động lên mô hình kinh tế dân chủ xã hội, và nhà nước phúc lợi dân chủ xã hội hào phóng đã không làm xói mòn tính cạnh tranh của các hàng xuất khẩu của các nước này. Tuy vậy, sự quốc tế hóa đầy kịch tính của các thị trường tài chính đã loại bỏ một số công cụ bên cung mà đã là trung tâm đối với mô hình kinh tế của nền dân chủ xã hội trong thời hoàng kim của chủ nghĩa tư bản sau chiến tranh.15

Một phần của huyền thoại neoliberal (khai phóng mới) cho rằng xu hướng toàn cầu đến tự do hóa, phi điều tiết hóa, và tư nhân hóa có thể được giải thích hoàn toàn bởi sự thực rằng sự cạnh tranh quốc tế tăng lên đã buộc các quốc gia phải tiến hành các biện pháp này như các bước tới hiệu quả lớn hơn. Vai trò của chính phủ Hoa Kỷ, IMF, Ngân hàng Thế giới, Bundesbank, và các định chế quốc tế khác và định chế của các nước cốt lõi trong việc thúc đẩy, đôi khi ta phải nói thực thi, các chính sách neoliberal là không thể phủ nhận được. Như thế, phía chính trị của các cấu trúc quyền lực xuyên quốc gia hiện thời, trong khi ủng hộ sự mở rộng của dân chủ hình thức, lại đã hoạt động chống lại sự đẩy mạnh dân chủ tham gia và xã hội bởi vì nó đã chấm dứt việc xem xét chính sách dân chủ xã hội thay thế và, bằng ngăn cản các lựa chọn thay thế khả dĩ, đã làm cho sự huy động và tham gia dân chúng  ít có ý nghĩa hơn.

Các Yếu tố Quyết định của Dân chủ Hình thức ở Mỹ Latin Đương thời

Việc thảo luận quỹ đạo của dân chủ ở Mỹ Latin từ cuối các năm 1970 phải bắt đầu với sự phân biệt giữa pha chuyển đổi và pha sau các cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên, thường được gọi là pha củng cố.16 Các điều kiện thịnh hành trong pha đầu tiên không nhất thiết vẫn còn trong pha thứ hai. Hơn nữa, các điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi không nhất thiết cũng thuận lợi ngang thế cho sự củng cố.

Trong sự quan niệm hóa chi phối về củng cố, tất cả các diễn viên liên quan đều chấp nhận các quy tắc của trò chơi dân chủ và như thế từ bỏ việc tìm kiếm các con đường khác tới quyền lực chính trị. Do đó, các diễn viên này và một công chúng lớn hơn tin rằng dân chủ sẽ vẫn tồn tại cho tương lai có thể thấy trước được.17  Một số tác giả đưa thêm việc loại bỏ các tàn tích của sự cai trị độc đoán, như các đặc quyền quân đội và những hạn chế khác lên quyền của các quan chức được bầu, như một tiêu chuẩn, mà là cách nói khác rằng một nền dân chủ hình thức được củng cố phải thỏa mãn đầy đủ các đòi hỏi trong tất cả các chiều, kể cả trách nhiệm giải trình.18

Trong thực tiễn, nhiều nền dân chủ đã sống sót mà không đạt sự củng cố đầy đủ theo nghĩa loại bỏ các tàn tích này và đảm bảo sự chấp nhận và sự hoạt động đúng đắn của một loạt quy tắc và định chế dân chủ.19 Cộng đồng quốc tế nói chung coi các nước như các nền dân chủ khi chúng thỏa mãn test về các cuộc bầu cử đều đặn, tự do, và có vẻ công bằng phải chăng với quyền bỏ phiếu phổ quát. Tuy vậy, nhiều trong các nước này thiếu các tiêu chuẩn khác mà xác định nền dân chủ hình thức. Nổi bật nhất, trách nhiệm giải trình thường là yếu bởi vì các tổng thống được trao quyền quá đáng và các cơ quan lập pháp và tư pháp yếu. Thứ hai, các quyền dân sự và, ở mức độ ít hơn, các quyền chính trị được bảo vệ rất không đều ngang các giai cấp, giới, và các đơn vị lãnh thổ.20  Thứ ba, các tập quán gia trưởng chủ nghĩa làm mờ các ranh giới giữa các lĩnh vực công và tư.21 Trong một phân tích tỉ mỉ, nhiều trong số các nền dân chủ mới ở Mỹ Latin phù hợp chỉ một phần với khái niệm hóa của chúng tôi về dân chủ hình thức.

Về mặt ba cụm quyền lực của chúng tôi khi được áp dụng cho các nền dân chủ mới ở Mỹ Latin, sau một đợt bột phát huy động trong thời gian chuyển đổi sự cân bằng quyền lực giai cấp đã chuyển sang chống lại các giai cấp dưới, và sự yếu kém của các giai cấp dưới chịu trách nhiệm về những thiếu sót trong dân chủ hình thức cũng như dân chủ tham gia và dân chủ xã hội. Trong chừng mực liên quan đến nhà nước, các chiều khác nhau của sự yếu kém đã tạo thuận lợi cho chuyển đổi nhưng đã trở thành những cản trở cho cả sự thực hiện đầy đủ nền dân chủ hình thức lẫn bất cứ sự di chuyển nào tới dân chủ xã hội. Cuối cùng, hệ thống quốc tế đã có những tác động trái ngược lên dân chủ hình thức và dân chủ xã hội.

Cân bằng Quyền lực Giai cấp

Có sự thống nhất nói chung rằng các sự chuyển đổi từ sự cai trị độc đoán đã bắt đầu với những căng thẳng bên trong các chính phủ quân sự và giữa chúng và các liên minh tư sản của chúng, một cách điển hình bị làm sâu sắc thêm bởi các vấn đề kinh tế. 22  Cái đã đẩy sự tự do hóa ban đầu theo hướng dân chủ hóa, tuy nhiên, đã là áp lực từ xã hội dân sự đang nổi lên lại một cách nhanh chóng. Áp lực như vậy đến từ cả loạt các hiệp hội, từ các hội báo chí và luật sư ở trên đỉnh của thang xã hội đến các nhóm quyền con người ở giữa và các nghiệp đoàn và các tổ chức hàng xóm trong các cộng đồng nghèo đô thị ở dưới cùng. Để cho những sự chia rẽ ở trên đỉnh và các áp lực từ dưới dẫn đến các cuộc bầu cử dân chủ, thì các đảng chính trị cũng đã phải tập hợp lại và cung cấp bộ phận lãnh đạo để thương lượng các điều kiện ra đi với các nhà cai trị độc đoán.23

Đợt bột phát huy động của các phong trào xã hội cũ và mới trong thời gian chuyển đổi đã tiếp theo bởi một sự sụt giảm sau các cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên. Một phần, sự sụt giảm này đã là do sự biến mất của mục tiêu chung của sự phản kháng, một phần do sự tan ảo mộng với sự thất bại của sự cai trị dân chủ để dẫn đến những cải thiện đáng kể về tình hình vật chất của hầu hết công dân, và một phần do những khó khăn mà các phong trào xã hội đã gặp phải trong cố gắng để làm việc với và thông qua các đảng chính trị.24 Ngoài ra, trong các nước nơi mà sự ổn định hóa kinh tế và các chính sách điều chỉnh cấu trúc đã tiếp tục và được tăng cường sau chuyển đổi (chẳng hạn, Argentina, Brazil, và Peru), xã hội dân sự, đặc biệt [tổ chức] lao động, đã bị yếu đi một cách đáng kể.

Bất chấp sự sụt giảm về huy động và sự yếu đi của các tổ chức của các giai cấp dưới, các nền dân chủ hình thức đã vẫn tồn tại, mặc dù dưới một dạng thỏa mãn phần lớn tiêu chuẩn về các cuộc bầu cử dân chủ và thiếu tính trách nhiệm giải trình và sự bảo vệ các quyền dân sự. Những thiếu sót trong nền dân chủ hình thức có thể dễ được giải thích trong khung khổ lý thuyết của chúng tôi bởi sự thiếu của các tổ chức mạnh của các giai cấp dưới. Để giải thích sự sống sót của (thường là phiên bản bị cắt xén của) nền dân chủ hình thức, chúng tôi cần nhắc nhở bạn đọc rằng chúng tôi đã nhấn mạnh sự cân bằng tế nhị giữa các áp lực từ dưới và sự cảm nhận đe dọa ở trên đỉnh cần thiết cho việc sắp đặt và sống sót của nền dân chủ.25  Cân bằng này đã vẫn thuận lợi cho sự sống sót dân chủ, khi các áp lực từ dưới đã yếu đi nhưng cảm nhận đe dọa đã giảm triệt để hơn.26 Sự giảm sút về cảm nhận đe dọa một phần là do chính sự yếu đi của lao động, do sự lộn xộn và thiếu một dự án mạch lạc từ phía tả, và do các áp lực bên ngoài tăng cường một trật tự neoliberal thuận lợi cho các nhóm kinh doanh hùng mạnh mới, một chủ đề mà chúng tôi sẽ quay lại.

Cấu trúc của Nhà nước

Sự phân mảnh của bộ máy nhà nước và sự không thống nhất giữa các nhóm kiểm soát nó đã có lợi cho sự chuyển đổi. Các sự chia rẽ đã mở ra không gian cho đợt bột phát của xã hội dân sự và cho sự hình thành các liên minh giữa những người theo đường lối mềm dẻo bên trong bộ máy nhà nước và các thành viên của đối lập dân chủ.27  Sau chuyển đổi, tuy vậy, sự phân mảnh tiếp tục và sự yếu kém của các định chế nhà nước, đặc biệt các định chế mà đã bị treo hoặc bị thao túng dưới sự cai trị độc đoán, như cơ quan lập pháp và tư pháp, đã trở thành một trở ngại. Chúng đã làm cho khó khăn để thiết lập trách nhiệm giải trình của các quan chức được bầu cũng như sự thực thi phổ quát các quyền dân sự và chính trị.

Trong một số trường hợp và trong một số khía cạnh những sự phát triển trong bộ máy nhà nước đã có ích cho sự sống sót của dân chủ hình thức. Ở Argentina quy mô của bộ máy cưỡng bức của nhà nước đã giảm đi, và sự kiểm soát dân sự đối với các lực lượng an ninh đã được tăng cường. Trong các nước như vậy như Argentina, Brazil, Peru, và Bolivia, sự co lại của nhà nước như một kết quả của các chính sách điều chỉnh cơ cấu đã làm giảm các cơ hội tham nhũng, tức là giảm sự làm mờ giữa lĩnh vực công và tư.

Hệ thống Quốc tế

Tác động rõ rệt nhất và quan trọng của hệ thống quốc tế lên sự sống sót (tuy là các dạng có thiếu sót) của dân chủ hình thức đã chắc chắn bao gồm các áp lực ngoại giao để tôn trọng các cuộc bầu cử dân chủ.28 Trong khi những áp lực như vậy từ các nước Bắc Mỹ và Tây Âu đã là cốt yếu trong nhiều trường hợp của những chuyển đổi sớm, những áp lực này đã ngày càng bắt nguồn từ bản thân các nước Mỹ Latin. Các chính phủ được bầu một cách dân chủ đã bày tỏ một quyền lợi bản thân mạnh trong việc tẩy chay các hàng xóm đi trệch các thủ tục bầu cử dân chủ hình thức.

Những diễn biến trong tình hình địa chính trị, đặc biệt sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, đã có lợi cho sự sống sót của dân chủ một cách cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Trực tiếp, chúng đã làm giảm xu hướng của hai siêu cường ủng hộ các chế độ phi dân chủ nhưng trung thành. Gián tiếp, chúng đã loại bỏ cảm nhận về mối đe dọa Cộng sản giữa các elite kinh tế và như thế sự sợ hãi về sự yếu kém tiềm tàng của các chế độ dân chủ đối mặt với một mối đe dọa như vậy hoặc, thậm chí còn tồi hơn từ cách nhìn của họ, về sự đồng lõa tiềm năng của các chính phủ dân chủ với các lực lượng Cộng sản.

Những diễn biến trong nền kinh tế thế giới đã có một tác động nước đôi hơn lên dân chủ hình thức. Một mặt, khủng hoảng nợ đã giúp các chuyển đổi tiến lên bằng việc làm sâu sắc các căng thẳng nội bộ trong các chế độ độc đoán và giữa chúng và các liên minh trong xã hội dân sự. Ngoài ra, sự khăng khăng của các định chế tài chính quốc tế về các cải cách neoliberal đã làm giảm mối đe dọa được cảm nhận đối với tài sản tư giữa các elite kinh tế và như thế đã làm tăng sự chịu đựng của họ đối với dân chủ hình thức. Mặt khác, áp lực nợ tiếp tục và sự áp đặt các biện pháp điều chỉnh cơ cấu đã tăng cường một xu hướng để tập trung quyền lực vào hành pháp, cách ly các nhà hoạch định chính sách kinh tế, và cai trị bằng sắc lệnh. Nói cách khác, chúng đã cản trở việc thể chế hóa sự hỏi ý kiến dân chủ và trách nhiệm giải trình. Ngoài ra, chúng đã tác động đến một sự thay đổi trong cân bằng quyền lực chống lại các giai cấp dưới và như thế đã làm giảm tiềm năng cho một sự sửa các thiếu sót này.

Các Yếu tố Quyết định của Dân chủ Tham gia ở Mỹ Latin Đương thời Cân bằng Quyền lực Giai cấp

Như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, nghiên cứu so sánh đã cho thấy rằng một mức độ cao của sự tổ chức giữa các giai cấp thấp hơn (hay các nhóm địa vị xã hội kinh tế) làm giảm những sự chênh lệch giai cấp (hay những sự chênh lệch bởi địa vị xã hội kinh tế) trong sự tham gia chính trị. 29 Ngoài ra, văn liệu về nhà nước phúc lợi đã chứng tỏ rằng giữa các tổ chức này các đảng chính trị đóng một vai trò cốt yếu trong việc trình bày rõ ràng các đòi hỏi [của] giai cấp thấp hơn cho các chính sách tái phân phối và chuyển chúng thành chính sách.

Các nền dân chủ mới ở Mỹ Latin đã trải qua những vấn đề trong cả hai lĩnh vực. Trong tình thế đặc biệt của chuyển đổi, các đòi hỏi bị dồn nén đối với thông tin về các nạn nhân của sự chà đạp các quyền con người, đối với những thay đổi chính sách kinh tế và các dịch vụ xã hội tối thiểu, đối với các quyền lao động, và đối với các cuộc bầu cử dân chủ đã là đủ mạnh để huy động các công dân hành động ngay cả khi thiếu các mối ràng buộc tổ chức. Thế nhưng khi mục tiêu chung của sự huy động, chế độ độc đoán, bị xóa bỏ, thì sự huy động đã lắng đi. Bởi vì cấu trúc tổ chức chóng tàn của chúng, hầu hết các phong trào này đã không có khả năng duy trì sự dính líu chính trị mạnh của các giai cấp dưới.

Các đảng chính trị nhìn chung đã thất bại để thiết lập các mối quan hệ với các giai cấp dưới và trình bày rõ các đòi hỏi của họ một cách hữu hiệu. Trường hợp rõ ràng nhất của một đảng lên cầm quyền trên cơ sở của sự đồng nhất truyền thống với các lợi ích giai cấp dưới và đưa ra các cố gắng mạnh mẽ để bảo vệ các lợi ích đó một khi đương chức đã là đảng APRA ở Peru năm 1985. Tuy vậy, sự thất bại của nó trong lĩnh vực quản lý kinh tế trong trung và dài hạn đã dẫn đến sự bất bình dân chúng và sự phá hủy phần lớn sức mạnh bầu cử của nó. Các Peronist dưới Menem ở Argentina và Đảng Dân tộc Nhân dân dưới Manley ở Jamaica đã vận động trên những lời kêu gọi truyền thống của họ đến các lợi ích giai cấp dưới nhưng một khi lên nắm quyền đã thay đổi tiến trình và đã thực hiện các cải cách neoliberal.30 Ở Chile các đảng theo truyền thống được đồng nhất với các lợi ích giai cấp dưới đã cam kết mình trong thời gian chuyển đổi đối với sự liên tục trong các chính sách kinh tế và đã lưu lại trên tiến trình một khi ở trong chính phủ. Do đó, họ đã không đặc biệt cố gắng để làm sống lại các mối quan hệ mật thiết với các tổ chức của các giai cấp dưới mà đã bị vỡ dưới sự cai trị quân sự. Các kết quả trong những trường hợp này đã là sự vô liêm sỉ lớn hơn giữa dân cư đối với quá trình chính trị, sự trung thành đảng thấp hơn, và sự tham gia bỏ phiếu thấp hơn nơi việc đi bầu không được giữ cao bởi sự bỏ phiếu bắt buộc.

Số người tham gia bỏ phiếu giữa các giai cấp dưới đã được giữ ở mức cao trong nhiều trường hợp theo cách mà làm chẳng bao nhiêu để chuyển một cách hiệu quả các lợi ích giai cấp dưới thành chính sách. Không gian chính trị bị bỏ trống bởi các tổ chức dân chúng yếu và sự thất bại của các đảng chính trị để thiết lập các mối quan hệ tổ chức với các giai cấp dưới đã được lấp đầy bởi các mạng lưới clientelistic*. Các mạng lưới này kết nối các cá nhân thuộc giai cấp dưới và các nhóm xã hội phi chính thức với riêng các chính trị gia; chúng được dùng may mắn nhất như những vật truyền những sự thiên vị, đặc thù chủ nghĩa, tạm thời, chứ không như các kênh để huy động công dân vào việc tác động đến sự hình thành chính sách. Hình mẫu này là đặc biệt mạnh nơi các đảng là yếu, như ở Brazil, Peru, Bolivia, và Ecuador.

Nhà nước và các Mối quan hệ Nhà nước-Xã hội

Trong chừng mực mà quyền lực đã trở nên tập trung vào hành pháp và các tổng thống có khuynh hướng coi cơ quan lập pháp và tư pháp như các trở ngại hơn là các đối tác hợp pháp trong chính phủ, thì có ít cơ hội cho sự tham gia chính trị của dân chúng vượt xa hơn hành động bỏ phiếu, đặc biệt ở những nơi các tổng thống lên nắm quyền qua các liên minh bầu cử lỏng lẻo và tránh xa các đảng liên minh khi đương chức. Gây áp lực một cơ quan lập pháp bất lực và làm việc thông qua một đảng tổng thống mà có ít ảnh hưởng lên chính sách chính phủ không phải là các hình thức hứa hẹn của sự tham gia công dân. Những thất bại lặp đi lặp lại làm nản lòng sự huy động chính trị giữa tất cả trừ những người tận tụy nhất về ý thức hệ.

Sự phân quyền chính trị đã là cao trên chương trình nghị sự của các định chế tài chính quốc tế, đặc biệt Ngân hàng Thế giới, và nhiều chính phủ trong những nền dân chủ mới. Tuy vậy, sự phân quyền trong nhiều trường hợp đã vẫn hạn chế ở việc quản lý địa phương của các chính sách đã dược quyết định ở trung ương và các nguồn lực được phân bổ ở trung ương. Trong một số trường hợp nó đã tăng cường địa vị của các elite địa phương và các mạng clientelistic của họ. Nơi sự kiểm soát cả các nguồn lực và trách nhiệm chính sách đã được phân quyền, sự tham gia công dân ở mức địa phương được tạo thành hình bởi những kinh nghiệm trước với sự huy động và bởi các tổ chức mà được dùng như các cơ quan huy động.31

Các Cấu trúc Quyền lực Xuyên Quốc gia

Ngược với tác động tích cực của nó lên sự sống sót của dân chủ hình thức, hệ thống quốc tế đã có một tác động gây nản lòng lên sự tham gia công dân. Các áp lực bên ngoài để chấp nhận các chính sách neoliberal đã làm giảm không gian cho các tranh luận chính sách và đã hết sức chế ngự sự tham gia công dân.

Hệ thống quốc tế cũng đã góp phần mạnh mẽ theo cách gián tiếp cho sự giảm tham gia công dân. Khi các chính sách ủng hộ hoạt động không bị kiềm chế của thị trường được áp đặt và được chấp nhận bởi ngày càng nhiều nước, những người thua thiệt trong trật tự kinh tế mới mất không chỉ thu nhập, sự an toàn việc làm, và các trợ giúp chính phủ, mà thường cũng mất nhiều “tiếng nói” chính trị của họ nữa. Do đó, sự tổ chức giai cấp dưới bị yếu đi, làm giảm thêm các cơ hội cho các chính sách dân chủ xã hội để sửa chữa những bất bình đẳng xã hội kinh tế tăng lên.

Các vấn đề kinh tế bén rễ trong hệ thống quốc tế, nổi bật nhất là các áp lực nợ kéo dài nhưng cả sự quốc tế hóa vốn tăng lên nữa, cũng đã làm yếu một phần cốt yếu của cơ sở hạ tầng của sự tham gia, các đảng chính trị, và hệ thống đảng. Những người đương chức dân chủ đầu tiên đã đối mặt với những kỳ vọng bị thổi phồng, và sự bất lực của họ để thỏa mãn ngay cả những nhu cầu kinh tế cơ bản nhất của các giai cấp dưới và trung lưu đã làm cho các đảng của họ bị tan đàn xẻ nghé tại các cuộc bầu cử lần thứ hai. Chile là ngoại lệ mà xác nhận quy tắc. Chính phủ của Concertacio´n [Liên minh các đảng vì Dân chủ] dưới thời Aylwin đã thừa kế một nền kinh tế với sự ổn định vĩ mô, và một tỷ lệ tăng trưởng lành mạnh, mà đã cho phép nó đạt được tiến bộ nào đó trong lĩnh vực chi tiêu xã hội và lương thực tế và để lại thắng bầu cử dưới thời Frei. Tại Argentina, Peru, và Brazil, ngược lại, sự tiêu hao nhiều của các đảng đương chức đã làm yếu thêm năng lực của hệ thống đảng đã bị phân mảnh rồi để huy động và xử lý sự tham gia công dân.

Các Yếu tố Quyết định của Dân chủ Xã hội ở Mỹ Latin Đương thời Cân bằng Quyền lực Giai cấp

Sự tổ chức mạnh của lao động và sức mạnh bầu cử của các đảng ủng hộ lao động là các yếu tố quyết định cốt yếu của sự thực hiện hữu hiệu các chính sách tái phân phối trong các nền dân chủ công nghiệp tiên tiến. Sự thay đổi không thuận lợi trong cân bằng quyền lực giai cấp ra xa khỏi lao động và hướng tới tư bản do kết quả của sự kết hợp của sự đàn áp lao động dưới sự cai trị quân sự và các cải cách neoliberal dưới cả sự cai trị quân sự và dân chủ và sự yếu kém của các đảng chính trị trong các nền dân chủ mới đã phần nhiều chịu trách nhiệm về sự thất bại của chính sách nhà nước để giải quyết vấn đề tái phân phối theo một cách có ý nghĩa.32 Các chính sách điều chỉnh neoliberal được thực hiện ở những mức độ khác nhau trong hầu như tất cả các nền dân chủ đã làm cho vấn đề này hết sức nổi bật bởi vì chúng đã làm nghiêm trọng thêm một cách đáng kể sự bất bình đẳng xã hội kinh tế cao trước đây. Sự kết hợp của tự do hóa tài chính và tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước đã dẫn đến một sự tập trung cao các tài sản kinh tế. Sự kết hợp của tự do hóa thương mại và sự nhấn mạnh đến sự phân bổ thị trường của các nguồn lực đã đẩy mạnh một phương thức mới của sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới dựa trên sản xuất với lao động có kỹ năng thấp/lương thấp. Cuối cùng, những khoản cắt xén trong chi tiêu chính phủ cho các khoản bao cấp và dịch vụ xã hội đã đánh đặc biệt mạnh các nhóm thu nhập thấp nhất.

