|
LINH MỤC NGÀY
NAY
Gm John R. Quinn

(Chúng tôi xin gửi đến quý vị bài viết này của Đức Cha John R. Quinn,
trước đây Ngài từng là Tổng Giám Mục San Francisco, California, USA.)
Từ khi bắt đầu làm Giám Mục, 32 năm trước đây, tôi đã có dịp gặp gỡ và làm
việc với nhiều linh mục khắp nơi tại Hoa Kỳ. Tôi đã từng
là Giám Mục một giáo phận miền quê, rồi Giám Mục một
giáo phận ở thành thị. Tôi đã từng đi giúp tĩnh tâm cho
các linh mục ở Miền Đông, Miền Tây và miền Trung Tây Hoa
Kỳ. Tôi đã cùng làm việc với các linh mục trong các Uỷ
Ban và trong Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ. Ở đây,
tôi chỉ muốn trình bày hình ảnh linh mục của giai đoạn
lịch sử này – Lúc này là vào tháng 7 năm 2002.
Cách đây vài năm,
tôi có dịp đến giảng tĩnh tâm cho các linh mục tại một
giáo phận và nhân lúc ăn trưa, nhiều linh mục đến nói
chuyện với tôi về số linh mục giảm sút tại Hoa Kỳ, rồi
hỏi tôi các Đức Giám Mục tại Hoa Kỳ đang làm gì để đối
phó với sự giảm sút tăng nhanh đó. Tôi nói là đã có
những cuộc bàn thảo về làm cách nào để cổ võ ơn gọi làm
linh mục; tuy nhiên, theo như tôi biết, thì chưa có một
kế hoạch thực sự nào có tính cách toàn quốc để đáp ứng
với vấn đề này. Nghe tôi nói như thế, các linh mục đó tỏ
ra thất vọng; tuy nhiên, có một linh mục nói với tôi:
"như vậy thì thật đáng thất vọng cho anh em linh mục
chúng con; nhưng chúng con vẫn quyết trung thành với sứ
vụ linh mục để phục vụ Chúa và Dân Chúa!"
Thật sự, tinh thần
trung thành phục vụ đó, tôi gặp thấy khắp nơi tại Hoa
Kỳ. Các linh mục tại Hoa Kỳ đang âm thầm và trung tín
thực thi sứ vụ linh mục của mình một cách tuyệt hảo với
tất cả khả năng của mình. Nhiều linh mục đang sống một
cuộc sống anh hùng. Họ sống thầm lặng không cần ai biết
tới. Họ đặt nền tảng đời sống của họ vào lời cầu
nguyện và niềm tin tưởng phó thác nơi Chúa.
Họ luôn ấp ủ một niềm lắng lo sâu xa, tinh tuyền cho Dân
Chúa. Hiệu quả của đời sống chiêm niệm và phục vụ của
các anh em linh mục đó là họ có thể nhìn thấy Chúa Giêu
trọn vẹn là đầu, là chi thể, là Thiên Chúa và Dân Chúa.
Đời sống chiêm niệm không khép kín các linh mục đó nơi
Chúa Kytô mà quên Dân Chúa. Các linh mục đó không chỉ
nguyên lo cho đời sống thiêng liêng của mình, nhưng các
ngài được nâng đỡ, được phong phú hóa và tìm thấy sức
mạnh ngay khi sống cho giáo dân và sống giữa giáo dân.
Họ gặp thấy Chúa Kytô ngay khi làm việc với giáo dân
cũng như khi âm thầm cầu nguyện một mình. Họ thật sự đã
sống sâu xa lý tưởng linh mục đã được ghi lại trong Phúc
Âm Thánh Gioan, Chương X: "Người mục tử tốt lành là
người mục tử dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn
chiên!"
Bất cứ ở đâu, kể
cả khi tôi đi nghỉ hè với các linh mục, tôi cũng thấy họ
bàn đến sinh hoạt giáo xứ của mình, về những dự án ích
lợi hay không ích lợi cho giáo dân, những cảm nghĩ về
các biến cố và chủ trương trong đời sống Giáo Hội. Nói
cách khác, các linh mục đó là những người luôn tập trung
tất cả nghị lực để phục vụ giáo dân và Giáo Hội Chúa.
