|
Thiên Chúa an ủi
như người mẹ an ủi con mình
Romano Guardini
(1885 - 1968) trong cuốn “The Living God” “Thiên Chúa Hằng Sống”
Lm Phạm Minh Thiện CSsR dịch

|
Về tác giả : Tuy
sinh ra tai Vêrôna, nước Ý, Romano Guardini đã lớn lên tai
Maine, Ðức quốc, nơi ông thân sinh đang phục vụ với tư cách
là lãnh sự Ý. Vì được hấp thụ nền giáo dục Ðức, khi lớn lên
ngài đã quyết định ở lại Ðức. Thời
còn trẻ, ngài học ngành hóa học và kinh tế học, rồi ngài
quay sang học thần học và thụ phong linh mục năm 1910. Từ
năm 1923 - 1939 (khi ngài bị Ðức quốc xã trục xuất), Ðức ông
Romano Guardini chiếm giữ ghế được thành lập cho ngài tại
đại học Berlin là “giáo sư triết tôn giáo và Nhãn Quan Công
Giáo (Weltanschauung). Sau thời chiến, những ghế như thế
cũng được thành lập lại cho ngài, trước là tại đại học
Tubigen, rồi sau tại đại học Munich (1948 - 1963).
Những
môn dạy rất được ngưỡng mộ tại những đại học này làm ngài
nổi tiếng như một trong những nhà đào tạo Công Giáo kiệt
xuất và thành công nhất của nước Ðức thời đó. Là một nhà
giáo, một văn sĩ và một diễn giả, ngài nổi tiếng là có khả
năng khám phá và giúp phát triển những căn bản của nền tu
đức nuôi dưỡng tất cả những gì là thiện hảo nhất trong đời
sống Kitô hữu. Sau
thời chiến, ảnh hưởng của Ðức ông Guardini càng tăng chẳng
những trong chức vị tại các đại học, mà cả qua nguồn khởi
hứng và hướng dẫn mà ngài đã đem lại cho phong trào thanh
niên Công Giáo Ðức, đã làm niềm tin của giới trở nên sinh
động.
Các tác phẩm của Ðức ông Guardini gồm cho những sách về suy
niệm, về giáo dục, văn chương, triết lý, thần học và nghệ
thuật. Trong những sách ấy, có lẽ cuốn nổi tiếng nhất là
cuốn : “Ðức Chúa” (The Lord, Le Seigneur) đã được liên tục
dịch ra nhiều thứ tiếng từ lần xuất bản lần thứ nhất vào năm
1937. Ngay cả thời nay, vô số độc giả vẫn tiếp tục được biến
đổi bởi những tác phẩm hay này, kết hợp một niềm khao khát
sâu sắc về Thiên Chúa với chiều sâu của suy tư và một lối
diễn đạt thú vị. |
Tối trước ngày Người chịu chết, vào giờ phút trọng đại cuối cùng
mà đã thốt ra những lời tâm huyết nhất, Người đã hứa điều
này với các môn đệ Người : “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ
ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn
mãi. Ðó là Thần Khí sự thật, Ðấng mà thế gian không thể
đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người.
Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở
trong anh em. Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng
anh em.” (Gioan 14, 16-18).
Chúng ta dịch cụm từ “Ðấng Bảo Trợ khác” là “Ðấng An Ủi khác”. Có
bao giờ bạn tìm hiểu sự kiện Thần Khí của Thiên Chúa được
gọi là Ðấng An Ủi không ?
Phụng vụ của Giáo Hội có một thánh thi tuyệt vời, là ca
tiếp liên trong ngày lễ kính Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Bài
thánh thi này hàm chứa một nét trầm tĩnh rất cảm động về sự
thánh thiện chân thật và gợi lên một bầu khí nội tâm rất sâu
sắc. Muốn hiểu được bài thánh thi này, chúng ta phải có một
tâm trạng hoàn toàn yên tĩnh và tập trung tâm trí cực độ,
chúng ta mới sẽ nghe được âm thanh sâu thẳm nhất của nó. Bản
văn Latinh biểu lộ một lòng sốt sắng trầm tĩnh mà không ngôn
ngữ nào có thể chuyển hết ý nghĩa và tâm tình ấy ra được.