Sự tập trung kinh tế, tất nhiên, có nghĩa không chỉ là sự tập trung của cải mà cả quyền lực nữa. Quyền lực của tư bản (sức mạnh của vốn) đối lại cả lao động và các chính phủ đã được tăng cường hơn nữa bởi sự tự do hóa tài chính và sự quốc tế của các chuỗi sản xuất. Những diễn biến này đã làm cho tư bản dễ di động hơn nhiều, và như thế sự đe dọa của việc (vốn) ra đi là đáng tin hơn, điều đó kiềm chế các chính phủ trong các lựa chọn chính sách của họ và xui khiến lao động đưa ra những nhượng bộ. Sự thay đổi sức mạnh này đã được cảm thấy ngay cả trong các nền dân chủ công nghiệp tiên tiến, và càng rõ rệt hơn trong các nền dân chủ mới.

Những người hưởng lợi của các cải cách neoliberal, như thế, đã trở thành các cử tri rất hùng mạnh và các trở ngại cho việc theo đuổi các chính sách dân chủ xã hội. Với rất ít ngoại lệ, các nền dân chủ mới đã làm chẳng bao nhiêu để đảo ngược xu hướng tăng nghèo và bất bình đẳng. Ngay cả trong các trường hợp thành công về kinh tế, như Chile và (đến cuối 1993) Mexico,33 lương tối thiểu thực tế đã rất tụt hậu sau sự tăng năng suất và đã vẫn thấp hơn nhiều mức của thời kỳ trước điều chỉnh.34 Giữa các nền dân chủ mới tại Mỹ Latin, có thể cho rằng Chile là nước nơi các nỗ lực lớn nhất đã được tiến hành để chống nghèo thông qua chính sách xã hội. Nó đã làm giảm tỷ lệ nghèo từ 40 phần trăm trong năm 1990 xuống khoảng 30 phần trăm trong năm 1994.35 Tuy vậy, rất ít đã được làm để củng cố lao động có tổ chức và các tổ chức dân chúng khác mà đã có thể hoạt động như các nhà huy động hữu hiệu của các áp lực tái phân phối.

Nhà nước và các Mối quan hệ Nhà nước-Xã hội

Các chính sách dân chủ xã hội được đặt thành tiền đề trên sự thực rằng thị trường có các hệ quả phi bình quân chủ nghĩa mà có thể được sửa chữa chỉ bằng sự can thiệp nhà nước. Ngoài ý chí chính trị và cơ sở quyền lực để đảm nhận sự can thiệp nhà nước tái phân phối ra, một bộ máy nhà nước phải có khả năng thực hiện các chính sách như vậy theo một cách nhất quán, mạch lạc, và hiệu quả. Việc thiếu một nhà nước như vậy là một vấn đề lớn trong các nền dân chủ của Mỹ Latin. Hầu hết các nền dân chủ mới này đã thừa kế một bộ máy nhà nước được đặc trưng bởi sự vỡ ra từng mảnh, các trách nhiệm chồng lấn nhau, sự tuyển người không theo chế độ nhân tài, và thường tham nhũng. Vì thế, sự can thiệp nhà nước, đặc biệt sự can thiệp tái phân phối mà đi ngược lại các lợi ích đặc lợi, là khó để thực hiện. Ý thức hệ neoliberal và thực hành của nhà nước co lại đã làm ít hoặc chẳng làm gì để sửa chữa các vấn đề này. Thực ra, trong chừng mực mà chúng đã dẫn đến một thái độ chống nhà nước và những sự cắt giảm mạnh lương của các công chức, chúng đã gây ra sự nản lòng và sự ra đi giữa những người đương chức có trình độ nhất trong bộ máy quan liêu.

Ngược với những lời xác nhận rằng sự tự trị của các quan chức nhà nước đã là nguồn của chính sách xã hội hào phóng trong các nền dân chủ công nghiệp tiên tiến, kinh nghiệm của các nền dân chủ mới gợi ý rằng sự tự trị hành pháp khỏi các áp lực chính trị trong nước có cơ sở rộng đã được dùng chủ yếu theo chiều ngược lại, để cắt các khoản chi tiêu xã hội. Tất nhiên, có một sự khác biệt quan trọng giữa các xã hội đã phát triển và đang phát triển: mức độ tự trị khỏi các áp lực bên ngoài. Trong các nền dân chủ mới, các định chế tài chính quốc tế và những người ủng hộ khác của “đồng thuận Washington” đã tích cực nâng cao sự tự trị hành pháp khỏi các áp lực chính trị rộng trong nước, chính xác nhằm đặt các nhà hành pháp vào một vị trí tốt hơn để thực thi các chính sách “đồng thuận” này. Một khi các chính sách neoliberal đã có hiệu lực và đã tạo ra sự ủng hộ của riêng nó giữa những kẻ thắng, các hãng tài chính và xuất khẩu lớn, các cử tri này đã trở nên quyết đoán hơn về mặt chính trị. Có lý để giả thuyết rằng sức mạnh tăng lên của chúng sẽ hạn chế sự tự trị hành pháp. Nhưng nó cũng sẽ củng cố hình mẫu của các quan hệ nhà nước-xã hội mà ít có khả năng làm thay đổi chính sách theo hướng tái phân phối và giảm sự bất bình đẳng: sự phụ thuộc ngày càng tăng của các elite nhà nước vào các nhóm hùng mạnh về kinh tế và một mức độ tự trị cao đối với các giai cấp dưới.

Các Cấu trúc Quyền lực Xuyên Quốc gia

Sự quốc tế hóa ngày càng tăng của các hoạt động tài chính và các chuỗi sản xuất đã làm giảm cơ hội của chính phủ để điều động thậm chí nhiều hơn ở các nước đang phát triển so với ở các nước công nghiệp tiên tiến. Hơn nữa, các nền dân chủ mới ở Mỹ Latin đã cũng phải tăng sự mở cửa thương mại rất nhiều, gây ra những trục trặc vượt xa mức gây ra bởi các điều kiện thay đổi của cạnh tranh quốc tế trong các nền kinh tế mở hơn nhiều của các nhà nước phúc lợi tái phân phối Âu châu. Chìa khóa ở đây đã là áp lực nợ kéo dài trong nhiều nền dân chủ mới và như thế sự phơi ra của chúng đối với các áp lực để tự do hóa thương mại nhanh và khá bừa bãi. Tốc độ và phạm vi của những cải cách này đã làm cho là quá khó khăn đối với nhiều hãng để thích nghi với các điều kiện mới, dẫn đến không phải việc trang bị lại cho sản xuất xuất khẩu mà đúng hơn đến những sự phá sản, sự làm tăng thất nghiệp, và tăng trưởng kinh tế thấp.

Sự quốc tế hóa tài chính làm giảm, đặc biệt, năng lực của chính phủ để tác động đến lãi suất nhằm kích thích đầu tư. Cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới trên cơ sở lao động rẻ làm giảm năng lực của các chính phủ để tăng thuế doanh nghiệp, kể cả thuế lương cho việc đóng góp an sinh xã hội. Cuối cùng, sự dựa thái quá vào thị trường và việc từ bỏ sự can thiệp nhà nước để đẩy mạnh sự tiến tới cạnh tranh trong thị trường thế giới trên cơ sở sản xuất có kỹ năng cao hơn, lương cao hơn lại giữ lương thực tế rất thấp ngay cả ở các nền kinh tế mà đã thành công từ quan điểm của ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng. Nói cách khác, phương thức chi phối của sự hội nhập của các nền dân chủ mới Mỹ Latin vào nền kinh tế thế giới tước mất một số công cụ chính sách truyền thống cốt yếu của các chính phủ để tăng công ăn việc làm, tăng lương thực tế, và tài trợ các chính sách xã hội tái phân phối.

Kết luận

Những kỳ vọng lý thuyết mà chúng tôi đã nhận được từ phân tích lịch sử so sánh trước đây của chúng tôi về mối quan hệ giữa sự phát triển tư bản chủ nghĩa và dân chủ và từ kinh nghiệm lịch sử của các nhà nước phúc lợi Âu châu đã tỏ ra có tác động mạnh trong việc giải thích những diễn biến hiện thời ở Mỹ Latin. Sự trái ngược hiển nhiên giữa những tiến bộ trong (các hình thức khiêm tốn của) dân chủ hình thức và các trở ngại tăng lên trong việc làm sâu sắc nền dân chủ tới sự tham gia nhiều hơn và việc giải quyết bất bình đẳng xã hội kinh tế tìm thấy một sự lý giải nhất quán nếu chúng ta nhìn vào tác động của ba cụm quyền lực – sự cân bằng quyền lực giai cấp, cấu trúc của nhà nước và các mối quan hệ nhà nước-xã hội, và các cấu trúc quyền lực xuyên quốc gia – và sự tương tác của chúng.

Chúng tôi đã cho rằng trong tình thế hiện thời cân bằng quyền lực giai cấp là không thuận lợi cho việc tiến tới dân chủ tham gia và theo đuổi chính sách dân chủ xã hội nhưng thuận lợi vừa phải cho sự sống sót của dân chủ hình thức, cho dù của một biến thể thiếu sót. Các cải cách neoliberal đã làm tăng sự tập trung kinh tế và như thế đã hết sức tăng cường một số khu vực tư bản, đồng thời chúng đã làm xói mòn cơ sở kinh tế và sức mạnh tổ chức của các giai cấp dưới, đặc biệt của giai cấp lao động. Sự sụt giảm này về sức mạnh tổ chức của các giai cấp dưới đã xóa bỏ một cơ sở cốt yếu cho sự huy động vào việc tham gia chính trị. Một cơ sở quyền lực yếu hơn và sự tham gia thấp hơn về phần những người mà giữ vững lợi ích từ các cải cách tái phân phối, đến lượt, đã để cho những kẻ thắng của chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) không có các đối thủ chính trị hữu hiệu có khả năng tiến hành đến cùng các chính sách dân chủ xã hội.

Cân bằng quyền lực giai cấp tạo thuận lợi cho sự sống sót của dân chủ hình thức, chí ít trong bối cảnh chính trị thuận lợi hiện thời cho dân chủ hình thức, bởi vì cảm nhận đe dọa của các elite là thấp, một phần chính xác bởi vì sức mạnh tổ chức cơ sở của các giai cấp dưới là yếu, và một phần bởi vì các diễn viên kinh tế bên ngoài hùng mạnh kiên quyết ủng hộ mô hình kinh tế mà đã củng cố các thành viên hùng mạnh nhất của elite kinh tế. Tuy vậy, chúng tôi cũng đã cho rằng sự yếu kém của các đảng chính trị đại diện các lợi ích của các giai cấp dưới đã dẫn đến trách nhiệm giải trình yếu, tức là, đến những thiếu sót ngay cả trong dân chủ hình thức.

Cấu trúc nhà nước và các mối quan hệ nhà nước-xã hội đã không phát triển theo hướng thuận lợi cả cho dân chủ hình thức đầy đủ lẫn cho dân chủ tham gia và dân chủ xã hội. Với ít ngoại lệ, đáng chú ý nhất là Chile, các bộ máy quan liêu vẫn còn xa thực hành Weberian, và sự kết hợp của khủng hoảng kinh tế và nhà nước co lại đã làm yếu tư pháp và các cơ quan khác chịu trách nhiệm giám sát nhánh hành pháp. Sự thay đổi trong các mối quan hệ quyền lực trong xã hội dân sự đã làm yếu sự tự trị nhà nước với các lợi ích giai cấp chi phối và đã làm tăng sự tự trị nhà nước với các áp lực giai cấp dưới. Những diễn biến nảy đã có các tác động tiêu cực tương tự lên trách nhiệm giải trình, các khuyến khích cho sự tham gia công dân, và cải cách dân chủ xã hội.

Cuối cùng, trong tình cảnh hiện tại các cấu trúc quyền lực quốc tế có các tác động ngược nhau lên dân chủ hình thức và dân chủ tham gia và xã hội. Chúng cổ vũ dân chủ hình thức, trong khi lại hầu như cản trở sự làm sâu sắc sự ra quyết định dân chủ và hoạch định chính sách nhằm giảm bất bình đẳng xã hội và kinh tế. Hơn nữa, chúng tôi cũng đã nhận diện các hình thức phôi thai của một vòng luẩn quẩn. Các chính sách kinh tế định hướng thị trường được ủng hộ bởi các áp lực quốc tế và bởi các nhóm cử tri trong nước được lợi từ chúng có khuynh hướng không chỉ cắt bớt các chính sách cải cách dân chủ xã hội, mà cũng đe dọa nền tảng của ngay cả dân chủ hình thức.

Chúng ta có thể khái quát hóa từ Mỹ Latin sang thế giới kém phát triển như một tổng thể? Rõ ràng không, trong chừng mực liên quan đến các điều kiện cụ thể. Thế nhưng các lực cơ bản là giống nhau ngang địa cầu. Các nền kinh tế chính trị Phi châu, toàn thể, có vẻ dễ tổn thương hơn nhiều với các áp lực quốc tế, có những sự ủng hộ trong nước yếu hơn cho sự cai quản dân chủ, và có các nhà nước ít hiệu quả hơn Mỹ Latin. Các nước trong khối Soviet trước kia đương đầu với những sự biến đổi kinh tế cấp tiến hơn Mỹ Latin nhiều, trong khi các nhà nước của họ, đặc biệt ở Liên Xô trước kia, còn phải đạt được sự cố kết và sự hiệu quả cần thiết để định hình sự phát triển xã hội và kinh tế, hoàn toàn ngoài các ràng buộc được áp đặt bởi hệ thống quốc tế. Các cơ hội cho dân chủ hình thức có vẻ tốt hơn ở Trung Đông Âu và trong dài hạn thậm chí ở Nam và Đông Á. Nhưng các triển vọng của một sự làm sâu sắc sự tham gia chính sách dân chủ xã hội cả ở đó nữa cũng lệ thuộc vào cùng các nhân tố như ở nơi khác: cân bằng quyền lực trong xã hội dân sự, cấu trúc của nhà nước và các quan hệ nhà nước-xã hội, và tác động của chính trị thế giới và của nền kinh tế thế giới lên sự cân bằng quyền lực bên trong các nước.

Có chăng các lựa chọn chính sách thay thế mà cho phép đồng thời sự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của dân chủ hình thức thành các hình thức dân chủ tham gia hơn và dân chủ xã hội? Và những lựa chọn chính sách thay thế như vậy có một cơ hội để được thực hiện trong bối cảnh của hệ thống kinh tế và chính trị quốc tế? Trong bài báo này chúng tôi hầu như không thể đưa ra các câu trả lời dứt khoát cho các câu hỏi này. Tuy vậy, chúng tôi có thể đưa ra vài nhận xét dựa vào nghiên cứu đang diễn ra của chúng tôi về các cơ hội cho các lựa chọn chính sách dân chủ xã hội thay thế ở châu Âu và Mỹ Latin.36 Những thành công đã qua, những khó khăn hiện tại, và các triển vọng tương lai của cải cách dân chủ xã hội ở châu Âu có một số bài học cho Mỹ Latin. Thứ nhất, cải cách dân chủ xã hội có thể được hoàn thành trong bối cảnh của các rào cản thuế quan thấp, sự phụ thuộc cao vào thương mại, và chủ nghĩa bảo thủ tài khóa. Các nền dân chủ xã hội Âu châu đã thực sự phát đạt trên những điều kiện như vậy, tạo ra cả sự tăng trưởng lẫn sự bình đẳng trong thời gian ba thập kỷ của những thành tựu lớn nhất của họ tiếp sau Chiến tranh Thế giới II. Phái tả và lao động ở Mỹ Latin đã thành công trong việc theo đuổi các chính sách của họ về làm ngang bằng và bảo vệ các lợi ích của công nhân chỉ trong các nền kinh tế được bảo hộ, với thâm hụt tài khóa như một công cụ thường xuyên và, có lẽ, với cái giá của sự tăng trưởng.37 Thứ hai, trong nhiều nước Mỹ Latin thất nghiệp và việc làm bấp bênh trong khu vực phi chính thức góp phần nhiều hơn nhiều vào tính khắc nghiệt của vấn đề bất bình đẳng so với lương thấp trong khu vực chính thức. Thứ ba, các nước Mỹ Latin ở vị thế tốt hơn để cạnh tranh trên cơ sở chi phí lương thấp trong nền kinh tế quốc tế hiện thời so với các nước Âu châu, nhiều nước trong nền kinh tế thế giới, trước hết ở hâu Á và châu Phi, sẽ luôn luôn có khả năng đưa ra lương thấp hơn Mỹ Latin. Vả lại, mục tiêu của phát triển kinh tế cuối cùng là để tăng mức sống của nhân dân. Dựa vào một mô hình kinh tế trên lương thấp là hoàn toàn đối lập với mục tiêu này. Các nước Mỹ Latin phải tìm cách để xây dựng lại năng lực nhà nước nhằm để đầu tư vào các nguồn lực con người và như thế thúc đẩy công ăn việc làm và sự sản xuất có kỹ năng cao hơn, với lương cao hơn. Các mức cao hơn của việc làm và kỹ năng, đến lượt, lại tạo thuận lợi cho việc tổ chức các giai cấp dưới và có thể khởi động một vòng thiện (virtuous cycle) của sự huy động chính trị để ủng hộ các phong trào chính trị cải cách, củng cố nền dân chủ hình thức, và các chính sách dân chủ xã hội mà có thể cho phép các khu vực ngày càng lớn hơn của dân cư để tận dụng hiệu quả các quyền chính trị, dân sự, và xã hội của họ.

Evelyne Huber, Dietrich Rueschemeyer, và John D. Stephens

—–

CHÚ THÍCH

  1. Dietrich Rueschemeyer, Evelyne Huber Stephens. and John D. Stephens,

Capitalist Development and Democracy (Chicago: University of Chicago Press,

1992), p. 10. Sự thay đổi thứ tự mà trong đó tên của chúng tôi xuất hiện là hoàn toàn do sự thay đổi tên của một đồng tác giả của chúng tôi; thứ tự vẫn theo abc và không bày tỏ bất kể tuyên bố nào về những sự đóng góp tương đối của chúng tôi.