Chức linh mục của các linh mục đó không phải chỉ là một
nghề hay một công việc, nhưng là cả một cuộc đời! (their
priesthood is neither an avocation nor a job. It is
their life!). Các linh mục đó làm tôi xúc động nhớ đến
một lần khi một chính trị gia nổi tiếng toàn quốc đến
nhà dùng cơm chiều với tôi. Từ khi ông đến cho đến khi
về, ông chỉ nói về chính trị. Có thể nói chính trị là đồ
ăn thức uống của ông. Cũng tương tự như vậy, tôi đã gặp
nhiều linh mục luôn luôn lo lắng cho giáo dân. Các ngài
là những chủ chăn mà đồ ăn thức uống là Giáo Hội, giáo
xứ và giáo dân. Công việc mục vụ là trung tâm cuộc sống
của họ.
Tôi biết có những
linh mục vẫn giữ việc nguyện ngắm hàng ngày, vẫn đều đặn
đi tĩnh tâm, đi "bàn việc linh hồn" và đi xưng tội. Tôi
vẫn thường đi chung xe với những linh mục có treo tràng
chuỗi trên xe hoặc để ở một dĩa nhỏ gần chỗ ngồi. Trên
bàn ở phòng khách của nhiều linh mục vẫn để những cuốn
Thánh Kinh, và trên giá sách vẫn để những cuốn sách chú
giải Thánh Kinh, những sách đạo đức và những sách tra
cứu để dọn bài giảng. Tuy nhiên, trong "cốp xe" của các
linh mục đạo đức này, vẫn có cây đánh gôn, đồ đi trượt
tuyết hoặc đi săn. Đó là các linh mục biềt sống đời sống
nội tâm sâu xa, nhưng cũng biết dành thời giờ giải trí
để giữ đời sống được quân bình. Đan cử như Đức John
Henry Newman, dù đem hết tâm lực dấn thân vào đời sống
mục vụ và viết sách, ngài cũng vẫn thích đi thăm sở thú.
Thỉnh thoảng, kể cả khi ngài đã làm Hồng Y và khi tuổi
đã lớn, ngài vẫn đi xe lửa lên London để thăm sở thú cả
một ngày. Có khi Ngài làm cho Đức Hồng Y Henry Edward
Manning cũng phải ngạc nhiên, khi thấy ngài đến thăm và
ngủ lại đêm với ông bà mục sư Niên Trưởng Anh Giáo tại
nhà thờ Thánh Phaolô (Luân Đôn).
Việc có những linh
mục làm gương xấu vì bị tố là lạm dụng tính dục đã gây
đau khổ cho các linh mục ngày nay. Tại California, những
khủng hoảng về tài chánh và tính dục ở địa phận Santa
Rosa đã làm chúng ta bận tâm rất nhiều. Không lâu trước
đây, "Kansas City Star" có báo cáo là một số linh mục bị
bệnh "Aids". Nhưng những nghiên cứu sau đó đã chứng tỏ
là bản báo cáo và những cuộc điều tra của họ rất thiếu
sót và thiếu xác thực. Tất nhiên, bên cạnh những điều
tốt lành của các linh mục cũng vẫn có những gương xấu
nơi một số linh mục đã không được huấn luyện thuần thục
để có thể trưởng thành về tâm lý và tình cảm. Một số còn
lại bị ảnh hưởng xấu lúc tuổi trẻ hoặc xuất thân từ
những gia đình không được hòa thuận. Một số, nay đã lớn
tuổi, bị như vậy cách trầm trọng, vì đã bị giáo dục một
cách khép kín trong thời gian ở Chủng Viện vào thời
trước công Đồng Vatican II.
Có những linh mục,
cũng giống như nhiều nhân vật hoạt động cho quần chúng,
thời xưa cũng như thời nay, thường không chịu tìm kiếm
sự nâng đỡ và những trị liệu tâm lý, sợ rằng sẽ bị thiên
hạ kết án, hoặc có thể nêu gương xấu. Họ nghĩ "nếu thiên
hạ biết tôi phải đi bác sĩ tâm lý, chắc sẽ cho là tôi
đang gặp vấn đề thác loạn tâm lý trầm trọng đáng tiếc."
Một số khác sợ sẽ bị "tẩy chay" nếu phải đi chữa bệnh
tâm lý. Vì thế, "vấn đề" của họ cứ âm ỉ và liên tục phát
triển cho đến lúc "bùng nổ thảm hoạ". Ráng "kìm hãm" là
một yếu tố gây thảm họa.
Vậy phải giải
quyết các nan đề đó như thế nào?