Veni Sancte Spiritus, Et emitte supernae Lucis tuae radium |
Muôn lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến trần gian
từ trời cao gửi xuống nguồn ánh sáng tỏa lan.
|
Veni Pater pauperum, Veni Dator munerum Veni Lumen cordium |
Lạy Cha kẻ cơ bần, Đấng tặng ban ơn điển và soi dẫn nhân tâm
cúi xin Ngài ngự đến !
|
Consolator optime, Dulcis Hospes animae Dulce refrigerium |
Ðấng ủi an tuyệt diệu Thượng khách của tâm hồn ôi ngọt ngào êm dịu
dòng suối mát chảy tuôn !
|
In labore requies, In aestu temperies In fletu solatium. |
Khi vất cả lao công, Ngài là nơi an nghỉ, Gió mát đuổi cơn nồng,
Tay hiền lau giọt lệ.
|
O Lux beatissima, Reple cordis intima Tuorum fidelium. |
Hỡi hào quang linh diệu, xin chiếu giãi ánh hồng vào tâm hồn tín hữu
cho rực rỡ trinh trong.
|
Sine tuo numine Nihil est in homine Nihil est innoxium |
Không thần lực phù trì kẻ phàm nhân cát bụi thật chẳng có điều chi
mà không là tội lỗi.
|
Lava quod est sordidum Riga quod est aridum Sana quod est saucium |
Hết những gì nhơ bẩn, xin rửa cho sạch trong, tưới gội nơi khô cạn,
chữa lành mọi vết thương.
|
Flecte quod est rigidum Fove quod est frigidum Rege quod est devium |
Cứng cỏi uốn cho mềm, lạnh lùng xin sưởi ấm, những đường nẻo sai lầm,
sửa sang cho ngay thẳng.
|
Da tuis fidelibus In te confidentibus Sacrum septinarium |
Những ai hằng tin tưởng trông cậy Chúa vững vàng, dám xin Ngài rộng lượng
bảy ơn thánh tặng ban.
|
Da virtutis meritum Da salutis exitum Da perenne gaudium |
Nguyện xin Chúa thưởng công cuộc đời đầy đức độ ban niềm vui muôn thuở
Sau giờ phút lâm chung. AMEN . Halêluia |
Như chúng ta thấy, bài thánh thi này âm thầm bộc lộ, nói những
tâm tình phát xuất từ con tim. Ðây là một đối thoại dịu dàng
giữa con tim (tâm hồn) cùng những đau khổ và mệt mỏi của
mình, với Thiên Chúa là Ðấng An Ủi. Con tim biết rằng mọi
lời thốt lên đều được lắng nghe và được đáp lại. Bài thánh
thi này cho chúng ta một ý thức về ý nghĩa Thiên Chúa là
Ðấng An Ủi là thế nào.
Con
người nghĩ Thiên Chúa là một Ðấng Toàn Năng, là một Ðấng
Ðáng Khiếp Sợ và luôn hăm dọa. Nhưng tình thương của Người
còn gần gũi chúng ta hơn là người mẹ đối với đứa con của
mình, đứa con mà bà đang ấp ủ trên hai cánh tay, và bà chỉ
muốn mình là một dòng suối yêu đương nồng ấm đối với đứa con
của mình. Kinh Thánh có một lời tuyệt diệu của Thiên Chúa :
“Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy.”
Người muốn yêu thương chúng ta với một tình yêu am hiểu, cảm
thông, phó thác tuyệt đối.
Con
người nghĩ về Thiên Chúa như là một Ðấng thách đố khắt khe
và kiêu căng hống hách, hay như một Ðấng Thánh Thiện không
khoan dung. Nhưng thực sự Thiên Chúa gần chúng ta hơn bất cứ
một người yêu nào gần gũi người mình yêu nhất trên đời.