  1. Sự tồn tại của hệ thống chính trị mà không đạt được mức dân chủ hình thức đầy đủ đã dẫn đến sự gia tăng nhanh của cái Collier và Mahon gọi là các phạm trù xuyên tâm thứ yếu của dân chủ. Thí dụ, O’Donnell đã tạo ra khái niệm về dân chủ ủy thác (delegative democracy, lưu ý khác representative democracy, dân chủ đại diện) cho các hệ thống mà đặc biệt yếu trong chiều thứ ba nhưng cũng thiếu sót trong chiều thứ tư. David Collier and James E. Mahon, ‘‘Conceptual ‘Stretching’ Revisited,’’ American Political Science Review 87 (December 1993), pp. 845 – 55; Guillermo O’Donnell, ‘‘Delegative Democracy,’’ Journal of Democracy 5 (January 1994), pp. 55 – 69.
  2. Quan điểm của chúng tôi về dân chủ tham gia là quan điểm thuyết công cụ hay quá trình. Chúng tôi cho rằng nó có giá trị, không bởi vì tác động tâm lý học của nó lên các công dân tham gia (tuy nó có thể), mà đúng hơn bởi vì nó ngăn ngừa sự cai trị bởi các thiểu số có đặc quyền và khuyến khích sự đại diện ngang nhau của các lợi ích và các chính sách tái phân phối kinh tế và xã hội. Còn mức tham gia và những sự khác nhau về tỷ lệ tham gia ngang các tầng lớp xã hội là khác biệt về mặt giải tích, chúng có quan hệ theo lối kinh nghiệm; nơi các tỷ lệ tham gia là thấp, những sự khác nhau giữa các tầng lớp xã hội có khuynh hướng cao, với các nhóm xã hội kinh tế thấp hơn ít tham gia hơn.
  3. Theo thuật ngữ của Collier và Mahon, chúng ta đối xử với dân chủ tham gia và dân chủ xã hội như các phạm trù cổ điển thứ yếu mà trong đó chúng ta thêm các yếu tố xác định vào phạm trù chủ yếu của dân chủ hình thức.
  4. “Dân chủ xã hội” sẽ được dùng ở đây theo nghĩa này, như sự chỉ rõ các chính sách thúc đẩy hữu hiệu sự bình đẳng xã hội và kinh tế; từ này không ám chỉ cụ thể đến sự dàn xếp chính trị (Âu châu) mang cùng tên. Về một sự sử dụng tương tự, xem Luiz Carlos Bresser Pereira, Jose´ Maria Maravall, and Adam Przeworski, Economic Reforms in New Democracies (New York: Cambridge University Press, 1993).
  5. O’Donnell, ‘‘Delegative Democracy.’’
  6. Rueschemeyer, Stephens, and Stephens; về một tóm tắt, xem Evelyne Huber, Dietrich Rueschemeyer, and John D. Stephens, ‘‘The Impact of Economic Development on Democracy,’’ Journal of Economic Perspectives, 7 (1993), pp. 71 – 85.
  7. John D. Stephens, The Transition from Capitalism to Socialism (Urbana: Uni- versity of Illinois Press, 1979); Evelyne Huber Stephens and John D. Stephens, The Labor Movement, Political Power, and Workers’ Participation in Western Europe,’’ Political Power and Social Theory, 3 (1982); Walter Korpi, The Democratic Class Struggle (London: Routledge and Kegan Paul, 1983); Gøsta Esping-Andersen, Politics against Markets (Princeton: Princeton University Press, 1985). Korpi nhắc đến cách tiếp cận “các nguồn lực quyền lực.” Chúng tôi thêm chữ “giai cấp” để biểu thị cơ sở giải tích giai cấp của lý thuyết.
  8. Walter Korpi, ‘‘Power, Politics, and State Autonomy in the Development of Social Citizenship,’’ American Sociological Review 54 (1989), pp. 309 – 29; Gøsta Esping-Andersen, The Three Worlds of Welfare Capitalism (Princeton: Princeton University Press, 1990); Evelyne Huber, Charles Ragin, and John D. Stephens, ‘‘Social Democracy, Christian Democracy, Constitutional Struc- ture and the Welfare State,’’ American Journal of Sociology, 99 (1993), pp. 711 –49; Evelyne Huber and John D. Stephens, ‘‘Political Power and Gender in the Making of the Social Democratic Service State,’’ bài báo được chuẩn bị để trình bày tại các cuộc họp của American Political Science Association, San Francisco, September 1996; Evelyne Huber and John D. Stephens, ‘‘Political Parties and Public Pensions,’’ Acta Sociologica, 36 (1993), pp. 309 – 25.
  9. Thí dụ, xem David Cameron, ‘‘Social Democracy, Corporatism, Labour Quiescence, and Representation of Economic Interest in Advanced Capitalist Society,’’ trong John Goldthorpe, ed., Order and Conflict in Contemporary Capitalism (Oxford: Clarendon Press, 1984), pp. 143 – 78; Stephens and Stephens. ‘‘The Labor Movement’’; Douglas A. Hibbs, ‘‘Political Parties and Macro-economic Policy,’’ American Political Science Review 71 (1978).
  10. Peter Lange and Geoffrey Garrett, ‘‘The Politics of Growth,’’ Journal of Politics 47 (1985), pp. 792 – 827; Geoffrey Garrett and Peter Lange, ‘‘Political Responses to Interdependence,’’ International Organization 45 (1991), pp. 539 – 64.
  11. Thí dụ, xem Harry Eckstein, A Theory of Stable Democracy (Princeton: Center of International Studies, Princeton University, 1961); Sidney Verba, Norman Nie, and Jae-on Kim, Participation and Political Equality (New York: Cambridge University Press, 1978); Russell J. Dalton, Citizen Politics (Chatham: Chatham House, 1996).
  12. Hugh Heclo, Modern Social Politics in Britain and Sweden (New Haven: Yale University Press, 1974); Ann Orloff, The Politics of Pensions (Madison: University of Wisconsin Press, 1993); Theda Skocpol, Protecting Soldiers and Mothers (Cambridge: Harvard University Press, 1992); Harold Wilensky, The ‘‘New Corporatism,’’ Centralization. and the Welfare State (Beverly Hills: Sage, 1976).
  13. Peter Katzenstein, Small States in World Markets (Ithaca: Cornell University Press, 1985); Dani Rodrik, ‘‘International Trade and Big Government,’’ bài báo để được bao gồm trong Festschrift vinh danh Peter B. Kenen, được chủ biên bởi Benjamin J. Cohen, cho thấy rằng mối quan hệ dương giữa mở cửa thương mại và chi tiêu chính phủ cho giáo dục, bao cấp, an sinh xã hội và phúc lợi, và đầu tư công là đúng cho một mẫu lớn hơn các nước OECD.
  14. Evelyne Huber and John D. Stephens, ‘‘Intemationalization and the Social Democratic Model,’’ Comparative Political Studies (forthcoming).
  15. Xem, thí dụ, tiểu luận trong Scott Mainwaring, Guillermo O’Donnell, and J. Samuel Valenzuela, eds., Issues in Democratic Consolidation (Notre Dame: University of Notre Dame Press, 1992).
  16. Thí dụ, Philippe Schmitter, ‘‘Consolidation and Interest Systems,’’ trong Larry Diamond and Gary Marks, eds., Comparative Perspectives on Democracy 35 (March – June 1992).
  17. Thí dụ, J. Samuel Valenzuela, ‘‘Democratic Consolidation in Post-Tran- sitional Settings,’’ in Mainwaring, O’Donnell, and Valenzuela, eds.
  18. Guillermo O’Donnell, ‘‘Illusions about Consolidation,’’ Journal of Democracy 7 (April 1996), pp. 34 – 51.
  19. O’Donnell, ‘‘Delegative Democracy.’’
  20. O’Donnell, ‘‘Illusions.’’
  21. Guillermo O’Donnell and Philippe Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democracies (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1986); Alfred C. Stepan, Rethinking Military Politics (Princeton: Princeton University Press, 1988); Scott Mainwaring, ‘‘Transitions to Democracy and Democratic Consolidation,’’ trong Mainwaring, O’Donnell, and Valenzuela, eds.; Stephan Haggard and Robert Kaufman, The Political Economy of Democratic Transitions (Princeton: Princeton University Press, 1995).
  22. Các cuộc phản kháng Chile năm 1983 chứng tỏ rằng, nơi sự thống nhất thắng thế bên trong chế độ độc đoán và sự hoảng loạn chính trị không cung cấp một sự lãnh đạo chặt chẽ cho sự thay đổi chế độ, thì ngay cả các cuộc phản kháng dân chúng rất mạnh đã vẫn không thành công. Manuel Antonio Garreton, “Popular Mobilization and the Military Regime in Chile,” trong Susan Eckstein, ed., Power and Popular Protest (Berkeley: University of California Press, 1989). Giữa những chuyển đổi thành công, mức độ mà các nhà cai trị độc đoán PR (quảng bá cho) ảnh hưởng sâu sắc của họ lên hệ thống chính trị đang nổi lên đã thay đổi một cách đáng kể. Xem Terry Karl, ‘‘Dilemmas of Democratization in Latin America.’’ Comparative Politics 23 (October 1990), pp. 1 – 22; và Terry Karl and Philippe C. Schmitter, ‘‘Modes of Transition in Latin America, Southern and Eastern Europe,’’ International Social Science Journal 128 (May 1991), pp. 269 – 84.
  23. Xem, thí dụ, Jane Jaquette, The Women’s Movement in Latin America, 2nd ed. (Boulder: Westview Press, 1994).
  24. Rueschemeyer, Stephens, and Stephens, Capitalist Development and Democ- racy, pp. 62 – 63, 282 – 83.
  25. Ở đây sự khác nhau giữa các pha chuyển đổi và củng cố (sống sót) là rõ ràng. Sự cân bằng của áp lực thấp và cảm nhận đe dọa cực thấp sẽ thuận lợi, không phải cho sự thay đổi chế độ, mà cho sự sống sót dân chủ.
  26. O’Donnell and Schmitter, Transitions; Adam Przeworski. ‘‘The Games of Transition,’’ trong Mainwaring, O’Donnell, and Valenzuela, eds.
  27. Về một nghiên cứu toàn diện về các ảnh hưởng quốc tế lên dân chủ hóa, kể cả các nhân tố kinh tế, đế quốc, ý thức hệ, và domino, xem Paul W. Drake, ‘‘The International Causes of Democratization, 1947 – 1990,’’ trong Paul W. Drake and Matthew McCubbins, eds., The Origins of Liberty (forthcoming).
  28. Verba, Nye, and Kim, Participation.
  29. Tất nhiên, Jamaica không phải là một nền dân chủ mới, nhưng nó đã trải qua cùng động học và cùng hậu quả trong chừng mực liên quan đến điểm này.
  30. Jonathan Fox, ‘‘The Difficult Transition from Clientelism to Citizenship,’’ World Politics 46 (January 1994), pp. 151 – 84.
  31. Các cải cách neoliberal đã làm yếu các nghiệp đoàn chủ yếu bằng công ăn việc làm bị co lại trong các khu vực được tổ chức tốt về mặt truyền thống, chủ yếu là khu vực chế tác và khu vực công.
  32. Mexico (vẫn) không phải là một nền dân chủ mới, nhưng các bài học từ các chính sách kinh tế của nó là đáng học.
  33. Alvaro Diaz, ‘‘Restructuring and the New Working Classes in Chile,’’ Discussion Paper 47 (Geneva: United Nations Research Institute for Social Development, 1993); John Sheahan, Conflict and Change in Mexican Economic Strategy (La Jolla: University of California, San Diego, Center for U.S.-Mexican Studies, 1991).
  34. Diaz, ‘‘Restructuring’’; ECLAC, Social Panorama of Latin America 1994 (Santiago: United Nations Economic Commission for Latin America and the Caribbean, 1994).
  35. Evelyne Huber, ‘‘Options for Social Policy in Latin America,’’ trong Gosta Esping-Andersen, ed., Welfare States in Transition (London: Sage, 1996); Huber and Stephens, ‘‘Internationalization.’’
  36. Cf. Bresser Pereira, Maravall, and Przeworski, Economic Reforms.

Biên tập: Lisa Anderson

Dịch: Nguyễn Quang A

Thuộc tủ sách SOS2

VRNs đăng với phép của dịch giả

Read more

Bộ trưởng Y tế sẽ tiếp ‘nhận phản ánh qua facebook’  

VRNs (03.03.2015) – Sài Gòn – Tờ Lao Động Sức khỏe Đời sống cho biết, lần đầu tiên một Bộ trưởng cho biết sẽ “tiếp nhận những phản ảnh của quần chúng nhân dân” qua fanpage facebook.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã đưa fanpage vào hoạt động tại địa chỉ https://www.facebook.com/botruongboyte.vn

Bài báo cho biết, đây là fanpage duy nhất và chính thức của Bộ trưởng Y tế, đồng thời do chính bà Tiến trực tiếp quản lý và điều hành.

Theo đó, “mọi thông tin không đến từ trang Facebook này đều không chính xác và không đáng tin cậy.”

15030300

Cũng theo bài báo, fanpage được lập nên để tạo “kênh kết nối hữu hiệu, tức thời giữa cá nhân Bộ trưởng nói riêng, Bộ Y tế nói chung với quần chúng nhân dân. Với thông điệp ‘Lắng nghe & thấu hiểu’, fanpage hoạt động với 2 mục đích: cập nhật thông tin trong lĩnh vực y tế, tiếp nhận phản ảnh của quần chúng nhân dân.”

Tuy nhiên, bài báo không đề cập chi tiết việc những phản ảnh của quần chúng sẽ được giải quyết như thế nào.

Hồi tháng 7/2013, trên facebook xuất hiện một fanpage đề nghị ‘Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến hãy từ chức’, vì hàng loạt vụ bê bối của ngành. Fanpage này cho đến nay có trên 100 nghìn lượt like.

Hồi tháng 4/2014, bà Kim Tiến khẳng định bà “không nghĩ đến việc từ chức” trước những bê bối của ngành, vì tập trung khắc phục dịch bệnh thì quan trọng hơn.

Đức Thiện, VRNs tổng hợp

Read more

ĐHY Phêrô Nguyễn Văn Nhơn dâng lễ tạ ơn tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn  

VRNs (02.03.2015) – Sài Gòn – Hai tuần sau khi lãnh nhận mũ hồng y tại Vatican hôm 14/2, vị tân Hồng y của Việt Nam Phêrô Nguyễn Văn Nhơn hôm Chúa nhật 1/3 đã dâng thánh lễ tạ ơn tại nhà thờ Chính tòa Sài Gòn vào lúc 18 giờ 30.

Trở lại nhà thờ Chính tòa Sài Gòn sau 24 năm, kể từ thánh lễ tạ ơn lúc vừa được tấn phong giám mục năm 1991, Đức Hồng y Phêrô (ĐHY) cho biết, “điều đó nói lên sự gắn bó của tôi đối với Tổng Giáo phận Sài Gòn.”

Ngài còn mời gọi các linh mục, tu sĩ, giáo dân thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn, và đặc biệt là Đức Tổng Phaolô cầu nguyện cho sứ vụ mới của ngài.

Theo trang mạng giáo phận, ĐHY Phêrô trước đó cũng dâng thánh lễ tạ ơn tại Hà Nội hôm 26/2; tại tu viện Phaolô Thành Chartres Sài Gòn và tại Đại chủng viện Thánh Giuse hôm 28/2; và tại Đan viện Cát Minh hôm 1/3.

150130002 150130001

Được làm người Công giáo Việt Nam là một ‘may mắn’

Trong bài giảng hôm 1/3, Hồng y Phêrô kêu gọi cộng đoàn tín hữu tạ ơn Chúa “vì đã cho chúng ta là người Công giáo Việt Nam, đã cho chúng ta sống trên một quê hương đầy thử thách, đầy thánh giá nhưng đưa đến sự sống vinh quang.”

Ngài cũng xin cho các tín hữu “cảm nghiệm được những [khó khăn] chúng ta đang sống là hồng ân góp phần giúp chúng ta loan báo Đức Kitô tử nạn và phục sinh. Đức Kitô sẵn sàng yêu thương, tha thứ và hiến thân cho nhân loại.”

Vị Hồng y thứ Sáu của Việt Nam cũng cho rằng, được sống trên mảnh đất này là một “may mắn”. Ngài khẳng định, “đứng trên mọi phương diện, chúng ta thua hết, nhưng trên phương diện đức tin, thập giá và ơn gọi chúng ta là những người may mắn nhất.”

Khi được trên 100 Hồng y áp má chúc mừng trong công nghị hồng y vừa qua, Hồng y Phêrô nói tiếp, “hầu hết họ đều chúc mừng tôi, vì quê hương đất nước Giáo hội Việt Nam kiên cường, tử đạo, chứng tá, đức tin sống động, nhiều ơn thiên triệu, truyền giáo.”

Vì thế, ĐHY Phêrô nhận định, các Hồng y ấy “tiếc vì không phải là người Công giáo Việt Nam.”

“Các ngài tiếc vì không được sống trong đất nước có nhiều thử thách, đau khổ.”nhưng đồng thời cũng là đất nước có đức tin vững vàng, vẫn tiếp tục trung thành với Chúa và Hội thánh, tuyên xưng và loan báo Đức Kitô tử nạn, phục sinh.”

Dựa trên bài Tin Mừng thuật việc Chúa Giêsu biến hình để củng cố đức tin cho các môn đệ trước cuộc Thương khó, ĐHY cũng khuyến khích các tín hữu hãy “ngước mắt về trời”, “chiêm ngưỡng tương lai Nước Trời” để “có thể đặt chân bước trên mặt đất” vì nếu chỉ “mải mê nhìn vào cuộc sống thì chúng ta sẽ dễ dàng thất vọng.”

Hồi đầu tháng 1/2015, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, TGM giáo phận Hà Nội được ĐTC Phanxicô tuyên bố thăng lên hồng y trong tổng số 20 vị Hồng y mới đến từ nhiều quốc gia.

ĐHY Phêrô nhận định với BBC, việc bổ nhiệm Hồng Y mới ở Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và nhiều nước châu Á “nói lên sự quan tâm của Đức Thánh Cha đối với Giáo hội ở Á châu, những cộng đoàn công giáo nhỏ bé, sự quan tâm đến những người nghèo, cũng như nói lên tính phổ quát của Hội Thánh.”

Đức Thiện, VRNs

Read more

Chuyển đổi sang dân chủ (7): Bộ máy quan liêu và sự củng cố dân chủ, các bài học từ Đông Âu

VRNs (02.03.2015) – Hà Nội – Trong phần lớn văn liệu về chuyển đổi sang dân chủ, nhà nước và năng lực của nó để thực hiện các chức năng cơ bản không có một vai trò quan trọng. Cả trong pha chuyển đổi lẫn trong pha củng cố của nền dân chủ nhà nước có vẻ không có nhiều để đóng góp.

Đây là một sự bỏ sót lạ lùng bởi vì vị trí mà nhà nước hóa ra phải chiếm trong phân tích chính trị của các loại hệ thống chính trị khác nhau. Ngoài “sự tác động lẫn nhau của các lực lượng” ra, cái có ý nghĩa, như Dankwart Rustow đã lưu ý, là những gì các nhà chính trị thực sự làm, các thỏa thuận đạt được, và chúng được truyền đạt thế nào cho toàn thể công dân. Chính trị, nói cách khác, cùng tồn tại với năng lực để thực hiện các mục tiêu.1

Sự thiếu vắng các năng lực nhà nước trong phân tích các chuyển đổi dân chủ chí ít có lẽ là do vai trò hơn hẳn của thị trường tự do, ý thức hệ bài nhà nước đã có trên khắp thế giới. Cái được nghĩ là có ích cho các xã hội dân chủ đã đơn giản được đổi chỗ cho các xã hội mà mới đây đã nổi lên từ chủ nghĩa độc đoán và đang tìm cách để nghĩ ra các thủ tục dân chủ và xây dựng các định chế dân chủ.

Chương này thảo luận quan hệ giữa dân chủ và các định chế quan liêu. Nó đi theo lý lẽ được nêu ra bởi các nhà lý luận cổ điển cho rằng một mối liên kết mật thiết, hay sự phụ thuộc, tồn tại giữa bộ máy quan liêu và nền dân chủ. Trong khi mà ý thức hệ bài nhà nước mạnh hiện thời cho rằng bộ máy quan liêu là đối lập với dân chủ, các nhà lý luận cổ điển đã xác nhận điều ngược lại: không nền dân chủ nào có thể thực sự neo lại hay được củng cố trừ phi nhà nước có sẵn một tổ chức quan liêu đáng tin cậy, thành thạo để tùy ý sử dụng.

 150226001

Bộ máy quan liêu và Nền dân chủ

Tất cả các nhà nước hiện đại đều có một ngành dân chính được đào tạo, ít nhiều chuyên nghiệp, được tổ chức theo các quy tắc thứ bậc và hoạt động, theo thuật ngữ của Weber, theo “các quy tắc có thể tính được và mà không để ý đến những con người.”2  Như Weber diễn đạt:

“Bộ máy quan liêu được ‘làm mất tính người’ càng hoàn hảo, thì nó thành công càng đầy đủ trong việc loại bỏ khỏi công việc chính thức tình thương, sự hận thù và tất cả các yếu tố thuần túy cá nhân, phi lý, và xúc cảm mà tuột ra khỏi sự tính toán. Đây là bản chất đặc thù của bộ máy quan liêu và được đánh giá như đức hạnh đặc biệt của nó.”3

Sự hăng hái bài nhà nước gán ít đức hạnh cho bộ máy quan liêu. Định chế này được xem là đối lập với dân chủ, hoặc không thích đáng hay bất chính cho một xã hội tự do và một nền kinh tế hiệu quả. Theo những lời nổi tiếng của Ronald Reagan, nó không là “phần của giải pháp, mà là vấn đề.” Dẫu cho các xã hội dân chủ và đang dân chủ hóa có cảm tình với hoặc có theo lập trường ý thức hệ này, không có bằng chứng kinh nghiệm nào để ủng hộ quan điểm rằng việc cắt cụt công cụ của nhà nước thúc đẩy sự nghiệp dân chủ hay khích lệ sự phát triển kinh tế.

Weber đã cho rằng bộ máy quan liêu là công cụ không thể thiếu được trong các xã hội hiện đại và đang hiện đại hóa, và rằng không nhà nước nào có thể hoạt động mà không có một công cụ quan liêu hữu hiệu. Schumpeter còn đi xa hơn và đã nhận diện bộ máy quan liêu như không thể thiếu được cho nền dân chủ. Ông đã liệt kê sự tồn tại của một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp như một trong năm điều kiện cần cho một trật tự dân chủ. Bộ máy quan liêu, ông đã viết, “không phải là một trở ngại cho nền dân chủ mà là một phần bổ sung không thể tránh khỏi cho nó. Tương tự, nó là một phần bổ sung không thể tránh khỏi cho sự phát triển kinh tế hiện đại.”4

Schumpeter cảnh cáo, tuy vậy, rằng “sự nhận ra tính không thể tránh khỏi của sự quan liêu hóa toàn diện không giải quyết các vấn đề nảy sinh từ nó.”5 Tuy nhiên, không có sự trốn thoát sự thực rằng không xã hội dân chủ nào có thể tự duy trì mà không có một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp. “Chính phủ dân chủ trong xã hội công nghiệp hiện đại phải có khả năng để chỉ huy, nhằm mọi mục đích, lĩnh vực hoạt động công bao gồm . . . dịch vụ của một bộ máy quan liêu được đào tạo kỹ có địa vị và truyền thống tốt, được phú cho một ý thức mạnh về trách nhiệm và một esprit de corps (tinh thần đồng đội) mạnh không kém.”6

Lời buộc tội rằng chính phủ thường không có khả năng đáp ứng các đòi hỏi của xã hội và rằng nó vận hành không hiệu quả đã trở thành một lời quen thuộc. Schumpeter đã cho rằng một bộ máy quan liêu được đào tạo tốt “là câu trả lời cho tranh luận về chính phủ bởi các nhà không chuyên. Về tiềm năng, nó là câu trả lời duy nhất cho câu hỏi rất hay được nghe trong nước này: chính trị dân chủ đã tự chứng tỏ không có khả năng để tạo ra chính quyền thành phố tử tế, làm sao chúng ta có thể kỳ vọng quốc gia tiến bộ nếu mọi thứ . . . được trao cho nó?”7

Kỷ nguyên chúng ta không phải là kỷ nguyên đầu tiên mà bộ máy quan liêu bị tấn công vì sự bất tài và sự bóp nghẹt tự do. Là có thể – thậm chí đáng ao ước – để chấp nhận lý lẽ của Schumpeter và Weber về tầm quan trọng của một bộ máy quan liêu hiệu quả cho một trật tự dân chủ mà không chấp nhận quan điểm của Schumpeter rằng bộ máy quan liêu “phải là một quyền lực theo quyền của chính nó.”8 Tuy nhiên, các bộ máy quan liêu đã thường hoạt động như các lực của hiện đại hóa hơn là các trở ngại cho quá trình. Hầu hết văn liệu về chuyển đổi bỏ tổ chức nhà nước sang một bên. Vài trong số văn liệu này coi sự sẵn có của các cấu trúc nhà nước thích đáng là cho trước. Các chuyển đổi có thể tiếp diễn trong các thời kỳ dài, cho dù luôn luôn có hy vọng về sự lặp lại “phép màu Tây Ban Nha.”9

Chí ít một nền dân chủ được củng cố cần đến một nhà nước có khả năng thực hiện các chức năng chính của nó (bảo vệ công dân, thu thuế, cung cấp các dịch vụ) theo một cách có trật tự, có thể dự đoán được, và hợp pháp. Để làm việc này, nhà nước phải có một công cụ có năng lực để tùy ý sử dụng. Juan Linz và Alfred Stepan là hai trong các học giả đầu tiên về chuyển đổi dân chủ đã chỉ ra tầm quan trọng của một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp trong sự củng cố của một nền dân chủ. Họ coi một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp cũng cốt yếu cho sự củng cố dân chủ như một xã hội dân sự độc lập, một xã hội chính trị tự trị, và nền pháp trị. Họ nhận xét rằng bất luận người ta xem vai trò của nhà nước như thế nào, một bộ máy quan liêu hiện đại, được chuyên nghiệp hóa là không thể thiếu được cho sự củng cố dân chủ.

Để bảo vệ các quyền của các công dân của mình, và để cung cấp một số dịch vụ cơ bản khác mà các công dân đòi hỏi, chính phủ dân chủ cần có khả năng để thực hiện một cách hiệu quả yêu sách của nó đối với độc quyền sử dụng hợp pháp bạo lực trong lãnh thổ. Cho dù giả như nhà nước không có chức năng nào khác hơn việc này, nó phải đánh thuế một cách cưỡng bách để có tiền chi trả cho cảnh sát, các thẩm phán, và các dịch vụ cơ bản. Nền dân chủ hiện đại, vì thế, cần năng lực hữu hiệu để chỉ huy, điều tiết, và bòn rút. Cho việc này nó cần một nhà nước hoạt động và một bộ máy quan liêu nhà nước được xem là có thể dùng được bởi các chính phủ dân chủ mới.10

Linz và Stepan về thực chất đã cập nhật Schumpeter hoặc, đúng hơn, đã khiến cho Schumpeter thích hợp với quá trình chuyển đổi và củng cố dân chủ. Khi quá trình này đã đang tiến hành và hình thành trong dăm ba năm trong một số xã hội ở đông Âu, sự thiếu vắng một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp ngày càng trở nên hiển nhiên.

Mức độ mà theo đó các công cụ quan liêu của các nhà nước đang dân chủ hóa cần để giống với một mô hình Weberian nghiêm ngặt có thể là một câu hỏi bỏ ngỏ. Nhưng việc các công cụ như vậy tạo thành bộ phận chủ yếu của một quyền lực nhà nước mà là không thể thiếu được cho sự duy trì các quyền tự do là không thể tranh cãi, cho dù không được nhận ra đầy đủ.