Trước hết phải bỏ
đi ảo tưởng là các bệnh họan đó ngày xưa không có và sẽ
hết đi trong một tương lai gần. Thực sự những bệnh tâm
lý đó vẫn luôn xảy ra. Bao lâu chúng ta còn mang bản
tính con người, những "vấn đề" đó vẫn tồn tại và liên
tục xảy ra. Điều đó trước đây người ta đã hiểu không
đúng.
Bây giờ người ta
hay phiền trách các Đức Giám Mục là đã không biết cách
giải quyết đúng vấn đề gây ra do bệnh "mê trẻ em
(pedophilia) hay "bệnh mê thiếu niên" (ephebophilia).
Mà làm sao các vị Giám Mục biết được, trong khi chính
các nhà chuyên môn tâm lý cũng không biết, hay biết rất
ít về các bệnh tâm lý này. Hồi xưa không có vấn đề khảo
sát về bệnh "mê trẻ em" mãi cho đến cách đây chừng 15
năm. Một bác sĩ tâm thần nói với tôi là trong thời gian
học tập lâu dài, ông chỉ được nghe thuyết trình vào
khoảng 2 giờ đồng hồ về "bệnh mê trẻ em" (Pedophilia).
Thường thì các
phương tiện truyền thông thích khai thác vấn đề tu sĩ
lạm dụng tính dục. Điều này càng làm cho các linh mục
thêm đau buồn. Khi một linh mục ở San Francisco bị nêu
tên liên tục trên báo chí về tội xâm phạm tính dục, một
viên chức cảnh sát đến nói với tôi rằng trong năm đó ông
phải xử lý 1,100 vụ lạm dụng tính dục trẻ em của đủ thứ
người khác nhau, nhưng trong đó chỉ có một linh mục, thế
mà dân chúng lại chỉ biết đến trường hợp của linh mục đó
thôi.
Những nghiên cứu
và thực tế cho thấy: Hầu hết các linh mục yêu mến công
việc mục vụ của mình, biết đặt trọng tâm đời sống trên
nền tảng đức tin. Đa số biết cảm nhận được niềm vui sâu
xa, thầm lặng qua việc cử hành Thánh Lễ.
Đứng trước những
thử thách hiện nay, các linh mục đó biết tìm ra đường
hướng giải quyết các vấn đề nghiêm trọng có thể gây
phiền muộn và nản lòng. Hơn nữa, các linh mục đó luôn
cảm nhận được sự nâng đỡ và yêu thương của giáo dân. Nhờ
thế, các ngài cảm thấy không bị cô đơn trong cuộc sống.
Vậy, viễn tượng
không phải là đen tối đâu!
Tôi tin rằng lúc
này là thời gian tốt nhất trong lịch sử của Giáo Hội để
sống đời linh mục; vì lúc này là lúc chỉ có một lý do
duy nhất để đi tu làm linh mục hay tiếp tục đời linh
mục, đó là chỉ để sống với Chúa Kytô và sống vì Chúa
Kytô chứ không phải vì để được lợi ích vật chất hay để
được ca tụng, kính nể hay để có địa vị hay tiền của hoặc
các lợi ích trần gian khác. Những điều trên đây hoặc
chẳng còn hoặc rồi cũng mau chóng hết đi. Linh mục ngày
nay bó buộc phải chọn lựa hoặc tự hiến toàn thân cho
Chúa Kytô, một Chúa Kytô chân thực, là Đấng đã sống
nghèo, nghèo đến độ bị người đời coi khinh, chối bỏ và
đánh giá sai lạc. Đó là một Chúa Kytô chân thực của Tin
Mừng. Nếu không sống như vậy, linh mục
sẽ như nhóm người lầm lạc thời Chúa Kytô, chỉ muốn sống
theo thói thường, sống theo thế gian, lúc nào
cũng muốn thịnh đạt.
Một linh mục lấy
Chúa Kytô làm trọng tâm đời sống và tình yêu của mình,
là một linh mục có thể đem lại cho Giáo Hội và Thế giới
điều mà thời nay mong đợi, đó là Niềm Hy Vọng. Giáo Hội
cần những người đi rao giảng. Đúng! Nhưng, hơn bao giờ
hết, lúc này Giáo Hội cần những chứng nhân đem lại Niềm
Hy Vọng.
(Bản dịch từ bài
báo "The Strenghts of Priests Today" của Đức Tổng Giám
Mục John R. Quinn, đăng trong Tuần Báo America, July
1-8, 2002 – Bản dịch do Linh Mục Anphong Trần Đức
Phương).
|