Người mang những lo lắng sâu thẳm nhất của chúng ta trong
tim Người và dành cho chúng ta một sự quan tâm theo dõi chưa
hề có ai làm như vậy được. Người tận tình dấn thân cho chúng
ta bằng một lòng tin tưởng không ngưng nghỉ vào người mình
yêu : “Con có đó ! Con có thể làm ! Và Ta sẽ ban cho con mọi
sự để con có khả năng trở nên điều mà Ta đã cấy trong lòng
con.”
Con
người nghĩ về Thiên Chúa như một Ðấng xa vời và không hiện
thực, và đó là một trong những cách hiểu sai tệ hại nhất của
họ. Quyền bính và sự uy phong đáng khiếp sợ là những điều
cao cả thật. Nhưng nghĩ về Thiên Chúa như là một cái gì trừu
tượng, biến tan Người trong hư vô còn đáng kinh khủng hơn
nữa! Ý nghĩ ấy kinh khủng, như thể mọi sự vật chung quanh
chúng ta, nhà cửa và cây cối, những con người và các biến cố
trở nên quá hiện thực đến độ chúng đè ép chúng ta, thế mà
lại nghĩ Thiên Chúa lại là một lý thuyết suông, một ý niệm,
một âm thanh vô bản chất, hoặc là một bầu khí mông lung !
Không, Thiên Chúa rất hiện thực. Lòng con người có thể cảm
nhận Người gần gũi biết bao ! Lòng con người có thể cảm
nghiệm sự hiện thực đang thức tỉnh và an ủi mình một cách
chắc chắn biết mấy ! Vì Thiên Chúa là Ðấng An Ủi.
x x x Ý
nghĩa của sự an ủi là thế nào ? Làm thế nào mà sự an ủi xảy
ra được ?
Ðã hẳn
không phải nhờ lý luận hay nhờ tính toán. Khuyên nhủ và
tranh cãi không đem lại chút an ủi nào : những cách ấy chỉ
để lại nơi chúng ta cảm giác lạnh lùng. Những cách ấy chỉ để
lại cho con người trong sự cô đơn với những khao khát và đau
khổ của mình. Chúng không mang đến cho con người được cái
gì. Nhưng lời an ủi thì tràn đầy sự sống ; lời an ủi có một
tính chất trực tiếp và một sự thân mật mà làm mọi sự vật
thành mới mẻ.
Muốn
an ủi, bạn phải yêu mến đã. Bạn phải mở cõi lòng bạn ra rồi
mới đi vào cõi lòng của người khác được. Bạn phải là người
biết quan sát ; bạn phải có một con tim thong dong và nhạy
cảm mà tìm ra con đường dẫn đến sự sống với một cảm thức an
toàn trầm tĩnh ; bạn phải có thể khám phá ra những chỗ đang
nhức nhối và đang héo tàn. Bạn phải có sự tế nhị và sức mạnh
để thẩm nhập vào trung tâm sinh động, vào cội nguồn sâu thẳm
của sự sống đang tàn lụi. Con tim phải kết hợp với cội nguồn
sự sống, phải thúc bách nó trở lại sự sống hầu nguồn sống ấy
có thể tuôn tràn đến những hoang địa và đổ nát trong nội
tâm. Làm được như thế mới thật là an ủi. Làm được như thế
mới là đánh thức, là làm phát sinh, và là sáng tạo. Làm được
như thế là làm xuất hiện cái cao đẹp nhất nơi con người
khác. Một sự an ủi như thế là giải phóng, ngay trong chính
hành động thẩm nhập. Sự an ủi như thế sẽ giải phóng, nâng
đỡ, và mở mang, nhưng là trong cung cách làm cho người đối
diện trỗi dậy lại được từ trung tâm đích thực của họ, và
giúp họ quyết tâm làm một khởi đầu mới.