Một yếu tố thiết yếu trong sự củng cố dân chủ là một bộ máy quan liêu mà bắt đầu hoạt động theo một cách khách quan (không mang tính người), theo các quy tắc và các quy định được biết, và trong đó các quan chức có khả năng (hay bắt buộc phải) tách các lợi ích chính trị và cá nhân riêng của họ ra khỏi các chức vụ mà họ nắm giữ. Như Jacek Kochanowicz nhận xét, “một bộ máy quan liêu đóng không chỉ vai trò kỹ thuật, mà cả một vai trò tượng trưng nữa. Giống lá cờ, quốc ca, một bộ quân phục, hay một lâu đài tổng thống, nó là một vật tượng trưng mà qua đó nhà nước – và quốc gia – được cảm nhận. Các công dân mà phải giao thiệp với các quan chức bất tài hay tham nhũng sẽ không tôn trọng nhà nước, và các mối liên kết gắn cộng đồng quốc gia lại với nhau sẽ bị long ra.” Kochanowicz tiếp tục nhận xét rằng việc tạo ra một bộ máy quan liêu mới, hiệu quả hơn, tự trị hơn “đã có thể là một cách để tăng cường tính chính đáng của nhà nước.”11

Quyền lực nhà nước cần đến các năng lực nhà nước mà đảm bảo tính chính đáng nhà nước. Tất cả những thứ này chỉ là một công cụ để bảo vệ các quyền cá nhân. Như Stephen Holmes lưu ý trong một tiểu luận sâu sắc về sự yếu kém của nhà nước Nga,

Nước Nga ngày nay trở nên hoàn toàn đau khổ rằng các giá trị tự do bị đe dọa bởi sự bất lực nhà nước đúng hoàn toàn như bởi quyền lực chuyên chế. Sự phi nhà nước hóa không phải là giải pháp thật, nó là vấn đề. Vì không có một quyền lực công hoạt động tốt thuộc loại nào đó thì sẽ không có sự ngăn chặn cái hại chung, không có an toàn cá nhân . . . . Các quyền được ghi trong Hiến pháp Brezhnev 1977 đã không được bảo vệ bởi vì một bộ máy nhà nước đàn áp. Các quyền được gán cho Hiến pháp Yeltsin 1993 đã không được thực thi bởi vì chính phủ thiếu nguồn lực và ý định.12

Thí dụ Nga mà Holmes phân tích nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phú cho một nhà nước đang dân chủ hóa các năng lực bởi vì “quyền lực làm tăng quyền tự do.” Như ông diễn đạt, “Nếu nhà nước có độc quyền về bạo lực, thì sự độc quyền phải được trao chỉ cho các viên chức mà công chúng có thể buộc họ có trách nhiệm giải trình về việc sử dụng nó. Chủ nghĩa khai phóng đòi hỏi rằng những người không có súng phải có khả năng sai bảo những người có súng phải làm gì.”13

Một chế độ đang dân chủ hóa chẳng bao giờ bắt đầu với một công cụ mới. Phần lớn những gì chế độ mới muốn sửa, đề xuất, và cải cách phụ thuộc vào công cụ sẵn có để nó tùy ý sử dụng, mà, trong mọi trường hợp, là bộ máy quan liêu nhà nước. Bộ máy quan liêu đó trước kia đã hoạt động dưới những hướng dẫn, đạo đức, và ý thức hệ khác. Để tới đỉnh của cấu trúc quan liêu đã hàm ý đi theo một học thuyết chính trị và phục vụ chỉ một đảng chi phối xã hội và đời sống chính trị.

Sự tuyển người và cất nhắc đã gắn nhiều đến sự trung thành với đảng hơn là bất cứ sự thành thạo kỹ thuật nào, mà, tất nhiên là đối lập với khái niệm Weberian về bộ máy quan liêu. Chắc chắn, sự trung thành chính trị giữa các công chức cao nhất là quan trọng trong hầu như mọi xã hội dân chủ. Quả thực, ngày nay có nguy cơ để làm hại tính độc lập và tính chuyên nghiệp của bộ máy quan liêu của Pháp, Anh Quốc, Tây Ban Nha, và Hoa Kỳ. Việc đã có những ảnh hưởng chính trị mạnh lên hầu hết các bộ máy quan liêu chuyên nghiệp đã được biết từ lâu.14 Nhưng trong trường hợp của các nhà nước độc đảng xưa của Liên Xô và đông Âu, tính chuyên nghiệp đã hầu như luôn luôn là thứ yếu đối với việc tuyển dụng dựa vào sự trung thành với đảng.

Các Bộ máy quan liêu và các Chế độ Mới

Điều gì xảy ra với công cụ cai quản chính khi một chế độ bị lật đổ? Bộ máy quan liêu có bị thanh lọc, hay chế độ mới cai quản với những người đã phục vụ chế độ cũ?

Nhiều chế độ mới, dù dân chủ hay độc tài, đã phải đương đầu với vấn đề quen thuộc này từ giây phút chế độ cũ bị lật đổ. Chính Marx đã là người kêu gọi đập tan bộ máy quan liêu – công cụ đó của gia cấp tư sản – một khi lực lượng cách mạng lên nắm quyền. Lenin đã tán thành quan điểm này nhưng đã phải đợi nhiều năm trước khi thanh lọc bộ máy quan liêu Nga khỏi những vết tích cuối cùng của các thành phần tư sản của nó. Việc ông cần một bộ máy nhà nước để thực hiện những cải cách trước mắt đã lớn hơn sự cần thanh lọc bộ máy này khi lên nắm quyền.

Để lấy một thí dụ rất khác, khi Clement Attlee trở thành thủ tướng của chính phủ Lao động đầu tiên sau chiến tranh của Anh, ông đã bị cảnh cáo lặp đi lặp lại rằng ông sẽ không có khả năng cai quản với cái cơ bản đã là một bộ máy quan liêu bảo thủ đã quen phục vụ các chính phủ bảo thủ từ lâu, một “bộ máy quan liêu đại diện,” mà đã đại diện không phải cho xã hội mà cho elite cai trị. Bất chấp bị thúc giục để thay các công chức cao cấp, tuy vậy, Attlee đã không thử một cuộc thanh lọc. Và thực vậy rồi sau đó ông tự cho rằng đã nhận được sự phục vụ trung thành từ ngành dân chính cấp cao.

Trong những thời gian gần đây các chính phủ Pháp khác nhau đã phải đối mặt với vấn đề về sự trung thành công chức. Chế độ Vichy đã thấy một mảnh lớn của bộ máy quan liêu nhanh chóng thích nghi với chế độ Pétanist, trong khi các lực lượng Giải phóng đã phải trừng phạt một số những người đã phục vụ Vichy. Nhưng ngay cả trong các năm sau chiến tranh, đã không có cuộc thanh lọc lớn nào của bộ máy quan liêu. Khi chính phủ cánh tả lên nắm quyền ở Pháp năm 1981, sau hai mươi ba năm cai trị không dứt của cánh hữu, nó đã lên kế hoạch để tiến hành những sự thay đổi nhân sựu ồ ạt trong bộ máy quan liêu. Sau những chấn động ban đầu và một số thay đổi nhân sự ở trên đỉnh của kim tự tháp công chức, tuy vậy, tất cả những cải cách lớn mà đã đe dọa cấu trúc, nhân sự, và quy trình cất nhắc đã bị bỏ rơi.

Mặc dù các chính phủ cách mạng có kế hoạch phá đổ những cấu trúc quan liêu hiện tồn và thay thế số nhân viên có vẻ thù địch bằng elite mới theo đảng, sự thay đổi triệt để hiếm khi xảy ra và nhịp độ thay đổi hầu như luôn luôn chậm. Đa phần, trường hợp của đông Âu phù hợp hơn nhiều với hình mẫu này so với hình mẫu của Trung Quốc sau khi các lực lượng cộng sản lên nắm quyền năm 1949, khi những sự trả thù được giải quyết nhanh chóng, tàn bạo, và không quan tâm đến các hậu quả trước mắt.

Vì sao trong các trường hợp thay đổi từ từ và không cách mạng khi đó các kế hoạch để thực hiện sự thay đổi hàng loạt đã bị bỏ xó nhanh đến vậy? Phần lớn, câu trả lời đã liên quan đến (1) sự sợ gây thêm bất ổn; (2) sự cần thiết để cam đoan với xã hội một lần nữa về những sự liên tục nào đó; và (3) sự thiếu một phản-elite (counter-elite).

Trong một khảo sát về sự thay đổi chế độ và tác động của nó lên bộ máy quan liêu ở Pháp, Đức, và Ấn Độ, Graham Wilson đã nhận xét rằng rất nhanh thực tế bắt đầu trở nên rõ ràng đối với các nhà lãnh đạo chính trị mới và “đã đi đến sự thích nghi.”15 Như Wilson lưu ý, hoặc một bộ máy quan liêu có thể là một người khởi xướng và người thực hiện chính sách, hoặc nó có thể chỉ là người thực hiện, như xảy ra dưới các chế độ mà đưa ra các chỉ dẫn chính sách rõ ràng. Nhìn chung, như Wilson nhận xét, các nhà cai trị mới đi tới thỏa thuận với bộ máy quan liêu:

Thí dụ Pháp gợi ý rõ hơn rằng các phản elite có thể bị buộc ngày nay nhiều hơn trong quá khứ để đi đến thỏa thuận với bộ máy quan liêu. Quy mô tăng lên và sự phức tạp của chính phủ đã khiến cho còn ít có vẻ hợp lý hơn so với quá khứ để nhổ tận rễ một bộ máy quan liêu và trồng một bộ máy mới. Chính phủ càng lớn và phức tạp, thì sự hấp dẫn để duy trì nguyên bộ máy của nó càng lớn, như ở Ấn Độ.16

Cải cách và sự Ổn định

Theo sau một sự thay đổi cách mạng của các chế độ (hay các chính phủ, như trong trường hợp của các nhà xã hội lên nắm quyền ở Tây Ban Nha năm 1982 hay Đảng Xã hội Pháp nắm quyền năm 1981), các nhà cai trị mới đối mặt với hai nhiệm vụ, thường mâu thuẫn nhau. Thứ nhất, họ cần phân biệt mình ngay lập tức với những kẻ tiền nhiệm bằng tiến hành các bước triệt để nhằm thỏa mãn các mong ước của những người ủng hộ họ đối với những cải cách được theo đuổi và được hứa từ lâu khi đảng còn trong đối lập. Thứ hai, họ cần tối thiểu hóa mức độ bất ổn để tránh làm nản lòng những người vận hành các định chế kinh tế, xã hội, và hành chính chủ chốt. Sự bất ổn chính trị nghiêm trọng cũng dẫn đến sự tháo chạy vốn – đến một sự giảm sâu sắc về đầu tư – và cuối cùng nó tạo ra một tập hợp mới của các vấn đề mà kết thúc với sự đòi hỏi thêm hành động quyết liệt về phần chính phủ mới. Các hành động quyết liệt mới đến lượt chỉ làm tăng thêm sự bất ổn phổ biến, như đã xảy ra ở Pháp, trong 1981 – 82, khi “áp lực đảng mạnh . . . đã bắt buộc chính phủ tiếp tục chiến dịch đổi mới của nó đứng trước sự ủy quyền suy giảm và các nguồn lực teo đi, như thế tạo ra sự bất mãn ngày càng tăng và các kết quả phản tác dụng.”17

Trong trường hợp của đông Âu, vì đã không có bất cứ cuộc bầu cử chính trị có ý nghĩa nào trước sự sụp đổ của các chế độ cộng sản, đã không có những cải cách hay những sự ủy thác rõ ràng nào cho cải cách mà đã có thể dùng như các chỉ dẫn cho các chính phủ mới. Theo bất cứ thước đo nào, tuy vậy, sự thay đổi cách mạng đã tạo ra cái mà một số nhà phân tích xem như “các cửa sổ chính sách,” tức là, một cơ hội cho những đổi mới chính sách lớn.18 Các ưu tiên nào đã được các chính phủ mới đặt ra?

Tổng quát, các ưu tiên này đã được xác định một phần bởi sự bác bỏ trật tự cũ và một phần bởi bối cảnh quốc tế mà trong đó sự chuyển đổi từ chủ nghĩa cộng sản sang dân chủ đã xảy ra. Hầu như không cần nhấn mạnh rằng “sự tháo dỡ thành công trật tự cũ không đảm bảo một kết cục dân chủ.”19 Hơn nữa, không rõ đối với các nhà nghiên cứu chuyển đổi cái gì là cái đảm bảo một kết cục như vậy.

Những ưu tiên của các chế độ mới ở Ba Lan, Hungary, và Cộng hòa Czech nói chung được theo đuổi để tháo dỡ bộ máy nhà nước tập trung. Giữa các chính sách cá biệt được chủ trương đã là tư nhân hóa và phi tập trung hóa. Do đó, chính sách quan trọng nhất trong lĩnh vực kinh tế đã là xu hướng rời xa kế hoạch hóa và quy định tập trung hướng về các nền kinh tế định hướng thị trường. Trong lĩnh vực hành chính, chính sách quan trọng nhất đã, không phải là cơ cấu lại và tiếp sinh khí mới cho nền hành chính tập trung, mà đúng hơn là sự trao quyền cho các đơn vị địa phương. Các chính sách này phản ánh một sự bác bỏ trật tự cũ được đặc trưng trên hết bởi quyền lực quan liêu tập trung mà đã phục vụ không cho dân chủ cũng chẳng cho hiệu quả. Như Lena Kolarska-Bobinska lưu ý về Ba Lan, có một sự “thiếu bất cứ quan niệm nào về vai trò mà nhà nước phải đóng trong đời sống xã hội và kinh tế bên cạnh một lời kêu gọi rất chung cho việc giảm vai trò của nó.”20 Tuy vậy, có sự thừa nhận rằng nhà nước có trách nhiệm, theo lời Leszek Balcerowitz, “xây dựng một hệ thống kinh tế mới.”21

Một sự giảm vai trò của nhà nước, chính sách được theo đuổi ở các nước trung và đông Âu vì các lý do đã được giải thích rồi, cũng đã có hậu quả của việc không trao cho cải cách nhà nước sự chú ý nó xứng đáng. Như Peter Drucker nhận xét, “việc thu nhỏ, downsizing” không đồng nghĩa với việc cải cách hay “sáng chế lại” chính phủ.

Bây giờ đã trở nên rõ rằng một nước phát triển không thể mở rộng chính phủ to, như (cái gọi là) những người khai phóng muốn, cũng chẳng thể bỏ nó và quay lại sự ngây thơ thế kỷ thứ mười chín, như (cái gọi là) những người bảo thủ muốn. Chính phủ mà chúng ta cần sẽ phải vượt quá cả hai nhóm. Siêu nhà nước thế kỷ thứ hai mươi bị phá sản, về mặt đạo đức cũng như về mặt tài chính. Nó đã không làm được. Nhưng kẻ kế vị nó không thể là “chính phủ nhỏ.” Có quá nhiều việc, ở trong nước và quốc tế. Chúng ta cần chính phủ hiệu quả – và đó là cái các cử tri trong tất cả các nước phát triển thực sự hò hét đòi.22

Chính phủ hiệu quả đòi hỏi sự phát triển một bộ máy quan liêu giỏi, và bước đầu tiên hướng tới việc đạt mục tiêu này là thừa nhận sự cần thiết để huấn luyện các công chức chuyên nghiệp.

Phá hủy Nhà nước: Tư nhân hóa và Trao quyền

Việc làm giản quyền lực nhà nước, được xem là bộ phận khăng khít của chuyển đổi dân chủ, được hoàn tất thông qua hai biện pháp: tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước và trao quyền lực nhà nước cho các nhà chức trách địa phương. Cả hai xu hướng này không phải là không quen thuộc với các nước tây Âu, nơi từ đầu các năm 1980 phản ứng lại chủ nghĩa nhà nước đã dẫn đến việc tư nhân hóa các doanh nghiệp công nghiệp và tài chính của nhà nước23 và đến phân quyền hành chính.

Tư nhân hóa các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước đã là yếu tố chính của các cuộc cải cách kinh tế ở đông Âu. Quy mô và các phương thức của quá trình tư nhân hóa đã không phải giống nhau ngang qua đông Âu. Nhưng bất chấp các phương pháp được chấp nhận, vẫn rõ rằng chính phủ của khối Soviet trước kia đã tìm cách chấm dứt nền kinh tế chủ huy thông qua việc bán các doanh nghiệp nhà nước.24

Tư nhân hóa quả thực đã loại khỏi bảng lương một số đáng kể nhân viên nhà nước và tổ chức nhà nước có trách nhiệm vận hành các ngành kinh tế. Nhưng trong mỗi nước một cấu trúc mới đã phải được tạo ra để quản lý quá trình tư nhân hóa. Trong các trường hợp Czech và Slovak, quá trình đã thuộc về Bộ Tư nhân hóa, Bộ Tài chính Liên bang, và các Quỹ Liên bang và cộng hòa về Tài sản Quốc gia. Ở Ba Lan, một Bộ về Biến đổi Quyền Sở hữu đã được tạo ra và được giao việc chọn lọc và trông nom việc chuyển quyền sở hữu. Hungary, mà đã có rồi một nền kinh tế ít bị kiểm soát hơn trước sự lật đổ Đảng Cộng sản, đã không lập ra một Bộ Tư nhân hóa và đã có khả năng duy trì một quá trình tư nhân hóa được phân tán tương đối mà đã phân trách nhiệm khởi đầu quá trình cho các giám đốc doanh nghiệp. Tuy nhiên, có một Cơ Quan Tài sản Nhà nước (SPA), được thành lập năm 1990, trông coi tất cả việc tư nhân hóa và do một bộ trưởng không bộ đứng đầu.25 Như ở Tây Âu, quá trình tư nhân hóa ở đông Âu cũng đã đưa đến việc lập ra một cơ quan quan liêu mới hoặc sự giám sát các cơ quan hiện hành. Cũng có thể, như ở một số trường hợp Tây Âu, rằng tư nhân hóa sẽ loại bỏ các cơ quan và nhân sự mà đã vận hành các doanh nghiệp nhà nước, nhưng sẽ đòi hỏi việc lập ra các cơ quan điều tiết. Việc này đặc biệt có thể xảy ra với các doanh nghiệp mà vẫn độc quyền ở mức độ lớn. Trong trường hợp tư nhân hóa [các hãng] gas, nước, và viễn thông ở Anh Quốc, chính phủ Margaret Thatcher đã phải nhờ đến việc lập ra các cơ quan điều tiết thêm cho các hãng được tư nhân hóa.26

Nếu sự chuyển đổi sang dân chủ ngụ ý một vai trò bị giảm cho nhà nước trong nền kinh tế, nó thậm chí còn ngụ ý nhiều hơn một vai trò bị giảm đi cho nhà nước trong hành chính và hoạch định chính sách. Điều này đã là một tín điều, đến mức cải cách bộ máy quan liêu nhà nước đã phần lớn đồng nghĩa với vai trò giảm đi của nó. Nhà nước giảm vai trò của nó bằng việc giao các chức năng cho các đơn vị địa phương. Một nghiên cứu về cải cách hành chính công ở Hungary, đã hạn chế hầu như hoàn toàn ở việc trao quyền, thậm chí đã đi xa tới mức để cảnh báo về cái nó gọi là “sự làm tương phản nhân tạo, . . . mà theo đó các cơ quan hành chính nhà nước trung ương là các cơ quan xấu, nhất thiết phục vụ những sự can thiệp nhà nước trong khi các cơ quan hành chính tự quản địa phương và vùng có tư cách là hành chính công dân chủ, do đó toàn bộ phạm vi của các nhiệm vụ và quyền lực có thể được giao cho chúng.”27

Tại Cộng hòa Czech và Cộng hòa Slovak tái cấu trúc hành chính công phần lớn cũng đã có nghĩa là làm thay đổi mối quan hệ giữa trung tâm và ngoại vi. Như thế, Cộng hòa Czech đã hủy bỏ mức vùng, mức hành chính trung gian giữa chính quyền trung ương và mức quận, mà trước đó đã có bảy vùng. Có ba vùng như vậy ở Slovakia, và các vùng này cũng bị hủy bỏ. Bây giờ có bảy mươi mốt quận ở Cộng hòa Czech và ba mươi sáu quận ở Slovakia. Sự khác biệt duy nhất giữa các cấu trúc hành chính Czech và Slovak là nước sau có một mức dưới quận.28 Tại Ba Lan việc tổ chức lại cấu trúc hành chính đã dẫn đến việc thừa nhận sự tự trị lớn hơn của các chính quyền địa phương. “Sự lệ thuộc hai lần của chính quyền địa phương vào bộ máy quan liêu đảng Cộng sản và vào những chỉ thị của chính phủ trung ương đã bị phá vỡ.”29  Thực ra, luật chính quyền địa phương hạn chế mạnh mẽ quyền lực trung ương đối với các nhà chức trách địa phương.

Ở Ba Lan, Hungary, và các Cộng hòa Czech và Slovak, các cải cách về tổ chức bộ máy nhà nước đã chủ yếu liên quan đến thay đổi cán cân giữa trung tâm và ngoại vi. Báo cáo của Hesse và Goetz kết luận rằng “nói tóm lại. . . các chính quyền địa phương và chính quyền ở Ba Lan đã trải qua những biến động lớn trong hai năm qua. Tổ chức lãnh thổ về cai quản địa phương phần lớn đã không thay đổi, nhưng đã có những cải cách chức năng, chính trị hành chính và tài chính sâu rộng mà đã bắt đầu biến đổi vai trò của mức địa phương trong sự quản trị của Ba Lan.”30 Nhưng không chỉ các cấu trúc hành chính mà đã thay đổi trong trao các quyền và chức năng trung ương [cho địa phương]. Bị che dấu ở phía sau là một số ảnh hưởng chính trị sâu sắc mà có thể đe dọa chính cấu trúc của một nhà nước khởi xướng các cải cách như vậy.

Việc trao quyền lực nhà nước cho các đơn vị địa phương trong những bối cảnh cá biệt dẫn đến sự tăng lên của những tình cảm vùng mạnh mẽ, như đã xuất hiện ở tây Âu và nam Âu. Hesse và Goetz quan sát thấy rằng ở Cộng hòa Czech, “từ lâu đã ủng hộ [sic] sự thành lập lại dạng nào đó của chính quyền vùng cho các vùng đất lịch sử của Bohemia, Moravia, và Silesia. . . .Nếu các vùng đó được thành lập lại, rất có thể là chúng sẽ có những đặc tính của các thực thể tự quản, tức là sẽ không là phần của chính quyền nhà nước.”31

Pha hậu cộng sản của sự chuyển đổi sang dân chủ đã bị ảnh hưởng bởi ý thức hệ của chế độ cũ và bởi bối cảnh toàn cầu mà trong đó các sự chuyển đổi đã xảy ra. Sự phù hợp của cả hai đã dẫn dắt theo cùng hướng: làm lỏng ảnh hưởng của nhà nước lên nền kinh tế và xã hội. Việc thứ nhất đã ngụ ý chính sách tư nhân hóa; cái thứ hai đã dẫn đến sự trao quyền của chính quyền trung ương [cho địa phương]. Cả hai chính sách đã nhận được sự vỗ tay ầm ĩ, dù chính sách tư nhân hóa đã nhận được sự chú ý lớn hơn hẳn. Chỉ các phương thức của sự chuyển sang một nền kinh tế thị trường đã được tranh luận (“liệu pháp sốc” đối lại “thuyết tuần tiến”). Chắc chắn, các chế độ của năm 1989 ở đông Âu đã không hệt như các chế độ của các năm 1950 hay 1960, mà giải thích vì sao những người cộng sản của các năm 1980 đã có khả năng để trở lại các vị trí quyền lực ở Ba Lan, Hungary, Rumani, và thậm chí ở Cộng hòa Czech và Cộng hòa Slovak. Như Przeworski đã lưu ý:

Vào các năm bảy mươi, sự đàn áp đã bớt đi khi giới lãnh đạo cộng sản đã trở nên được tư sản hóa, nó đã không còn tập trung kỷ luật tự giác cần đến để nghiền nát mọi sự bất đồng ý kiến. Các quan chức đảng đã không còn khả năng để họp suốt các đêm, để mặc các bộ đồng phục giai cấp lao động, để tuần hành và hô các khẩu hiệu, để kiêng sự tiêu dùng phô trương. Cái được phát triển đã là “chủ nghĩa cộng sản xúp thịt bò,” “chủ nghĩa Kadar,” “chủ nghĩa Brezhev,” và một thỏa ước xã hội ngầm mà trong đó các elite đưa ra triển vọng phúc lợi vật chất để đánh đổi lấy sự im lặng. Và một lời hứa ngầm của thỏa ước này là xã hội chủ nghĩa đã không còn là một mô hình của một tương lai mới, mà là một cái gì đó khác kém phát triển . . . Chúng ta [đã không hiểu] hệ thống cộng sản đã trở nên yếu đến thế nào.32

Dù hệ thống cộng sản đã trở nên yếu, nó đã vẫn liên đới với nhà nước đảng quan liêu. Sự tổ chức của nó trong pha chuyển đổi đã phải liên đới với “việc phá hủy” một bộ máy nhà nước mạnh. Thế mà, nếu nhiệm vụ dối mặt với trung và đông Âu, như János Simon tin, là chẳng khác cái Karl Polányi đã gọi là một sự “Biến đổi Vĩ đại,” thì không nhất thiết suy ra rằng “việc phá hủy” năng lực của nhà nước là giải pháp lý tưởng. Simon cho rằng quá trình chuyển đổi ở trung và đông Âu về thực chất là một quá trình phức tạp hơn nó đã là ở Mỹ Latin và nam Âu, bởi vì trong tập hợp trước của các nước toàn bộ mô hình về tái sản xuất xã hội cần được biến đổi. Nhiệm vụ trước các nước này “không chỉ là dân chủ hóa một chế độ chính trị độc tài (như đã đúng trong các chuyển đổi khác), mà cũng là việc thực hiện một sự biến đổi hoàn toàn các hệ thống kinh tế và chính trị của họ.”33

“Biến đổi Vĩ đại” phải được tiến hành thế nào? Các cơ chế nào phải được thực hiện để đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ và việc thực thi hiệu quả các nhiệm vụ thu (bòn rút) mà tất cả các nhà nước đều thực hiện? Nhà nước phải đoạn tuyệt thế nào với các tập quán của nó về phục vụ một ý thức hệ, hay một giai cấp hay một phong trào chính trị? Nói tóm lại, nhà nước phải phát triển thế nào một bộ máy quan liêu ổn định, chuyên nghiệp tuân theo pháp trị và có khả năng áp dụng luật.

Một trong những khía cạnh nổi bật nhất của quá trình chuyển đổi ở trung và đông Âu là sự thiếu vắng của sự nhận ra, chí ít trong pha thiết yếu của chuyển đổi, rằng một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp là cốt yếu cho cả sự củng cố của quá trình chuyển đổi lẫn cho các nhu cầu phát triển kinh tế. Như Frydman và Rapaczynski lưu ý, chuyển các tài sản nhà nước co khu vực tư nhân không xóa bỏ sự cần đến một nhà nước trung lập. Đúng hơn, làm cho nó càng cần thiết hơn. “Tư nhân hóa,” các tác giả này nhận xét,

là một sự chuyển các nguồn lực có giá trị từ sự kiểm soát của một số bên (các công chức nhà nước) sang cho các bên khác, và một trong những tác động căn bản của sự chuyển này là để ban quyền cho các chủ sở hữu và biến họ thành hùng mạnh hơn, không chỉ theo ý nghĩa kinh tế, mà cả theo ý nghĩa chính trị nữa. Việc này đến lượt lại có nghĩa rằng các chủ sở hữu mới chắc có khả năng để lợi dụng chính trị các nguồn lực mới của họ như họ sử dụng chúng theo cách kinh tế, thông thường hơn.34

Cái cần phải được đề phòng, nói cách khác, là “các tác động của các nguồn lực được tư nhân hóa mà đã có thể tạo ra các hình thức mới và thành công hơn bao giờ hết của ứng xử rent-seeking (tìm kiếm đặc lợi).”35

Xây dựng một Bộ máy Quan liêu Chuyên nghiệp

 “Các thói quen của bộ máy quan liêu cộng sản đi ngược với các nguyên lý Weberian như pháp trị, chế độ nhân tài, hay tính chuyên nghiệp,”36 Jacek Kochanowicz nhận xét. Nhưng các chế độ hậu cộng sản thì sao? Họ đã có thiên hướng hơn về việc tạo ra một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp vượt quá sự trung thành chính trị?

Bộ máy quan liêu vẫn là một định chế thiết yếu bởi vì nó cả là một định chế cần thiết trong một nền dân chủ cũng như là công cụ không thể thiếu của nhà nước. Kochanowicz tóm tắt vai trò mà nhà nước cần thực hiện và các chức năng quan trọng mà một bộ máy quan liêu nhà nước thực hiện. Ông nhận xét rằng nền kinh tế thị trường đúng là cần nhiều đến một “nhà nước mạnh” hệt như một nền kinh tế phi thị trường. Nhà nước là cần thiết để đưa ra các tiêu chuẩn và các quy định mà theo đó xã hội có thể vận hành. Thực tế, nhà nước có một vai trò hiện đại hóa để đóng.37 Do đó, năng lực nhà nước được phục sinh và được định hướng lại là cốt yếu cho thành công của cả các cuộc cải cách theo hướng thị trường lẫn sự củng cố của nền dân chủ.”38

Đáng nêu câu hỏi về cái gì đã có thể xảy ra ở tây Âu giả như nhà nước đã không đóng vai của người xúi giục, định hướng, lập kế hoạch trong những năm tiếp sau Chiến tranh Thế giới II. Mô tả chính xác nhất và tốt nhất về các chính sách kinh tế được tiến hành bởi các chính phủ Âu châu trong các năm đó vẫn là mô tả của Andrew Shonfield.39 Shonfield đã cho thấy rằng các kết quả kinh tế ngoạn mục đã đạt được ở tây Âu tiếp sau sự tàn phá của chiến tranh phần lớn đã là do vai trò của nhà nước và bộ máy quan liêu của nó. Thông qua sự kết hợp của một nền kinh tế thị trường và “lập kế hoạch chỉ dẫn,” các nền kinh tế tây Âu đã có thể đạt sự toàn dụng lao động và năng suất tăng lên.

Các nhà nước đã có khả năng làm việc này bởi vì (1) chúng đã nắm lấy sự kiểm soát một cơ chế kinh tế then chốt, khu vực tín dụng, thông qua các Bộ Tài chính và các Kho bạc; và (2) họ đã có sẵn để tùy ý sử dụng các cấu trúc quan liêu chuyên nghiệp được vận hành bởi các quan chức thành thạo, được đào tạo tốt. Cả hai nhân tố đã cho phép việc định hướng các khoản đầu tư mà đã được kỳ vọng để thỏa mãn các mục tiêu sản xuất.

Các nhà nước ở tây Âu đã được mong đợi để đóng một vai trò định hướng đầu tư. Ủy ban Kế hoạch hóa Pháp và cách mà theo đó nhà nước đã tự bảo đảm một lực lượng nòng cốt các quan chức có trình độ cao đã mau chóng được bắt chước ở Italy, Anh quốc, và Đức. Sự tồn tại của một bộ máy quan liêu giỏi, thậm chí tinh hoa đã là một phần bổ sung không thể thiếu được cho tăng trưởng kinh tế và cho dân chủ, dù là sự ổn định công chức đã thường được yêu cầu để bù cho sự bất ổn chính trị.

Các nước trung và đông Âu, tất nhiên, không thể được kỳ vọng để đi theo con đường đã trải qua của các láng giềng của họ ở tây Âu. Trước hết, thế giới mà trong đó họ thấy mình đang vật lộn để phát triển về mặt kinh tế và để củng cố các định chế kinh tế là vô cùng khác với thế giới đã tồn tại trong năm 1945. Nó là một thế giới cạnh tranh hơn nhiều, và là một thế giới mà trong đó số các đối thủ cạnh tranh đã tăng lên đáng kể.

Thứ hai, sự thay đổi ý thức hệ bên trong những trường hợp thành công về tăng trưởng kinh tế ngày nay loại trừ một vai trò quan trọng của nhà nước. Thuật ngữ “kế hoạch hóa chỉ dẫn” đã ngụ ý một mô hình mà đưa ra một sự thay thế khả dĩ cho sự phân bổ thị trường không bị kiểm soát và cho kế hoạch hóa Soviet, và đã trao một vai trò quan trọng cho nhà nước. Thời nay, một mô hình, hay một thuật ngữ như vậy, sẽ đã gặp phải sự lăng nhục. Không ngạc nhiên, như Kochanowicz lưu ý, trong tất cả các chức năng nhà nước, dù là sửa chữa sự tàn phá môi trường do các chế độ cộng sản gây ra, hay đầu tư vào vốn con người, hay quản lý nợ quốc gia, [thì chức năng] “gây tranh cãi nhất liên quan đến chính sách công nghiệp – các ngành công nghiệp có cần một nhà nước thúc đẩy phát triển nhằm cạnh tranh ở cấp quốc tế không.”40 Đằng sau sự bàn cãi này là một mâu thuẫn ý thức hệ mà nghi ngờ vai trò của nhà nước, một mâu thuẫn mà đã vắng trong các nước tây Âu sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai.

Thứ ba, các nước đông Âu đã bị bỏ mặc phải tự xoay xở ở mức độ lớn hơn các láng giềng tây Âu của họ trong giai đoạn sau chiến tranh rất nhiều. Họ đã không được lợi từ một kế hoạch Marshall. Họ cũng đã chẳng có một nhu cầu để bảo đảm sự tồn tại của một cấu trúc quan liêu chuyên nghiệp để thực hiện một kế hoạch như vậy. Ngoài ra, các tổ chức quốc tế hiện có thời nay để giúp các xã hội Đông Âu phát triển các nền kinh tế của họ – IMF, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Âu châu (BERD), liên minh Châu Âu – có xu hướng áp đặt các chính sách kinh tế.

Đây là những nhân tố hết sức mạnh giải thích ở mức độ rất lớn những khó khăn đối mặt với các xã hội Đông Âu trong sự tìm kiếm tăng trưởng kinh tế của họ và nền dân chủ. Điều ngạc nhiên, tuy vậy, là các nước này đã không chọn để giải quyết các vấn đề mà bên trong thẩm quyền của họ để giải quyết. Việc phát triển một cấu trúc quan liêu trung ương dựa trên các nguyên lý Weberian và được quản lý bởi các quan chức chuyên nghiệp không đòi hỏi những thương lượng và thỏa hiệp nào với các tổ chức quốc tế. Nó cho phép nhà nước tránh những cạm bẫy của tư nhân hóa mà dẫn đến quyền lực quá mức của “những kẻ kiếm đặc lợi” mới, sẽ làm giản tham nhũng trong quá trình ra quyết định, và cuối cùng sẽ củng cố tính chính đáng của nhà nước. Bất chấp những lợi thế và khả năng bao la này, không nhà nước nào ở trung và đông Âu đã chấp nhận sự ưu tiên cho nhiệm vụ này.

Cải cách các Bộ máy quan liêu Nhà nước

Cải cách các bộ máy quan liêu nhà nước ở trung và đông Âu đã không ở vị trí cao trong danh mục ưu tiên của bất cứ nước nào trong khu vực. Thế nhưng, như bây giờ đã được thừa nhận một cách đủ, năng lực cần thiết của các nhà nước này là không kém phần quan trọng trong thời đại ngày nay của “việc đẩy lùi” nhà nước hơn nó đã là trong quá khứ. Thực ra, đã có thể cho rằng giữa sự phi tập trung hóa nhà nước và các ràng buộc toàn cầu mà các nước đông Âu lệ thuộc vào, quyền lực nhà nước đang bị ăn mòn. Nhưng nó bị xói mòn thêm trong sự thiếu vắng của một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp.

Cải cách bộ máy quan liêu phần lớn đã bị giới hạn, như chúng tôi đã lưu ý, ở trao quyền. Quả thực, sự trao quyền và cải cách bộ máy quan liêu đã hầu như trở thành đồng nghĩa. Jan Kubik lưu ý, chẳng hạn, rằng “Ba Lan đã tiến hành cải cách hành chính toàn diện nhất ở đông Âu xa đến thế. Như một kết quả các cộng đồng địa phương đã chịu gánh nặng/được ban phúc với một số đặc quyền và trách nhiệm hành chính.41 Những cải cách sâu rộng như vậy đã được tiến hành ở Hungary và các Cộng hòa Czech và Slovak. Nhưng Kubik nhận ra rằng những cải cách tham vọng như vậy của bản thân các đơn vị chính trị-hành chính có một tác động đến các năng lực của nhà nước. “Tôi cũng cho,” ông nói, “rằng việc phi tập trung hóa mà đã dẫn đến sự tách các lĩnh vực trung ương và địa phương ra, đã hoạt động chống lại các tham vọng chính trị của các substantivist (nhà thực chất luận.)”42

Việc làm thay đổi cán cân quyền lực giữa trung tâm và ngoại vi né nhu cầu cải cách bộ máy quan liêu. Tầm quan trọng của một cải cách như vậy được nói rõ một cách cô đọng trong tuyên bố sứ mạng của Sigma (Ủng hộ sự Cải thiện về Quản trị và Quản lý của các Nước trung và đông Âu) của OECD:

Các chính phủ của các nước trung và đông Âu ở trong một tình trạng chưa từng có. Họ phải xây dựng các hệ thống dân chủ về cai quản và biến đổi sang các nền kinh tế định hướng thị trường cùng một lúc. Nhưng họ phải làm việc này mà không có các elite chính trị/hành chính có kinh nghiệm, mà không có các cấu trúc chín chắn để điều đình và tập hợp các lợi ích; và mà không có các khung khổ xã hội,,, pháp lý, và hiến pháp thích hợp.43

“Ý tưởng về công vụ như được hiểu ở các nước phát triển là thiếu” ở đông Âu, một báo cáo OECD khác mới đây nói rõ. Công vụ đơn giản “kém được kính trọng.” Ngoài ra, khu vực tư nhân đang phát triển chào mời các lợi thế tiền tài nhiều hơn, cho nên công vụ được dành cho những người không có khả năng “kiếm tiền” trong khu vực tư nhân. Điều này đúng hiện nay ở Hungary, Ba Lan, Rumani, và Cộng hòa Czech. Báo cáo OECD tiếp tục lưu ý rằng “khái niệm về công vụ chuyên nghiệp và không chính trị có được sự chấp nhận chậm quanh một vùng nơi hàng thập kỷ chính trị đã thâm nhập mọi quyết định khắp xã hội, không chỉ trong các lĩnh vực hành chính.”44

Không sự cố gắng nghiêm túc nào được tiến hành đến mức đó hoặc để tạo ra những sự thay đổi hàng loạt nhân sự công chức hay để chuẩn bị một elite công chức mới để quản lý bộ máy công chức. Là hiếm, như đã được lưu ý ở trước, đối với một chế độ mới để tiến hành thay đổi hàng loạt về nhân sự công chức.

“Nói chung,” Graham Wilson lưu ý, “trong nhà nước hiện đại sự lên nắm quyền của một elite đối lập không dẫn đến những sự thay đổi triệt để ngay lập tức trong bộ máy quan liêu. Elite đối lập có thể loại bỏ một thiểu số quan trọng của bộ máy quan liêu, nhưng phần còn lại lưu lại và cung cấp dịch vụ thỏa đáng nếu không nhiệt tình. Báo cáo về các quan chức mà bị nguy hiểm đến sự nghiệp hay mạng sống của họ do phản kháng một chế độ mới là không cao.”45 Nhưng không chỉ sự phản kháng tiềm tàng của các quan chức của ancien re´gime (chế độ cũ) là cái bị lâm nguy. Chính là sự sẵn lòng của chế độ mới để duy trì những người đã phục vụ chế độ cũ. Vì sao điều này lại thế ở đông Âu?

Thứ nhất, bản chất bất bạo động của các cuộc cách mạng ở đông Âu đã quy định rằng phải giữ sự trả thù ở mức tối thiểu. Việc các chế độ từ chối quy trách nhiệm giải trình elite của các chế độ cộng sản đã được mở rộng sang bộ máy quan liêu.

Thứ hai, chẳng ở nước đông Âu nào đã có một elite đối lập sẵn sàng nắm dây cương quyền lực. Những người chịu trách nhiệm nhất về đấu tranh với chế độ cũ, các nhà bất đồng chính kiến, đã vô cùng có ảnh hưởng đến việc hạ bệ chủ nghĩa cộng sản. Nhưng họ đã kém chuẩn bị để nắm phương tiện điều khiển nhà nước. Quả thực, đáng kinh ngạc để thấy họ ít có tác dụng đến thế nào trong thế giới mới mà họ đã làm nhiều đến vậy để mở đường cho. Timothy Garton Ash giải thích nó theo cách này:

Với sự mau lẹ đáng chú ý, giới trí thức đã bị phân mảnh thành các nghề tách biệt, như ở phương Tây: các nhà báo, các chủ báo, các học giả, các diễn viên, không nhắc đến những người mà đã trở thành các quan chức, luật sư, nhà ngoại giao. Các môi trường đã bị mờ dần, “các giới bạn bè” đã bị tản mát hay đã mất ý nghĩa đặc biệt của chúng. Những người mà đã vẫn trong các nghề “trí thức” thuần túy – trước hết, các học giả – đã thấy mình bị nghèo túng. Hơn nữa, chính các doanh nhân và các nhà khởi nghiệp mới là các anh hùng tạo tiếng nói của thời này. Như thế, từ việc có một tầm quan trọng không bình thường trước 1989, các trí thức độc lập đã rơi thẳng xuống sự không quan trọng bất bình thường.46

Các nhà bất đồng chính kiến đã luôn luôn có một tính nước đôi tự nhiên về việc nắm quyền, một phần, không nghi ngờ gì, bởi vì họ đã không thể đi theo “đạo lý trách nhiệm” của Weber và phần khác bởi vì “quán cà phê” và “các giới bạn bè” là có lợi cho việc đánh thức công chúng đối với những sự lộng hành của một chế độ tàn nhẫn hơn là cho việc quản lý một xã hội mà trong đó sự hiểu biết “kỹ thuật” – luật, kinh tế học, các kỹ năng quản lý – được đánh giá cao.47

Đã được cho rằng những sự thanh lọc hàng loạt đã không cần thiết ở các nước như Ba Lan và Hungary, nơi chế độ cộng sản trong mọi trường hợp đã trải qua những thay đổi lớn. Trong các nước này “một sự thay thế tăng thêm của các elite đã xảy ra rồi trong các giai đoạn hấp hối của các chế độ cũ.”48 Klaus von Beyme phân biệt giữa mô hình “sụp đổ chế độ” và mô hình “xói mòn quyền lực.” Trong mô hình trước, một chính quyền gồm những người già mà đã khước từ làm mới mình bằng hợp nhất các nhà hoạt động đảng trẻ hơn đã dẫn đến sự sụp đổ của chế độ. Điều này đã đúng ở Đông Đức, Tiệp Khắc, và Rumani. Trong trường hợp sau, như ở Ba Lan và Hungary, đã có một sự đổi mới từ từ của các elite cộng sản trong các năm 1980, nhưng ngay cả ở đây tính lưu động đã hạn chế đến mức những người ở bên dưới các cấp bậc chóp bu của bộ máy quan liêu đã không có mối e sợ nào về sự đổi phe khi những người cộng sản bị phế truất.49

Không trong nước nào ở trung và đông Âu, với sự ngoại lệ của Cộng hòa Dân chủ Đức, GDR, mà đã có những sự thay đổi hàng loạt về nhân sự công chức. Quả thực, trừ ở trên đỉnh, những sự thay đổi về cấu trúc và nhân sự công chức đã được giữ ở mức tối thiểu. Vì thế Graham Wilson kết thúc số đặc biệt của tạp chí Governance dành riêng cho chính vấn đề này: “Chúng ta có thể mong đợi trong những năm tới để thấy liệu sự kỳ vọng rằng trong các nhà nước hiện đại nhu cầu cho bộ máy quan liêu có trội hơn sự chán ghét cách cư xử quá khứ của các nhà quan liêu không, hay liệu những thay đổi quyết liệt về nhân sự công chức có xảy ra không; cho đến bây giờ, đã có ít trường hợp thay đổi nhân sự triệt để.”50 Elite chính trị đã trải qua một sự đổi mới lớn hơn rất nhiều so với elite công chức, và điều này đúng trong hầu hết các nước trong vùng. Ở Hungary, chẳng hạn, hơn 95 phần trăm của những người trong cơ quan lập pháp 1990 đã là các thành viên lần đầu. “Nhiều người mới bên trong đã là những người bên ngoài trong thời đại cộng sản, hầu hết trong số họ đã đơn giản là các non-player (người không là đấu thủ).”51 Sự giải thích cho tính tương đối ổn định của các elite công chức và sự đổi mới của các elite chính trị phải được tìm thấy trong sự sẵn có của những người thay thế.

Sự tiếp cận đến một sự nghiệp chính trị là tương đối đơn giản trong các xã hội mà đột ngột trải nghiệm một sự bùng nổ của các đảng chính trị. Số đảng cạnh tranh trong các cuộc bầu cử của các năm 1991 và 1992 đã thay đổi từ mười một ở Albania đến bốn mươi lăm ở Hungary, sáu mươi bảy ở Ba Lan, và bảy mươi tư ở Rumani.52 Đã chẳng cần phải có kỹ năng đặc biệt nào, và những gì cần có thể thu (học) được khi làm việc. Công việc cũng tương đối không hạn chế. Để là một công chức thì vô cùng khác: nó đòi hỏi các kỹ năng và một sự chịu đựng cao đối với thủ tục, tình trạng ẩn danh, và sự lệ thuộc. Trong khi nhiều người đã đang tụ tập để làm chính trị, ít người đã tìm cách để gia nhập bộ máy quan liêu.