Một
người đang bị tổn thương được an ủi, khi một ai đó yêu họ mà
khơi dậy được một năng lực đang tiềm tàng trong họ, hầu năng
lực ấy lưu chuyển được đến vết thương kia, như một dòng nước
có sức chữa lành. – Một người đã héo hắt trong đời sống
thiêng liêng đuợc an ủi, khi một ai đó yêu mến họ mà làm một
sức sống thoát ra được từ bên trong họ, và mọi sự lại được
phục hồi. – Một người đã đánh mất một số đồ quý giá, hay
đang thấy tất cả sự nghiệp bị phá hủy và tất cả niềm hy vọng
của mình tiêu tan như mây khói, gặp được sự an ủi, khi một
ai đó yêu mến mình mà liên kết bản thân họ với một cái gì
đang tàng trữ ở một cấp sâu thẳm hơn, đang nằm dưới của cải
cá nhân và công trình cá nhân của mình ;– hoặc liên kết bản
thân họ với ý chí sáng tạo căn bản của người bạn mà khơi dậy
nơi ý chí ấy một sinh hoạt mới ;– hoặc liên kết bản thân họ
với cái nội tâm sâu thẩm nhất của người bạn, làm người bạn
siêu vượt mọi thay đổi và mất mát, và cái đó là sức mạnh
muôn thuở của con tim, biết chấp nhận sự mất mát chỉ là mãt
mát trong thời gian, nhưng được lại cái mình mất mát đó từ
một niềm tin siêu vượt thời gian, vào Thiên Chúa. – Một
người mà tâm hồn đã ra hoen ố được an ủi khi gặp được một
người yêu thương mình có khả năng khám phá ra được sự thanh
khiết đang ẩn tàng dưới cái tội lỗi của mình, và khởi dậy
một lòng tin tưởng mới mẻ vào khả năng vượt thắng được sự
xấu xa của tâm hồn mình. – Một người sa vòng tội lỗi và
không tìm ra được lối thoát khỏi lương tâm vẩn đục của mình,
gặp được an ủi khi một người có lòng yêu mến mình, lại có
khả năng chiếu dọi một tia sáng vào sự mù quáng của mình, mà
không một chút kiêu hãnh nào, trái lại còn tháo cởi và củng
cố ý chí, cùng khai mở những cách sống mới và những tiềm lực
mới nơi mình. – Sự an ủi xảy ra khi người có lòng yêu mến có
khả năng làm dịu mềm những gì đang là chai đá, có khả năng
đánh động người bị tê liệt bằng một lòng nồng ấm làm thư
giãn, hay đưa lại một hướng đi mới cho tâm trí đang mất
phương hướng.
Tình
yêu nhân loại thực sự thuần túy và vô vị
lợi có khả năng đem lại sự an ủi. Nhưng chẳng mấy chốc, nó
đạt tới giới hạn của nó. Vì tình yêu nhân loại không phải là
tình yêu của Thiên Chúa.
Chúa
Kitô đã cử đến với chúng ta một Ðấng là “sự gần gũi” giữa
Chúa Cha và Chúa Con : Ðấng ấy là Chúa Thánh Thần. Người là
sự nội tâm thánh thiện của chính Thiên Chúa vậy ; mà theo
ngôn ngữ bí nhiệm của tình yêu, Người là “dây liên kết”, là
“cái hôn”. Nơi Người, Thiên Chúa đã đến với chúng ta như là
Ðấng An Ủi.x x x
Chúa
Thánh Thần là sự gần gũi. Người là sự gần gũi của Ðấng Thánh
- là sự gần gũi của Ðấng mà ta vô phương đến gần. Người là
hữu thể bên trong của Ðấng vô phương đạt tới. Người là sự
thánh thiện mà tình yêu chính là hơi thở của Người. Người là
Ðấng truy tìm sự thâm sâu của Bản Thể Thiên Chúa.