Nói tóm lại, các chế độ chắc chắn không có thể làm xáo trộn các cấu trúc duy nhất mà họ có thể sử dụng như các công cụ. Chẳng hề chắc chắn rằng các nhà lãnh đạo chính trị mà lật đổ các chế độ có sự kiên nhẫn cho quá trình cai quản (mặc dù các trường hợp của Walesa và Yeltsin có thể gợi ý điều ngược lại). Nhưng trong tất cả các trường hợp, các nhà lãnh đạo mới phải dựa ở mức độ lớn vào những người mà đã phục vụ chế độ trước. Tuy nhiên câu hỏi do Kolarska-Bobinska nêu ra vẫn hợp lệ: “các cấu trúc quan liêu cũ có thể thực hiện sự thay đổi trong trật tự xã hội đến mức cần thiết để dẫn đến một hệ thống mà là kết quả của các cuộc thương lượng giữa các lợi ích và các lực lượng xã hội khác nhau?” Bà nhận xét rằng “đã không có thay đổi thực chất nào về nhân sự trong hành chính nhà nước tại các mức thấp hơn bởi vì một sự thiếu chuyên gia và các nhà chuyên nghiệp. Bao nhiêu người, và trong các chức vụ gì, phải được thay thế nếu bộ máy quan liêu được gây hứng khởi với một tinh thần mới?”53

Trường hợp Cộng hòa Dân chủ Đức

Trong các nước được cai quản bởi Đảng Cộng sản, nhiều thành viên của nomenklatura (đội ngũ cán bộ cốt cán) cũ hoặc đã bắt đầu một sự cải đạo trong các năm trước cái chết của các chế độ cộng sản hoặc đã thích nghi với các chế độ mới. Nhưng trong tất cả các nước đó, như trong tất cả các tình huống hậu cách mạng, đã tồn tại một “khoảng trống elite” chính trị.54

Trong hầu hết trường hợp khoảng trống này được lấp đầy bởi một sự kết hợp của một mức độ luân chuyển elite và nomenklatura cũ (được biến đổi hoặc được kết nạp vào). Việc này không ngụ ý rằng sự đối xử tương đối tử tế với elite cũ không đặt những vấn đề chính trị và đạo đức, như trường hợp của Luật Tẩy uế ở Cộng hòa Czech cho thấy. Luật này cấm các quan chức cấp cao trước đây của Đảng Cộng sản không được giữ các chức vụ chính quyền trong một giai đoạn năm năm. Sự áp dụng luật này – dù để sa thải người đang giữ chức vụ hay để từ chối tuyển dụng người có trình độ – nói chung được thừa nhận là có vấn đề.55

Vaclav Havel đã tuyên bố rằng đã có thể hòa giải chính trị và đạo đức và tất cả cái người ta cần đã là “tài xử trí, các năng khiếu thích hợp, và thị hiếu tốt.” Thực ra, ông đã nói rằng ông đã khám phá ra “rằng ở đây thị hiếu tốt là có ích hơn một bằng cấp về khoa học chính trị.” Ngay sau khi ông thốt ra những lời này “số phận đã biến tôi thành trò cười. Nó đã trừng phạt tôi vì sự tự tin của tôi bằng cách đặt tôi vào một nan đề khó vô cùng.” Nan đề này đã là Luật Tẩy uế, mà nhiều người đã coi là một luật “sai lầm về đạo đức” được thông qua bởi một “quốc hội được bầu một cách dân chủ.”56  Havel đã quyết định ký dự luật và sau đó đã yêu cầu quốc hội sửa nó.

Thế khó xử của Havel đã là một nan đề đạo đức: luật đã không đảm bảo đủ các quyền dân sự của những người bị tác động. Nhưng đã có mặt thực dụng, đó là đã chắc làm cho luật khó áp dụng: nhu cầu về sự thành thạo, tương đối dù có lẽ, đã có nghĩa trên thực tế rằng khoảng trống elite đã không thể được lấp đầy bởi một elite mới sẵn có để dùng ngay.

Trường hợp duy nhất nơi elite cũ bị loại bỏ được thấy ở GDR, nhưng đây cũng là trường hợp duy nhất nơi một elite thay thế đã sẵn có ngay lập tức, Hơn nữa, như Klaus von Beyme lưu ý, “trong tất cả các nước đông Âu hiện nay trong chuyển đổi, chỉ Đông Đức không cần thay đổi các hệ thống chính trị và kinh tế của nó cùng lúc.”57  Tuy nhiên, Đông Đức, giống các nhà nước Đông Âu khác, đã trải qua một cuộc cách mạng, một cuộc mà đã có nghĩa là một nhà nước mới và các định chế mới. Trong quá trình này các nền kinh tế và hầu hết các chức năng công phải tiếp tục hoạt động, mà là vì sao không sự thanh lọc hàng loạt nào của các bộ máy quan liêu xảy ra. Điều này cũng đúng trong pha sớm hơn của chuyển đổi ở GDR.

GDR đã bước vào một pha hoàn toàn khác khi sự tái thống nhất với Tây Đức xảy ra. Đã không chỉ là sự tái thống nhất đã hòa tan GDR. Chính sự thực của việc thống nhất đã cho các nhà ra quyết định một cơ hội thêm và độc nhất: thuyên chuyển elite. Cụm từ này nhắc đến một sự triển khai rộng lớn các quan chức miền tây rút từ chính phủ Bonn, từ các chính phủ Bang miền tây, từ các đô thị tự trị miền tây và các cơ quan và định chế miền tây được chuyên môn hóa sang các cấu trúc hành chính mới của các chế độ miền đông.58

Koing cho thấy trong nghiên cứu của ông về sự thay thế nomenklatura đông Đức cũ rằng từ lúc bắt đầu quá trình thống nhất, hàng trăm công chức từ miền Tây đã được đưa sang Berlin theo kiểu con thoi (lúc sang lúc về) để giữ cho bộ máy hành chính vận hành. Rồi sau đó, với sự thuyên chuyển các công chức từ miền Tây sang miền Đông, mà là một quá trình tạm thời đã trở thành lâu dài. Bởi thế, như Koing kết luận, “Có thể nói chắc chắn rằng những người Tây Đức đã đại diện trong tất cả các nhánh hành chính và trong tất cả các cấp công vụ.”59

Tiếp sau sự thống nhất nước Đức, các quy tắc mới có hiệu lực đã cho phép việc sa thải các quan chức vì nhiều lý do (thiếu trình độ, vi phạm nhân quyền, hợp tác với Stasi, việc tổ chức lại hành chính). Như thế, một bộ máy quan liêu trước kia mà được mô tả đặc trưng bởi cái Derlien đã nhắc tới như “sự bất tài được chính trị hóa”60  trên thực tế đã được thay thế.

Mặc dù nhiều nhân tố có thể giải thích sự thay thế thành công của elite Đông Đức, một nhân tố nổi bật lên: tính sẵn có của các elite thay thế. Việc này cũng giải thích vì sao các elite chính trị đã trải qua một mức độ lớn hơn của những người mới vào trong tất cả các nước Đông so với các elite công chức đã trải qua. Sự tồn tại của cái Derlien gọi là “kho dự trữ của các elite mới” và đi kèm với “nhập khẩu elite” 61  đã phân biệt trường hợp của GDR với các nước khác mà đã trải qua chuyển đổi sang dân chủ. Năng lực luôn luôn khan hiếm và các nhà lãnh đạo chính trị mới phải đối mặt với nhiệm vụ cấp bách về cải cách các định chế chính trị trong khi giữ cho các định chế kinh tế vận hành. Nếu sự bất tài hành chính hay sự trung thành với một nhà nước đảng quan liêu phải được thay thế bằng một bộ máy quan liêu có năng lực dựa trên pháp trị, thì các biện pháp cần được tiến hành để phát triển một hệ thống tuyển dụng và đào tạo các công chức. Giai đoạn hậu chuyển đổi có thể có khả năng sống sót với các di tích của bộ máy công chức của chế độ cũ, nhưng tương lai thì sao? Các nhu cầu của một nhà nước phúc lợi, dân chủ, công nghiệp sẽ được quản lý thế nào? Thích đáng hơn, có phải các nước trung và đông Âu đã do dự để gắn kết sự củng cố của các chế độ dân chủ của họ với việc tạo ra một cấu trúc quan liêu được chuyên nghiệp hóa?

Chuyển đổi đã gây ra sự tranh luận đáng kể về các vấn đề hiến pháp, cải cách kinh tế, và mối quan hệ giữa trung tâm và ngoại vi. Đã thiếu từ những  cuộc tranh luận này là việc tạo ra một cấu trúc [công chức] được chuyên nghiệp hóa. Có cả lý do văn hóa và lý do chính trị cho sự thất bại này.

Các chướng ngại văn hóa liên quan đến sự thực rằng công vụ đã chẳng bao giờ được ban cho nhiều tầm quan trọng. Trên thực tế, sự liên kết lâu của nó với Đảng Cộng sản đã biến nó thành một đối tượng bị khinh bỉ. Nó đã là một bộ máy quan liêu bị chính trị hóa, về thực chất bất tài và khét tiếng về sự tùy tiện của nó. Rằng điều này vẫn là thái độ chung đối với bộ máy công chức có thể không ngạc nhiên. Điều ngạc nhiên, tuy vậy, là bản thân elite chính trị đã chậm chạp để nhận ra tầm quan trọng của việc khởi động một quá trình phát triển một cấu trúc quan liêu mà có một cơ sở hợp pháp và được đặc trưng bằng tính chuyên nghiệp. Những gì mà Hesse và Goetz nhận xét cho các Cộng hòa Czech và Slovak cũng áp dụng cho các nước khác ở Đông Âu. Các nước này đã

không có khả năng để hình thành và thực hiện các chính sách mà đã có thể được kỳ vọng dẫn đến những cải thiện lớn trong khu vực nhân sự. Các bước được tiến hành chủ yếu đã hướng tới giảm nhẹ một vài trong những khó khăn ngắn hạn cấp bách nhất, nhưng đã không tìm cách giải quyết các vấn đề cấu trúc nằm sâu hơn. Ngoài ra, có ít chỉ báo rằng trong việc chấp nhận các biện pháp về các yếu tố cá biệt của chính sách nhân sự, sự quan tâm đủ đã được trao cho các mối liên kết lẫn nhau của chúng. Nói cách khác, các bước biệt lập, mà không có sự tham chiếu đến một thiết kế cải cách toàn diện hơn, đã chiếm ưu thế.62

Chẳng một nước trung và đông Âu nào đã phát triển một đạo luật công vụ giống bất cứ thứ gì tồn tại trong các nền dân chủ phương Tây. Việc phát triển các đạo luật này đã đến chậm trễ, và dù chúng có thể bị đặt thành vấn đề hiện nay ở một số nền dân chủ phương tây, chúng vẫn là những yếu tố quan trọng trong một quá trình có trật tự của việc tuyển dụng mà ban đặc ân cho năng lực hơn sự đỡ đầu. Trong các nước đông Âu vẫn chưa có đạo luật công vụ nào có hiệu lực. Thực ra không có nền công vụ nào được công nhận theo đúng nghĩa. Ngay cả “ý tưởng về một nền công vụ với tư cách như thế không có một cơ sở trong luật.”63

Các đạo luật ngành dân chính (civil service) ở phương tây thừa nhận một cơ sở pháp lý của việc làm cho các công chức tách rời khỏi các luật lao động mà giành được trong các xã hội này. Chúng quy định các quyền và nghĩa vụ, cung cấp sự bảo vệ, và định các thang lương cho tất cả các công chức. Đã có những thảo luận và các dự thảo của các luật ở đông Âu mà tiến tới việc tạo ra một ngành dân chính thống nhất. Hiện nay, một ngành như vậy không tồn tại. Mỗi bộ trưởng tổ chức bộ của mình theo ý muốn riêng của ông ta. Việc tuyển dụng được tiến hành bởi từng bộ riêng lẻ và chính trị đảng chiếm ưu thế trong quá trình.

Một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp đòi hỏi các công chức có năng lực và các bộ máy quan liêu tương lai sẽ là kết quả của các biện pháp được tiến hành hôm nay để đào tạo các công chức bậc cao. Những cố gắng theo hướng này đã không đi rất xa. “Là khó,” László Keri viết, “để tìm ra một dấu vết của một khái niệm chung trong quá trình lựa chọn và bổ nhiệm các chức vụ hành chính.”64 Còn ít khả năng hơn để tìm thấy một chính sách tạo thuận lợi cho việc đào tạo những người sẽ vận hành bộ máy nhà nước  trong các năm sắp tới. Ở Ba Lan và Hungary có các trường cho việc đào tạo các công chức cấp trung, nhưng chẳng trường nào có nhiều uy tín hay đã có tiến bộ hướng tới việc tạo ra lực lượng nòng cốt của các quan chức cấp cao.

OECD đã tìm cách để khuyến khích việc tạo ra một nhóm SES (senior executive service-quan chức dân chính cấp cao) bên trong các bộ máy quan liêu của các nước Đông Âu. Trong khi cải cách SES Mỹ đã chẳng bao giờ được thực hiện theo cách mà các nhà cải cách đã dự định, có các biến thể của mô hình (mô hình Đức về Beamtpolitische, mô hình ENA ở Pháp). Logic đằng sau việc tạo ra một elite dân chính cấp cao là một cải cách như vậy sẽ tăng cường bộ máy quan liêu, sẽ chuyên nghiệp hóa nó, và sẽ làm tăng tinh thần của toàn bộ cấu trúc bởi vì nó sẽ cho những người cấp thấp hơn trong bộ máy thứ bậc thấy rằng bây giờ chính phủ coi trọng định chế này. Nhưng việc này không chắc xảy ra, chí ít trong tương lai gần, bởi vì, như hai quan chức OECD đã lưu ý, các chính trị gia không quan tâm đến các vấn đề tác động đến bộ máy quan liêu, công chúng cũng không.65

Việc tạo ra một bộ khung các công chức cấp cao chuyên nghiệp được xem là cốt yếu cho sự làm việc có hiệu quả của cấu trúc chính phủ bởi vì nhiệm vụ phối hợp sẽ được làm cho thuận tiện. Có ít chức năng ngày nay mà có thể được thực hiện hoàn toàn bên trong một bộ đơn độc. Quá trình ra quyết định phụ thuộc vào năng lực của bộ máy chính phủ và quan liêu để phối hợp cả việc làm chính sách và thực hiện các chính sách. Việc này bây giờ là một thách thức mới đối với các bộ máy quan liêu của các nước Đông Âu, và là thách thức mà họ thấy mình đặc biệt không được chuẩn bị.

Kết luận: Bộ máy quan liêu trong Pha Chuyển đổi

Chuyển đổi sang dân chủ ở trung và đông Âu được liên kết với một sự rời khỏi một nhà nước áp bức mà công cụ chính của nó đã là một bộ máy quan liêu lớn, bị chính trị hóa, và độc đoán. Không ngạc nhiên, quá trình chuyển đổi trong tất cả các xã hội đông Âu đã bận tâm với việc tước bỏ vai trò bao gồm tất cả của nhà nước trong nền kinh tế và xã hội.

Trong khi bất cứ chuyển đổi nào sang một trật tự dân chủ cần bận tâm với việc tạo ra cạnh tranh chính trị, thiết lập một trật tự hiến pháp mới, và tách rời xã hội dân sự và chính trị, vẫn đúng rằng không xã hội nào có thể được hình dung mà không có một bộ máy quan liêu. Hệt như nhà nước-quốc gia là hình thức chi phối của sự tổ chức lãnh thổ, như thế không nhà nước nào hoạt động mà không có công cụ của một bộ máy quan liêu.

Dân chủ đòi hỏi nhiều hơn một bộ máy. Nó cần phải phát triển một cấu trúc quan liêu giỏi, dựa vào pháp luật, có trách nhiệm giải trình, và chuyên nghiệp. Việc tạo ra một định chế như vậy đã hiển nhiên không là một sự bận tâm chính ở trung và đông Âu. Các chế độ mới đối phó lại công cụ cốt yếu đã được sử dụng bởi chế độ cũ một cách không thể tránh được. Một cách nghịch lý, công cụ của quyền lực chính trị (mạng lưới bao la của các định chế quan liêu) đã là đối tượng của sự nghi ngờ, sự thiếu tin tưởng, và sự nhạo báng trong thời đại hậu cộng sản nhiều hơn đã là chỗ của quyền lực (đảng) trong thời trị vì của chủ nghĩa cộng sản. Một phần điều này là bởi vì sự có mặt khắp nơi của bộ máy quan liêu, với nhiều lực lượng cảnh sát và an ninh, trong đời sống hàng ngày của các công dân. Sự tái xuất hiện của các chính trị gia đảng cũng đặt ra ít đe dọa hơn sự tái xuất hiện của các quan chức bởi vì bây giờ những người trước tham gia vào quá trình chính trị mà không được hưởng sự độc quyền họ đã có một thời. Còn một nhân tố khác giúp lái sự hăng hái chống nhà nước chủ nghĩa hay chống quan liêu của các xã hội đang dân chủ hóa: bối cảnh toàn cầu mà bên trong đó sự chuyển đổi xảy ra. Bối cảnh này, được xác định hầu hết bởi một phản ứng với chủ nghĩa nhà nước (statism) và với sự can thiệp nhà nước vào nền kinh tế, cũng được đặc trưng bởi sự phi điều tiết hóa và tư nhân hóa các tài sản nhà nước, thậm chí các dịch vụ được nhà nước cung cấp từ lâu. Bên trong bối cảnh toàn cầu này một cách không thể tránh được có một mức độ đáng kể của sự bắt chước, hay sự hùa theo. Sự bắt chước, John Ikenberry lưu ý,

là một quá trình quan trọng mà theo đó các chính sách lan đi bởi vì các nhà nước có khuynh hướng có các mục tiêu chung giống nhau. Tất cả các nhà nước đều quan tâm đến làm tốt hơn, hơn là làm xấu hơn; chúng thích thành công kinh tế và chính trị hơn bất cứ thứ nào khác, và kinh nghiệm của các nước khác cung cấp các bài học và các tấm gương về làm thế nào có thể đạt được thành công. Quy tắc chỉ đạo là: sao chép cái có kết quả.66

Đã trở nên hiển nhiên vào lúc này rằng nghiên cứu hậu chủ nghĩa cộng sản cần một từ vựng mới và một cách tiếp cận mới. Đồng thời, nó mời chúng ta để xem xét lại các nguyên lý kinh điển mà đã cố thủ lâu trong truyền thống liberal (khai phóng) của chúng ta. Nó cho thấy, chẳng hạn, rằng quyền lực nhà nước ít hơn không luôn luôn có nghĩa là nhiều quyền tự do hơn. Ngược lại, một nhà nước yếu đã có thể là một cản trở nghiêm trọng cho sự thành công của các cải cách kinh tế, chính trị, và xã hội. Tự do hóa không thể thành công dưới các điều kiện của sự tan rã nhà nước hay bộ máy quan liêu không hiệu quả. Như Stephen Holmes chỉ ra, vấn đề chính của hậu chủ nghĩa cộng sản có vẻ là khủng hoảng về cai quản. Các nhà nước yếu về mặt hành chính tỏ ra là không có khả năng thực hiện cải cách. Như Holmes và những người khác đã lưu ý, những nghiên cứu hậu cộng sản phải chuyển chương trình nghị sự khỏi những truyền thống văn hóa sang việc tìm ra cách mà theo đó các nước đông Âu được cai quản. Các quyền tự do là khó để thực hiện mà không có các nhà chức trách hành chính, và xét xử hiệu quả. Đó là vì sao đã đến lúc xem xét lại vai trò của bộ máy quan liêu trong chuyển đổi sang dân chủ.

Ezra Suleiman

—-

GHI CHÚ

  1. Dankwart A. Rustow, ‘‘Transitions to Democracy: Toward a Dynamic Model,’’ Comparative Politics 2, no. 2 (August 1970), pp. 356 – 357.
  2. Max Weber, ‘‘Bureaucracy,’’ trong H. H. Gertz and C. Wright Mills, eds., From Max Weber: Essays in Sociology (New York: Oxford University Press, 1962), p. 215.
  3. Ibid., p. 216.
  4. Joseph Schumpeter, Capitalism, Socialism, and Democracy, 3rd edition (New York: Harper, 1949), p. 206.
  5. Ibid.
  6. Ibid. p. 293.
  7. Ibid.
  8. Ibid.
  9. Xem Adam Przeworski, Democracy and the Market: Political and Economic Reforms in Eastern Europe and Latin America (New York: Cambridge University Press, 1991), p. 8. Đáng lưu ý rằng Tây Ban Nha đã được phú cho một cấu trúc quan liêu có tài mà đã có thể sử dụng được ngay bởi chế độ hậu Franco.
  10. Juan Linz and Alfred Stepan, Problems of Democratic Transition and Consolidation: Southern Europe, South America, and Eastern Europe (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1996), p. 11. Jacek Kochanowicz, ‘‘Reforming Weak States and Deficient Bureaucracies,’’ trong Joan Nelson, ed., Intricate Links: Democratization and Market Reforms in Latin America and Eastern Europe (New Brunswick, N.J.: Transaction Publishers, 1994), p. 202.
  11. Kochanowicz, ‘‘Reforming Weak States and Deficient Bureaucracies,’’ p. 203.
  12. Stephen Holmes, ‘‘What Russia Teaches Us Now: How Weak States Threaten Freedom,’’ The American Prospect (July – August 1997), p. 32.
  13. Ibid. p, 33.
  14. Xem Ezra Suleiman, ed., Bureaucrats and Policy-Making: A Comparative Perspective (New York: Holmes & Meier, 1983).
  15. Graham Wilson, ‘‘Counter Elites and Bureaucracies,’’ Governance 6 (July

1993), p. 433.

  1. Ibid., p. 434.
  2. John Keeler, ‘‘Opening the Windows for Reform: Mandates, Crises, and Extraordinary Policy-Making,’’ Comparative Political Studies 25 (January 1993), p. 66.
  3. Xem John Kingdon, Agendas, Alternatives, and Public Policies (Boston: Little Brown, 1984).
  4. Russel Bova, ‘‘Political Dynamics of the Post-Communist Transition: A Comparative Perspective,’’ trong Nancy Bermeo, ed., Liberalization and Democratization: Change in the Soviet Union and Eastern Europe (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1992), p. 118.
  5. Lena Kolarska-Bobinska, ‘‘The Role of the State in the Transition Period,’’ unpublished ms., p. 2.
  6. Được trích trong Lena Kolarska-Bobinska, ‘‘The Role of the State: Contradictions in the Transition to Democracy,’’ trong Douglas Greenberg et al., Constitutionalism and Democracy: Change in the Soviet Union and Eastern Europe (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1992), p. 301.
  7. Peter Drucker, ‘‘Really Reinventing Government,’’ Atlantic Monthly (February 1995), p. 61.
  8. Xem Ezra Suleiman and John Waterbury, eds., The Political Economy of Public Sector Reform and Privatization (Boulder, Colo.: Westview Press, 1990).
  9. Xem R. Frydman et al., The Privatization Process in Central Europe (London: Central European University Press, 1993).
  10. Ibid.
  11. Jeremy J. Richardson, ‘‘Pratique des privatisations en Grand-Bretagne,’’ trong Vincent Wright Les Privatisations en Europe: Programmes et proble`mes (Paris: Acte Sud, 1993)
  12. The Reform of Hungarian Public Administration (Budapest: Hungarian Institute of Public Administration, 1991), p. 15. Về thông tin thêm về tản quyền ở Hungary, xem Public Administration in Hungary (Budapest: Hungarian Institute of Public Administration, 1992).
  13. Xem Joachim Jens Hesse and Klaus H. Goetz, ‘‘Public Sector Reform in Central and Eastern Europe: The Case of the Czech and Slovak Federal Republic,’’ (Unpublished report, Oxford and Geneva, July 1992), pp. 31 – 32.
  14. Joachim Jens Hesse and Klaus H. Goetz, ‘‘Public Sector Reform in Central and Eastern Europe: The Case of Poland’’ (Unpublished report, Oxford and Geneva, July 1992), p. 37.
  15. Ibid., p. 39.
  16. Hesse and Goetz (note 27), p. 33.
  17. Adam Przeworski, ‘‘Eastern Europe: The Most Significant Event in Our Time?’’ được trích trong Hans-Ulrich Derlien and George J. ‘‘Eastern European Transitions: Elite, Bureaucracies, and the European Community,’’ Governance 6 (July 1993), pp. 306 – 7.
  18. Janos Simon, ‘‘Post-Paternalist Political Culture in Hungary: Relationship between Citizens and Politics During and After the Melancholic Revolution (1989 – 1991),’’ Communist and Post-Communist Studies 26 (June 1993), p. 227.
  19. Roman Frydman and Andrej Rapaczynski, Privatization in Eastern Europe: Is the State Withering Away? (New York and Budapest: Central European University Press, 1994), p. 175.
  20. Ibid., pp. 175 – 76.
  21. Kochanowicz ‘‘Reforming Weak States and Deficient Bureaucracies,’’ p. 219.
  22. Ibid., pp. 197 – 203.
  23. Joan M. Nelson, ‘‘How Market Reforms and Democratic Consolidation Affect Each Other,’’ trong Joan Nelson, ed., Intricate Links: Democratization and Market Reforms in Latin America and Eastern Europe, p. 78.
  24. Andrew Shonfield, Modern Capitalism: The Changing Balance of Public and Private Power (London: Oxford University, 1965).
  25. Kochanowicz, ‘‘Reforming Weak States and Deficient Bureaucracies,’’ p. 199
  26. Jan Kubik, ‘‘Post-Communist Transformation in East Central Europe: Dual (Political-Economic) or Quadruple (Political-Economic-Administrative-Cultural)? A Study of Cieszyn, Silesia, Poland (Manuscript, February 1994), pp. 10 – 11.
  27. Ibid., 40.
  28. OECD, SIGMA, ‘‘Mission Statement’’ (Paris), p. 2.
  29. SIGMA, Bureaucratic Barriers to Entry: Foreign Investment in Central and Eastern Europe (Paris: OECD: GD 94, 124, 1994), pp. 16 – 17.
  30. Wilson, “Counterelites and Bureaucracies,’’ Governace 6, July 1993, p. 433.
  31. Timothy Garton Ash, ‘‘Prague: Intellectuals, and Politicians,’’ New York Review of Books (January 12, 1995), p. 40.
  32. Ibid, cho một thảo luận lý thú về mối quan hệ của Vaclav Havel với quyền lực.
  33. Klaus von Beyme, ‘‘Regime Transition and Recruitment in Eastern Europe,’’ Governance 6 (July 1993), p. 411.
  34. Ibid, p. 413.
  35. Wilson, ‘‘Counterelites and Bureaucracies,’’ p. 436.
  36. Thomas F. Remington, ed., Parliaments in Transition: The New Legislative Politics in the Former USSR and Eastern Europe (Boulder, Colo.: Westview Press, 1994), p. 33.
  37. The Economist, p. March 13, 1993.
  38. Kolarska-Bobinska, ‘‘The Role of the State in the Transition Period,’’ p. 309.
  39. Derlien and Szablowski, ‘‘Eastern European Transitions: Elite, Bureaucracies, and the European Community,’’ Governance 6 (July 1993), p. 311.
  40. Tuy nhiên, trường hợp Rumani cho thấy rằng bất kỳ sự chậm trễ nào trong thông qua luật quy định sự tiếp cận đến các hồ sơ của cảnh sát mật trước kia có thể là không có ích cho bầu không khí chính trị và đạo đức của đất nước.
  41. Được trích trong Ash, ‘‘Prague: Intellectuals and Politicians,’’ pp. 37 – 38
  42. Von Beyme, ‘‘Regime Transition and Recruitment of Elites in Eastern Europe,’’ p. 410.
  43. Klaus Koing, ‘‘Bureaucratic Integration by Elite Transfer: The Case of the Former GDR,’’ Governance 6 (July 1993), p. 389.
  44. Ibid., p. 391.
  45. Hans-Ulrich Derlien, ‘‘Matching Responsiveness and Expertise: Political and Administrative Elite in Germany,’’ trong Henry Mendras and Ezra Suleiman, eds., Elites in Democratic Societies (London: Francis Pinter, forthcoming). Xem bản tiếng Pháp của chương của Derlien trong Ezra Suleiman and Henri Mendras, eds., Le recruitement des e´lites en Europe (Paris: La Decouverte, 1995).
  46. Ibid.
  47. Hesse and Goetz, ‘‘Public Sector Reform in central and eastern Europe,’’ p. 42.
  48. Ibid.
  49. László Keri, ‘‘Decision-Making of the Government from the Point of View of Organizational Sociology,’’ (unpublished manuscript), p. 89.
  50. Jak Jabes and Staffan Synnerstrom, ‘‘La Reforme de l’administration publique dans les pays d’Europe centrale et orientale,’’ Revue Franc¸aise d’Administration Publique, no. 70 (April – June 1995), p. 275.
  51. G. John Ikenberry, ‘‘The International Spread of Privatization Policies: Inducements, Learning, and ‘Policy Bandwagoning’,’’ trong Ezra Suleiman and John Waterbury, eds., The Political Economy of Public Sector Reform and Privatization (Boulder, Colo.: Westview Press, 1990), p. 103.

Biên tập: Lisa Anderson

Dịch: Nguyễn Quang A

Thuộc tủ sách SOS2

VRNs đăng với phép của dịch giả

Read more

Triệu chứng ly hôn

VRNs (01.03.2015) – Sài Gòn – Tình yêu và hôn nhân có vài thời kỳ. Khi yêu nhau thì thấy KỲ DIỆU, khi cưới nhau rồi thì thấy KỲ LẠ, khi cuộc sống êm trôi thì thấy KỲ ẢO, khi gặp gian khó thì KỲ DỊ, khi biết rõ nhau rồi thì thấy KỲ QUẶC, khi “no xôi, chán chè” rồi thì thấy KỲ QUÁI. Kể ra cũng kỳ thật!

Con thuyền hôn nhân của bạn có êm đềm hay đang gặp sóng gió? Trong cuốn “Marriage Inventory Quiz” (Kiểm kê Hôn nhân), tiến sĩ Phil đã đưa ra 6 triệu chứng cho biết hôn nhân đang mắc chứng bệnh trầm kha nguy hiểm.

150228006

  1. KIỂM SOÁT và LẠM DỤNG

Kiểm soát người khác thường gây ra tình trạng xoi mói cảm xúc – chẳng hạn nói: “Hãy đồng ý, nếu không thì…”. Về tiền bạc hoặc vấn đề nào đó, người bạn đời có muốn kiểm soát bạn? Bạn có bị nhục mạ nhân phẩm? Về lĩnh vực vật chất, thể lý và tinh thần, bạn có bị lạm dụng bằng cách nào đó? Nếu mất cân bằng về quyền thì bạn sẽ mất chính mình, có thể hôn nhân của bạn đang bị “ngộ độc” đấy!

  1. TIN TƯỞNG và GHEN TUÔNG

Vì thiếu tự tin và không tin người bạn đời nên mới ghen tuông. Bạn có muốn “lấn quyền” vợ/chồng? Bạn có suy diễn theo ý mình về các động thái của vợ/chồng? Bạn có biết vợ/chồng làm gì khi vắng mặt bạn? Ghen tuông là “bức bình phong” che giấu quyền lực và sự kiểm soát, ngầm muốn mình “nổi trội” hơn về mọi lĩnh vực. Đó là “cờ đỏ” báo động đối với hôn nhân!

  1. DỐI TRÁ

Vợ chồng có chân thật và công khai về tài chính, ưu tiên hôn nhân, và cùng nhau muốn tạo dựng tổ ấm thực sự? Có gì giấu giếm nhau? Nếu có, tại sao phải giấu giếm? Bạn nói dối điều gì? Không gian dối không có nghĩa là phải thành thật mọi thứ. Dĩ nhiên hôn nhân cũng có những điều cần giấu kín, nhưng đừng giả dối hoặc lừa dối vì ích kỷ mà làm tổn hại hôn nhân, nhất là về tiền bạc.

  1. GIAO TIẾP

Nếu gặp cha mẹ đôi bên, đặc biệt là cha mẹ của người vợ/chồng cũ (nếu bạn tái hôn), bạn có tôn trọng họ và chân thành giao tiếp như người con? Bạn đã trưởng thành, hãy cư xử đúng đắn với các bậc sinh thành và người lớn đáng tuổi cha mẹ mình. Đó là bạn làm gương sống cho con cái.

  1. HÀI HÒA

Âm nhạc cần sự hòa âm. Hòa âm tốt thì êm tai, hòa âm dở thì chói tai. Hôn nhân cũng vậy. Hai người mà là một, một mà không hài hòa thì làm sao là một tổ ấm đích thực? Đừng làm cho tổ ấm hóa “lạnh”. Vợ chồng hài hòa thì con cái sẽ hòa thuận, và mọi thành viên đều hài lòng về gia đình mình. Đừng la hét nhau, nguyền rủa nhau, cũng đừng to tiếng om sòm, hãy nhẹ nhàng nói với nhau. Lời nói không tốn tiền mua đâu!

  1. THÂN MẬT ÂN ÁI

Ân ái là “khoảng riêng phu thê”, phản ánh mối quan hệ tốt hay xấu. Sự thân mật có tính nhạy bén lắm. Đó cũng là lúc thể hiện sự bình đẳng giới, cả thể lý lẫn tinh thần. Nếu bạn miễn cưỡng hoặc cảm thấy không thoải mái, hôn nhân đang có “vấn đề” rồi!

Xuân đang về, Tết đang đến, nàng Xuân đứng ở đầu ngõ rồi. Nếu hôn nhân của bạn êm đềm như mây trôi thì thật may mắn cho bạn, nhưng nếu hôn nhân của bạn đang rắc rối ít hay nhiều, hãy giải quyết ngay để kịp ăn Tết Át Mùi này, bạn nhé!

TRẦM THIÊN THU

Read more

Chúa sẽ liệu

VRNs (01.03.2015) – Sài Gòn – St 22, 1 – 19

 15030100

“Chúa sẽ liệu con ạ” c.8

Bước chân lên núi mà lòng dạ nát tan,

Ông Abraham biết con một của mình sẽ là lễ tế,

tiếng con trẻ hồn nhiên nhỏ nhẹ,

thoảng vào tai làm chao đảo tâm hồn.

Nhưng vững tin là điều ông hằng giữ,

Chúa chẳng bao giờ bội tín bất trung,

rất bình an, ông trả lời con trẻ,

Thiên Chúa sẽ lo, sẽ liệu cho con.

Xin cho con vững tin vào Chúa,

dẫu cuôc đời lắm sự đảo điên,

xin cho con hết mọi ưu phiền,

vì có Chúa sẽ lo, sẽ liệu.

Lm. Vinh Sơn Phạm Trung Thành, CSsR.

Read more

Hòa hợp mồi đầu tư  – Hòa giải cuỗm kiều hối  

VRNs (01.03.2015) – Washington DC, USA – Chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc sau 40 năm còn ngổn ngang trăm mối tơ vò lại rối ren thêm vào dịp Tết qua phát ngôn thiếu xây dựng và không đúng sự thật của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc và báo Quân đội Nhân dân.

Trước hết hãy bàn về Bài viết “Suy ngẫm đầu Xuân” của ông Sang đăng trên Tạp chí Quê Hương Online, Cơ quan ngôn luận của Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài, phổ biến đúng ngày Mồng một Tết (19/02/2015).

Ông viết: “Trong thời kỳ Đổi mới, đồng bào ta ở nước ngoài tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc vận động nhiều nước gỡ bỏ hàng rào cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam; nhiều kiều bào trở thành cầu nối gắn kết, dẫn dắt các doanh nghiệp nước ngoài vào làm ăn tại Việt Nam. Với tấm lòng đau đáu vì sự phát triển của nước nhà, nhiều kiều bào trực tiếp về nước làm chuyên gia tư vấn, tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học, đầu tư công sức và tiền của để sản xuất kinh doanh, thành lập các công ty xuất nhập khẩu hàng hóa…”

Hòan tòan sai với trường hợp của Mỹ. Hàng rào cấm vận Việt Nam từ 1975 đến 1994 do Hoa Kỳ chủ động và lãnh đạo nhằm cấm các nước  có quan hệ với  Mỹ giúp  Việt Nam.  Các Tổ chức quốc tế chịu ảnh hưởng lớn của Hoa Thịnh Đốn, tiêu biểu như Qũy tiền tệ Quốc tế (International Money Fund – IMF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) cũng bị chi phối.

Lệnh cấm vận của Mỹ nhằm 2 mục đích chính: trừng phạt Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã xé bỏ Hiệp định Paris 1973, dùng võ lực đánh chiếm Việt Nam Cộng hòa, đồng minh của Mỹ.  Thứ hai là chống cuộc xâm lăng chiếm đóng Kampuchea 1978 -1992 của quân đội CSVN.

Theo tài liệu chính thức, đến năm 1993, Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm các nước khác cho Việt Nam vay tiền trả nợ cho các tổ chức tài chính quốc tế. Năm 1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và lập cơ quan liên lạc giữa hai quốc gia. Ngày 11 tháng 7 năm 1995, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

Như vậy, điều mà ông Chủ tịch Trương Tấn Sang bảo là “đồng bào ta ở nước ngoài tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc vận động nhiều nước gỡ bỏ hàng rào cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam”, trong trường hợp nước Mỹ là không có cơ sở. Bởi vì vào thời gian từ 1975 đến 1995, họat động của nhóm thiểu số  được gọi là “người Việt yêu nước” thân Hà Nội ở Hoa Kỳ chỉ đếm trên đầu ngón tay và không có bất cứ khả năng vận động nào với Chính quyền Mỹ về chuyện bỏ cấm vận.

Có chăng là cuộc vận động tích cực của một số các Nhà lập pháp Mỹ cựu chiến binh Việt Nam, trong số có hai Nghị sỹ John McCain và John Kerry để đổi lấy hợp tác của Chính phủ Việt Nam trong công tác tìm kiếm quân nhân Mỹ còn mất tích tại 3 chiến trường Việt Nam, Lào và Kampuchea.

Ông Sang khoe “nhiều kiều bào trực tiếp về nước làm chuyên gia tư vấn, tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học”, nhưng số này không qúa 200 người đi về qua nhiều giai đọan từ khi có Nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị “về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”.  Phần lớn người về giúp Việt Nam thuộc các tổ chức viện trợ Quốc tế hay giáo dục của các trường Đại học.

Ông Sang còn biểu dương: “Kiều hối không ngừng tăng, trở thành một trong những nguồn ngoại lực quan trọng đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Có thể khẳng định, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã thực sự góp phần không nhỏ vào thành công của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự vươn lên bắt nhịp mạnh mẽ của Việt Nam với khu vực và thế giới những năm qua”.

Sở dĩ người Việt ở nước ngoài gửi nhiều tiền về Việt Nam vì Nhà nước không đánh thuế trên khỏan tiền này, đồng thời giúp thân nhân có thể đầu tư vào ba ngành: dịch vụ, địa ốc và du lịch, hoặc gửi vào ngân hàng để lấy lời.

Nhưng nếu ông Sang cho rằng: “Những đóng góp đáng trân trọng và đầy tự hào đó của kiều bào ta đối với Tổ quốc xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn của mỗi người dân đất Việt, kết tinh trong truyền thống quý báu hàng ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam từ thuở Vua Hùng lập nước” thì đó là một ngộ nhận không phản ảnh trung thực mục đích  giúp gia đình có cuộc sống khá hơn là chính.

Bởi vì “yêu nước” hay hướng về quê cha đất tổ luôn luôn là định hướng không bao giờ phai nhạt, dù trong bất cứ hòan cảnh nào đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nhưng  nếu coi hành động mỗi năm có hàng ngàn người Việt về thăm quê hương, dòng tộc, thăm mồ mả tổ tiên cũng đồng nghĩa với “yêu xã hội chủ nghĩa” hay chấp nhận  đảng CSVN là  một ý nghĩ cường điệu và sai lầm.

 150228005

ĐẦU TƯ VÀ KIẾU HỐI

Theo thống kê của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngòai, hiện có 51/63 tỉnh, thành phố trong nước có các dự án đầu tư của người Việt Nam ở nước ngoài, với hơn 3,600 doanh nghiệp kiều bào với tổng số vốn đầu tư lên tới 8,6 tỉ USD.

Con số 8,6 tỉ USD không nhỏ, gần bằng một nửa nguồn vốn doanh nghiệp FDI (Foreign Direct  Invesment, Đầu tư trực tiếp từ Nước Ngoài) vào Việt Nam năm 2014. (theo báo Giáo Dục Việt Nam, 19/02/2015).

Trong khi đó, số Kiều hối gửi về nước tăng trung bình 10-15%/năm, Năm 2009 là  6,83 tỷ USD, năm 2010 đạt mức 8,6 tỷ USD, năm 2011 là 9 tỷ USD, năm 2012 đạt 10 tỷ USD, năm 2013 đạt gần 11 tỷ USD.(theo Đài Tiếng nói Việt Nam,VOV ngày 20/09/2014).

Theo báo Giáo dục Việt Nam thì khỏan Kiếu hối lớn lao này đã “bù đắp được 92% chênh lệch cán cân thương mại. Trong năm 2012, dù tình hình kinh tế thế giới lẫn trong nước nhiều khó khăn nhưng lượng kiều hối vẫn có sự bứt phá, chạm mốc 11 tỷ USD. Hiện Việt Nam nằm trong số 10 nước nhận kiều hối hàng đầu thế giới”.

Các chuyên gia tài chính ở Việt Nam ước tính từ năm 1991 đến năm 2014, tổng số tiền 90 tỷ USD đã được  người Việt ở nước ngoài gửi về Việt Nam, chiếm 1/3 tổng số vốn đầu tư của nước ngòai vào Việt Nam.

Phần lớn số tiền này do khối người Việt từ miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa) ra đi từ  năm 1975 đang định cư ở các quốc gia có nền công nghệ và giáo dục cao như Mỹ, Châu Âu, Canada và Úc Đại Lợi. Số còn lại là của khỏang 500,000 lao động Việt Nam được Nhà nước gửi ra nước ngoài làm việc, nhiều nhất tại Nam Hàn và Đài Loan.

Nhưng ở Việt Nam doanh nhân Việt kiều không có các dự án kinh tế lớn, đáp ứng nhu cầu tốt, mang lại lợi nhuận cao vì nhiều địa phương đã dành các địa bàn thuận lợi, lưu thông tốt, gần thành phố, các ngành dễ kiếm tiền cho các doanh nghiệp trong nước và của nhà nước.

Vì vậy nhiều doanh nhân Việt kiều  không muốn “mang tiền đi đổ sông Ngô” vì nhà nước CSVN vẫn dành nhiều ưu đãi cho các nhóm lợi ích trong đảng.

Ngoài ra thủ tục hành chính  rườm rà lại hay thay đổi, áp dụng tùy tiện, cán bộ coi Việt kiều như những con mòng béo mập nên làm gì cũng phái nạp tiền “bôi trơn” hay “phong bì” thì mới xong khiến doanh nhân nản chí.

Báo Giáo dục Việt Nam, GDVN (19/02/2015) phản ảnh: “ Ông Phạm Văn Thắng – một Việt kiều Đức trở về đầu tư trong nước 12 năm cho rằng Việt Nam có nhiều lợi thế thu hút đầu tư vào lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là dịch vụ, du lịch. Các cơ chế đầu tư ở Việt Nam khá thông thoáng, chi phí sinh hoạt rẻ, công nhân Việt Nam khéo tay, có năng suất lao động cao, với những người được đào tạo, không kém các nước khác.

Những khó khăn của doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài khi đầu tư vào trong nước chủ yếu liên quan đến chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, thủ tục hành chính, chính sách cần có định hướng lâu dài bền vững… Chính vì gặp nhiều khó khăn đặc biệt trong vấn đề thủ tục hành chính, những công nghệ ông Thắng đưa về Việt Nam không được lắng nghe áp dụng vì vậy doanh nhân này đang tính đường quay trở lại Đức để kinh doanh.” 

Trong một bài viết đăng trên  báo GDVN ngày 24/02/2015, ông Thắng thổ lộ: “Cách đây 12 năm khi trở về Việt Nam đầu tư, tôi ấp ủ nhiều dự định triển khai các công trình về công nghệ. Trong đó có công nghệ gia cố đất làm đường bằng phụ gia của Đức, công nghệ làm sạch, công nghệ làm vật liệu không nung của Đức… nhưng tất cả đều thất bại.

Thất bại vì nhiều lý do, trước hết phải khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước rất khuyến khích, rất mở. Tuy nhiên cơ chế tổ chức vận hành của toàn bộ cơ sở hạ tầng này vẫn ì ạch, trì trệ, không đáp ứng được với những yêu cầu của những doanh nhân Việt kiều. Chúng tôi quen cách làm việc hiện đại thông thoáng của những nước tiên tiến…..

….Cũng là kinh doanh nhưng bên kia không phải động tác phong bì… còn bên mình thì doanh nghiệp phải lo quá nhiều cái, mà không thế không được….Về đầu tư, văn bản pháp luật, chính sách thay đổi liên tục doanh nghiệp khó chạy theo, muốn làm cũng khó. 

Tuy nhiên khi khoe khoang qúa lố công lao của đảng trong công tác Việt kiều, ông Sang đã sai lầm khi nói rằng: “Để có được những thành công đó, chúng ta tự hào có Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn quan tâm tới bộ phận máu thịt không thể tách rời là 4,5 triệu người con Việt Nam ở bốn phương trên khắp địa cầu. Vai trò và vị trí của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn được ưu tiên trong chính sách của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đã được cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương tích cực triển khai nhằm mục đích tạo thuận lợi nhiều nhất cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”.

“Ưu tiên”, “quan tâm” và “tạo thuận lợi” cho Kiều bào ra sao thì ông Sang hãy đọc những lời trăn trở để rút khỏi Việt Nam của thương gia Phạm Văn Thắng.

Ông Sang cũng cần nhìn ra sự thất bại của Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài, sau 10 năm thi hành Nghị quyết 36, đã không sao lôi kéo được thế hệ Việt kiều thứ hai ra đi  sau 1975 mà cả với thế hệ thứ ba và thứ bốn sinh ra ở nước ngoài cũng không ai muốn về nước sống chung với chế độ Cộng sản còn tiếp tục tước đoạt các quyền tự do cở bản của người dân.

Do đó, ông Chủ tịch nước cũng không nên hờn dỗi nói rằng : “Mỗi dịp Xuân về, người Việt Nam dù ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về quê hương, thắp nén hương cho ông bà tổ tiên, thăm lại nơi chôn rau cắt rốn. Đó là truyền thống, đạo lý quý báu của ông cha ta truyền lại qua ngàn đời, được cả dân tộc gìn giữ và nâng niu. Nhưng chúng ta không khỏi chạnh lòng khi hàng chục triệu lượt kiều bào đã trở về thăm Tổ quốc, thì vẫn còn một bộ phận nhỏ chưa một lần về lại quê cha đất Tổ kể từ khi cất bước ra đi. Họ vẫn còn định kiến, mặc cảm của quá khứ. Họ có hiểu chăng đất mẹ luôn mở rộng vòng tay nhân ái cho mọi người con trở về trong đùm bọc và yêu thương. Tôi mong rằng sẽ sớm có một ngày 4,5 triệu người Việt Nam nước ngoài đồng lòng như một, hướng về Tổ quốc, chung tay góp sức làm rạng rỡ cho non sông gấm vóc Việt Nam.”

Ông Sang bảo chỉ “còn một bộ phận nhỏ”  trong số 4.5 triệu Kiều bào không muốn thân thiện với nhà nước và đảng CSVN thì hoặc ông đã bị cấp dưới nịnh hót báo cáo sai, hay ông đã không dám nhìn vào sự thật để thất vọng thấy rằng nếu có một cuộc trưng cầu ý kiến thì sẽ thấy  số người Việt ở nước ngoài muốn về Việt Nam sinh sống không có bao nhiêu vì có ai dại để đánh mất tự do bao giờ ?

LÝ LUẬN DƯƠNG TRUNG QUỐC

Bài viết thứ hai cần bàn tới là của Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.

Ông Dương Trung Quốc, quê quán xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, sinh năm 1947 và lớn lên tại Hà Nội.

Ông không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng được đảng chọn là Đại biểu Quốc hội của Tỉnh Đồng Nai từ các khóa XI, XII và XIII. Ông cũng là một trong số rất hiếm người đã có những phát biểu thẳng thắn trong các kỳ họp quốc hội.

Ông còn là một trong số 2 Đại biểu Quốc hội “không bấm nút chấp thuận bản Hiến pháp sửa đổi 1992 sáng ngày 28/11/2013”, với lý do ông đứng về phía những người dân “có ý kiến khác”, nhất là việc Quốc hội đã “luật hoá” Cương lĩnh của Đảng gọi là  “Xây dựng đất nước trong thời ký qúa độ lên Xã hội Chủ nghĩa”.

Với tiêu đề “Hòa hợp dân tộc là quy tụ được nhân tâm” đăng trên báo Lao Động điện tử, Cơ quan của Tổng kliên đoàn Lao động Việt Nam, ngày 19/02/2015 (Mồng Một Tết), ông Quốc viết: “ Hiệp định Genève  (20/07/1954) được ký kết tạm thời chia cắt đất nước, nhưng rồi sự tạm thời ấy không thể giải quyết vấn đề thì chúng ta lại phải tiếp tục sự nghiệp chiến đấu, ngay cả khi Mỹ can thiệp vào, chúng ta phải tiến hành kháng chiến chống Mỹ”.

Thiết nghĩ, là Nhà Sử học thì ông Dương Trung Quốc biết rõ hơn mọi người về sự khác biệt giữa “tiếp tục sự nghiệp chiến đấu” cho chính nghĩa hay “kháng chiến chống Mỹ” như “chống Pháp giành độc lập” trước đây.

Khác với cuộc chiến chống Pháp của toàn dân chứ không của riêng người Cộng sản, chủ trương “xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa” của đảng CSVN ở miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) sau Hiệp định Geneve 1954, là nguyên nhân của cuộc nội chiến nồi da xáo thịt đồng bào kéo dài 20 năm, 1955 -1975.

Ông Dương Trung Quốc đã thần thánh hóa nhóm chữ “sự nghiệp chiến đấu” và “kháng chiến chống Mỹ” để xóa đi tội ác xâm lược miền Nam của đảng CSVN. Từ Chính quyền Quốc gia Việt Nam sau Hiệp định Geneve 1954 (Ngô Đình Diệm)  đến các Chính phủ Việt Nam Cộng hoà sau này (1956-1975), chưa  khi nào Quân đội của miền Nam đã vượt Vỹ tuyến 17 chia đôi đất nước để trả đũa các cuộc tấn công của Bộ đội miền Bắc.

Ngược lại chính quyền Cộng sản miền Bắc đã bịa đặt ra chuyện đồng bào ruột thịt nhân dân miền Nam bị kìm kẹp trong gông cùm của Mỹ-Ngụy nên đã xâm nhập người và vũ khí vào Nam để mở ra chiến tranh dưới chiêu bài “giải phóng”!

Miền Bắc cũng đã mời  320,000 quân Trung Quốc vào giúp  bảo vệ miền Bắc để cho bộ  đội rảnh tay mang súng đạn của các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa do Nga Sô lãnh đạo vượt Trường Sơn vào đánh phá  VNCH.

Nhưng chắc ông Dương Trung Quốc, Nhà biên sử, làm sao có thể quên câu nói để đời của Tổng Bí thư Lê Duẩn : “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta.”  ? (theo  Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 422, phần chú thích)

Như vậy thì chính nghĩa “giải phóng” cho ai và vì ai đã rõ chưa mà Đại biểu Dương Trung Quốc  vẫn viết rằng: “Trong sự kiện 30.4.1975, ta dùng chữ “giải phóng” là rất đúng, nhưng giải phóng là hướng tới mục tiêu không chỉ độc lập dân tộc, mà quan trọng nhất, thiêng liêng nhất là thống nhất quốc gia. Ngày nay, rõ ràng chúng ta đang nối tiếp sự nghiệp ấy bằng việc bảo toàn sự toàn vẹn lãnh thổ, kể cả biển đảo. Tôi cho rằng, đương nhiên một cuộc chiến tranh có kẻ thắng người thua, nhưng quan trọng nhất là chúng ta đạt được mục tiêu. Mục tiêu không phải chúng ta chiến thắng đối phương, mà đó chỉ là phương thức để đạt tới mục tiêu thống nhất đất nước”.

Lý luận con loăng quăng của Tổng Thư ký  Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam chỉ để giảm thiểu tính gỉa dối của hai chữ “giải phóng” và phủi trách nhiệm lịch sử đối với những người, ở cả hai bờ chiến tuyến, đã nằm xuống.

Trong suốt 20 năm chiến tranh, dù phải đối phó với cuộc xâm lăng tàn bạo của bộ đội Cộng sản miền Bắc và du kích quân Cộng sản trong Nam do miền Bắc chỉ huy, nhân dân miền Nam chưa hề bao giờ bị ai “kìm kẹp, áp bức, bóc lột sức lao động hay thiếu ăn, thiếu mặc và nghèo nàn” như đồng bào miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa.

Nếu ông Quốc bình tĩnh lấy kính hiển vi soi lại mức sống và tình trạng xã hội của  miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì ông sẽ thất vọng khi biết đã có những người lính bộ đội bật khóc khi vừa đặt chân đến Sài Gòn hoa lệ của miền Nam, trong ngày được gọi là “giải phóng” vì đến lúc đó họ mới biết đã bị đảng đánh lừa đẩy vào cuốc chiến vô lý.

Câu nói nổi tiếng nhất trong họ là của Bà Dương Thu Hương, Nhà văn gốc Bộ đội : “Tôi đã ngồi phệt xuống vỉa hè Sài Gòn khóc, tôi biết miền Nam đã giải phóng miền Bắc chứ không phải ngược lại.”

Bằng chứng lịch sử đã nói nhiều về sự khác biệt giữa hai xã hội Nam-Bắc khi họ bước chân vào Thủ đô Sài Gòn và các thành thị miền Nam mà không cần phải biện giải thêm.

Hơn thế nữa,  theo theo 4 định nghĩa của “Đại từ điển tiếng Việt” của Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin năm 1998 thì nghĩa của  “giải phóng” là : 1.- Làm cho thoát ách áp bức, được tự do:giải phóng đất nước. 2.- Làm cho thoát khỏi những ràng buộc bất hợp lí: giải phóng phụ nữ. 3.- Làm cho hết mọi cản trở để thực hiện mục đích: giải phóng mặt bằng. 4.- Làm cho chất này được thoát khỏi chất khác: Phản ứng hoá học đã giải phóng chất khí.

Như vậy, sự kiện 30.4.1975  không thể gọi là “giải phóng” như ông Dương Trung Quốc đã bẻ cong tiếng Việt cho phù hợp với tư duy chính trị  của Đại biểu Quốc hội, thay vì phải trung thực và trong sáng trong quan điểm của nhà viết sử.

Đồng bào miền Nam không cần miền Bắc giải phóng. Đảng và quân đội CSVN đã xâm lược và chiếm đóng Việt Nam Cộng hòa để thống nhất đất nước bằng võ lực để sau đó gây ra thảm trạng ngụy trang “học tập cải tạo”dành cho hàng trăm ngàn quân và dân miền Nam.

Cũng vì hai chữ “giải phóng” lừa bịp mà hàng chục ngàn con dân Việt Nam vô tội  khác đã phải bỏ mình ở Biển Đông trên đường vượt biển tìm tự do.

Hai chữ “giải phóng” cũng đã bần cùng hoá nhân dân đô thị miền Nam đang từ no cơm ấm áo xuống hàng nô lệ bần cùng trong chiến dịch đuổi dân đi vùng “kinh tế mới” và “cải tạo tư sản miền Nam” hay “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh miền Nam” , bắt đầu từ ngày 04/09/1975 chủ động trên giấy tờ bởi chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Sau đó,  giai đọan 2 từ ngày 15/07/1976, làm theo Nghị quyết 254/NQ/TW của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam (sau này đổi thành Đảng Cộng sản Việt Nam) quy định “ về những công tác trước mắt ở miền Nam, hoàn thành việc xoá bỏ giai cấp tư sản mại bản, tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh.”

Sau chiến dịch sai lầm tận diệt tư sản – mại bản trong Nam, kết thúc năm 1978, nhân dân cả nước lâm vào đói kém khiến đảng phải “đổi mới  hay là chết” tại kỳ Đại hội đảng VI năm 1986.

Đó là bài học “giải phóng”, không phải cho người dân miền Nam, phe bại trận mà cho chính những kẻ chiến thắng ngạo mạn chưa bao giờ biết rằng “lịch sử cũng biết nói”.

Rất tiếc Nhà sử học, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc không muốn dừng ở đây. Ông Quốc nhìn nhận lòng người trong-ngoài vẫn còn phân tán nhưng không quy trách nhiệm cho ai đã gây ra tình cảnh như bây giờ, 40 năm sau cuộc chiến chấm dứt.

Ông viết: “ Chúng ta luôn tự hào nói về một cộng đồng hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài, nhưng thực sự khiến cho cộng đồng ấy gắn bó với tổ quốc ta và chế độ chính trị của ta là một quá trình phấn đấu lâu dài. 

Vì thế tôi cho rằng, năm nay kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta nên xác định và chia sẻ nhận thức ấy để thấy điều quan trọng hiện nay là phải quy tụ được nhân tâm vì đất nước….Trong hòa hợp dân tộc, nói về sự phân tâm chúng ta biết rằng nó gắn với những biến cố chiến tranh. Quy luật chiến tranh rất khắc nghiệt, có máu đổ xương rơi từ cả hai phía, có những chính sách khắc nghiệt để lại những vết hằn khó lành.”

 

KHÔNG LÀM ĐƯỢC-TẠI SAO ?

Nhưng tại sao lại “khó lành” thì người Việt Nam ở nước ngoài và rất nhiều người trong nước, đặc biệt là giới Trí thức và cựu đảng viên biết rất rõ, sau khi đã cả đời hy sinh mà cuộc sống bây giờ vẫn còn hẩm hiu hơn kẻ hậu sinh chưa mất một giọt máu trên chiến trường.

Những người này đang ngày đêm đấu tranh đòi dân chủ và tự do cho con cháu và cho thế hệ mai sau, nhưng lại bị đảng đàn áp và cô lập, có người đã hết cả đường kiếm sống thì Nhà nước CSVN muốn hòa hợp và hòa giải với ai ?

Do đó khi nghe ông Dương Trung Quốc kêu gọi người  bỏ nước ra đi vì không còn đường sống với người Cộng sản “cũng phải hiểu tại sao lúc đó chúng ta phải tiến hành những chính sách cứng rắn như thế. Nhìn lại quá khứ ta thấy rằng, chiến tranh vừa kết thúc, nền kinh tế còn chưa khôi phục, kẻ thù cũ vẫn cấm vận và chống phá, lại xuất hiện những kẻ thù mới vốn là đồng minh của mình, mà cuộc chiến tranh biên giới ở Tây Nam và phía Bắc thể hiện những khó khăn chồng chất ấy. 

Trong bối cảnh đó, những người cầm quyền cũng không còn cách nào khác, buộc phải đối xử bằng một chính sách rất khắc nghiệt. Nếu chúng ta chia sẻ được với hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì sẽ giảm đi phần nào những mặc cảm, hận thù.”

Ông Quốc phát biểu như thế vì ông chưa hề bao giờ là nạn nhân của kẻ chiến thắng. Câu chuyện không đơn giản như rủ nhau ngồi vào chiếu rượu để uống cho say bí tỉ rồi bắt tay nhau cười vang “đòan kết, đại đòan kết” là xong.

Không hiểu Nhà sự học Dương Trung Quốc còn nhớ câu nói của ông Nguyễn Đức Bình, Giáo sư triết học, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị khóa VII, VIII, nguyên Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, một thời đã nói chủ trương của đảng là “đổi mới nhưng không đổi màu”, “hoà hợp mà không hòa tan ” ?

Chân lý cực kỳ bảo thủ này vẫn đang được học tập và áp dụng sâu rộng trong đảng, nhất là khi Ban Tuyên giáo nói về “hòa hợp-hòa giải dân tộc”, tuy màu mè, hào sảng nhưng “trăm voi không được bát nước xáo” !

Vì vậy, sẽ không ngạc nhiên khi thấy ông Quốc nêu ra ý kiến : “
Trong vấn đề hòa hợp dân tộc, cái chưa được là sự chênh lệch giữa những con người ở hai phía. Trong đó, một phía muốn đi nhanh hơn, còn một phía vì nhiều lý do mà muốn phải đúng mực. Như vậy, cả hai bên phải cùng thúc đẩy phải có sự trao đổi để gặp nhau.”

“Tôi thấy một nguyên lý của người xưa rất đúng là phải đặt vào địa vị người khác mới hiểu được người ta. Tôi suy nghĩ về việc có phải đây là sự chìa bàn tay của người chiến thắng với kẻ thua hay đây là trách nhiệm chung đối với tương lai, con cái của mình.”

Thiện ý của ông Quốc rất đáng để tâm, nhưng chưa ai quên được những cố gắng “hòa hợp-hòa giải” thất bại của hai Việt kiều nổi tiếng là nguyên Phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ và Nhạc sỹ Phạm Duy.

Hai ông đã đem về Việt Nam cả sự nghiệp và danh dự cá nhân cốt để “người chung một nước phải thương nhau cùng” ! Nhưng sau 7 năm trăn trở đi-về giữa Mỹ và Việt Nam từ 2004 đến ngày qua đời ở Kuala Lumpur (Mã Lai Á) 23/07/2011, ông Kỳ đã không làm được gì cho đúng với “biểu tượng của hoà hợp dân tộc” mà phiá chính quyền Cộng sản đã tặng cho ông.

Nhạc sỹ Phạm Duy về Việt Nam sinh sống từ ngày 17/05/2005 cũng với ý tưởng “người Việt hãy ngồi lại với nhau”, nhưng sau 8 năm rong hát đó đây từ Nam ra Bắc như ông tự coi mình là  “lá rụng về cội”, Phạm Duy  qua đời tại Sài Gòn ngày 27/01/2013,  hơn một tháng sau khi người con trai cả của ông, Ca sỹ Duy Quang qua đời tại California ngày 20 tháng 12 năm 2012.

Sự ra đi của 2 mẫu người trong chuyện “hòa hợp-hòa giải dân tộc” tưởng là chuyện thường sinh-lão-bệnh-tử, nhưng đằng sau vẫn có một hố ngăn cách để giải thích tại sao chuyện “con cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” vẫn còn nhiều kẻ muốn đá giò lái khi ngoài miệng thì vẫn nói cười hòa hợp trơn hơn mỡ lợn !

BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

Đó là những gì mà Tác gỉa Thiện Văn của báo Quân đội Nhân dân đã viết trong bài “Cầu đồng tồn dị”, vì mục tiêu tốt đẹp của đất nước”, ngày 23/02/2015

Tác giả khoe : “ Thấm nhuần tư tưởng “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, một mặt, dân tộc Việt Nam dám đánh, quyết đánh và đánh đến cùng bọn xâm lăng cướp nước; nhưng mặt khác, dân tộc ta cũng rất khoan dung, độ lượng. Khi giặc đầu hàng, không những không trả thù, mà ngược lại còn đối đãi tử tế và cấp phương tiện, lương thảo cho chúng trở về nước. Hiếu sinh mà không hiếu sát, căm thù quân xâm lược mà không giết hại khi chúng thất bại là truyền thống nhân nghĩa cao cả của dân tộc ta. Với con người Việt Nam, sau khi “Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”!  

Bài báo nói vậy mà không phải vậy khi đảng CSVN, một mặt phỉ báng những ai nghi ngờ sẽ có “tắm máu, trả thù ở miền Nam” sau ngày 30/04/1975, nhưng lại đánh lừa hàng trăm ngàn quân-cán-chính thất  trận của VNCH đem đi đầy ải cực hình tại các trại tù lao động mệnh danh “học tập cải tạo”.

Rất nhiều nạn nhân của chế độ mới đã bị chết mất xác, bị đổi xử tệ bạc và bị hành hạ thân xác trong các nhà giam bị bỏ đói, bị chết khát, bị còng tay chân đến mang thương tật cả đời và bệnh tật không được chữa trị. 

Thế mà báo Quân đội Nhân dân vẫn tự khoe những điều không có thật : “Mang trong mình phẩm chất, tâm thế ấy từ hàng nghìn đời nay, dân tộc ta luôn mở rộng vòng tay để đón bạn bè khắp năm châu bốn biển, trong đó có cả những người Việt đã từng một thời “lạc lối lầm đường”. Với những người như thế, Đảng, Nhà nước ta luôn lấy tình đồng bào để cảm hóa họ, giúp họ hướng về điều hay lẽ phải và những giá trị, niềm tin tốt đẹp của cội nguồn, dân tộc. Trong mấy chục năm qua, nhất là sau khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới (1986), Đảng, Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm tập hợp, đoàn kết mọi giai cấp, tầng lớp và lực lượng trong xã hội với thái độ “cầu đồng tồn dị”, lấy cái chung nhất, lớn nhất để cùng chung sống hòa thuận, gắn bó với nhau, không vì cái nhỏ, cái khác biệt trong suy nghĩ, phong tục, tập quán, lối sống mà gây chia rẽ, mất đoàn kết; đồng thời chấp nhận sự khác biệt giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc sinh sống trên đất nước ta và người Việt ở nước ngoài, nhưng không trái với mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhưng khi nói rằng đảng “chấp nhận sự khác biệt giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc sinh sống trên đất nước ta và người Việt ở nước ngoài, nhưng không trái với mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”  thì đó là điều kiện tiên quyết không cần bàn cãi mà trên hết phải tuân hành, chấp nhận “chủ nghĩa xã hội”, hay chủ nghĩa Cộng sản cũng thế !

Như vậy là chỉ có đảng có lẽ phải, ai muốn “hòa hợp” thì chui vào, không có quyền  bàn cãi phải trái ?

Thiện Căn cũng không ngại lên giọng : “Đối với những người “đi theo phía bên kia” trong các cuộc chiến tranh trước đây, chúng ta sẵn sàng “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho họ hồi hương, thăm thân và hợp tác làm ăn cùng xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.

Từ Cương lĩnh của Đảng đến Hiến pháp của Nhà nước đều khẳng định: Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Từ chủ trương đúng, chính sách nhất quán và thái độ ứng xử trước sau như một, hằng năm số Việt kiều về thăm quê hương ngày càng đông, góp sức người, sức của cho Tổ quốc ngày càng nhiều”.

Nhưng về thăm quê hương đâu có nghĩa là cuốn gói đi theo đảng ? Việt kiều gửi tiền  giúp gia đình cũng không đồng nghĩa với “giúp nước” của người Cộng sản ?

Sau khi khoe “Chỉ tính 4 năm trở lại đây, lượng kiều hối chuyển về nước liên tục gia tăng. Nếu như năm 2000, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam mới đạt 1,3 tỷ USD, thì mười năm sau, năm 2011 con số này lên tới 9 tỷ USD. Ba năm qua (2012-2014), lượng kiều hối tăng dần từ 10, 11 đến 12 tỷ USD”,  bài báo tự vẽ ra điều được gọi là “niềm tin” của Kiều bào với nhà nước : “Đó là những “con số biết nói” thể hiện niềm tin của bà con Việt kiều đối với môi trường hòa bình, ổn định của đất nước và những triển vọng tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trên con đường xây dựng và phát triển.”

Có đúng như Thiện Căn và báo Quân dội Nhân dân tự biên tự diễn về một sự đồng thuận chính trị nào đó đã gắn kết đảng CSVN với người Việt Nam ở nước ngoài, hay cũng chỉ là câu chuyện “hòa hợp để mồi đầu tư và  hòa giải để được thêm kiều hối” ?

Phạm Trần

Read more

Hoa Lục lập danh sách đen những quan chức can thiệp vấn đề pháp lý

VRNs (01.03.2015) – Manila, Phi – Hãng tin Reuters dẫn phương tiện truyền thông nhà nước cho biết vào hôm thứ Sáu rằng, Hoa Lục sẽ lên danh sách đen và trừng phạt các quan chức đã can thiệp vào việc điều tra tư pháp và xét xử tại tòa.

Đảng Cộng sản cầm quyền Hoa Lục đã công bố việc cải cách pháp luật nhằm tạo nhiều khó khăn đối với cán bộ lộng hành trong việc chi phối các cơ quan tư pháp.

Hãng tin Tân Hoa Xã trích dẫn một tuyên bố sau một cuộc họp nhằm mục đích cải cách bộ phận giám sát của chính phủ rằng “Hệ thống cải cách tư pháp mới sẽ có tác dụng như một bức tường lửa để bảo vệ tính độc lập của ngành tư pháp.”

“Đảng và các quan chức chính phủ có trách nhiệm quan trọng trong việc áp dụng các quy định của pháp luật. Chính vì thế các bộ phận này nên hạn chế can thiệp vào vào các cuộc điều tra tư pháp và xét xử.”

Với những cải cách pháp lý trong thời gian qua, bộ máy chính phủ dưới sự lãnh đạo của Chủ Tịch Tập Cận Bình vẫn không quan tâm là mấy đến việc áp dụng cải cách trong thực tế. Hàng chục nhà bất đồng chính kiến, bao gồm các luật sư đã bị bắt trong năm vừa qua.

Đảng Cộng Sản Hoa Lục cũng khẳng định rằng Hoa Lục không nên áp dụng hệ thống tư pháp độc lập của phương Tây. Phán quyết cuối cùng cần được quyết định bởi đảng cầm quyền chứ không phải từ phía thẩm phán, đặt biệt là với các trường hợp nhạy cảm.

Tòa án Tối Cao Hoa Lục nhấn mạnh về một trong năm nguyên tắc cơ bản của việc cải cách tư pháp là tôn trọng quyền lãnh đạo của đảng và “bảo đảm tính đúng đắn trong các định hướng chính trị”.

Bách Hợp

Read more