Người
đến với chúng ta để ở với chúng ta, hầu chúng ta có thể học
nơi Người biết thế nào mà kêu Danh Chúa Giêsu, biết cầu
nguyện thế nào, và biết tuyên xưng niềm tin của chúng ta.
Người đến với chúng ta và đến trong chúng ta để chúng ta
được đổi mới và được sinh ra lại trong Người. Người nắm giữ
cội rễ sự sống của chúng ta trong tay Người. Người là Ðấng
Tạo Hóa đang sáng tạo từ Tình yêu thuần túy tự do và sung
mãn. Người có khả năng an ủi chúng ta.
Sự
tuyệt vọng xảy ra chung quanh chúng ta là không cùng, nỗi
cay đắng tràn ngập của nó không bao giờ cạn kiệt, với nhiều
dạng, nhiều kiểu như mọi cuộc sống đang rời khỏi trái tim
của Thiên Chúa : sự tuyệt vọng của nỗi đau khổ gây ra thương
tích và làm mệt mỏi ; sự tuyệt vọng trong cảnh chật hẹp làm
tầm nhìn và hơi thở của chúng ta ngắn lại ; sự tuyệt vọng
của một lòng khao khát đang hao gầy tàn tạ ; sự tuyệt vọng
của một cơn đau không thể xoa dịu, của tâm hồn tội lỗi luôn
trăn trở âu lo, và của một tình trạng yếu đuối không còn sức
để đứng dậy lại. Sự tuyệt vọng của cảnh buồn chán khi con
tim không còn biết vui, biết khổ, khi cảm thấy ngày giờ
trống rỗng và lặng lẽ và mọi sự đang xảy ra là vô nghĩa. Khi
người ta biết đời sống sẽ giống cái gì, nếu ý thức mình chi
có thể yêu mà lại không thể yêu được, khi một tâm hồn khao
khát trong đáy lòng mình, mà lại phải đi loanh quanh trên
một miền đất trơ trụi và khô đét - vậy có một quyền năng nào
có đủ sức để vượt thắng cái năng lực này không !
Hội
Thánh có một lời nguyện : “Xin cử Thần Khí Người đến và mọi
sự sẽ được tạo nên, và Chúa sẽ đổi mới mặt đất này”. Bạn có
nghĩ là điêu ấy có thực được không - rằng Người có thể đến
như một ngọn gió thoảng nhẹ mà thổi đâu Người muốn và bạn
nghe tiếng gió nhưng không biết nó đến từ đâu và sẽ đi đâu”,
và Người có thể đánh động linh hồn bạn mà làm mọi sự nên
khác. Những gì trước đầy đều có thực vẫn còn nguyên vẹn, thế
nhưng mọi sự đã được đổi mới. Rồi bạn nhận thức được rằng
bạn có môt con tim và cả bạn nữa, bạn cũng nhận được khả
năng để yêu mến, và các sự vật được lấp đầy một ý nghĩa nhẹ
nhàng và thánh thiêng, và bạn biết mọi sự vật đều tốt lành
và đáng giá, đáng giá một cách tuyệt vời để hiện hữu và để
tồn tại.
Khi
nào điều ấy xảy ra - và Chúa đã hứa là điều ấy sẽ xảy ra cho
chúng ta khi Người hứa với chúng ta sẽ cử Chúa Thánh Thần
đến - thì lúc ấy chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của sự an ủi
đích thực là thế nào.
x x x
Ca tiếp liên mà chúng tôi đã trích dẫn trên đây, có hàm chứa
một bí quyết tinh tế nhất về sự an ủi này. Sau những lời cầu
xin dịu dàng : “Lạy Ðấng là Cha kẻ khó nghèo, xin hãy đến.
Lạy Ðấng ban muôn ơn, xin hãy đến”, chúng ta hát tiếp : “Hỡi
ánh sáng đích thực của linh hồn, xin hãy đến” hay, nếu dịch
sát chữ thì sẽ nói : “Hỡi Ðấng là ánh sáng của mọi con tim,
xin hãy đến”. Một mầu nhiệm thánh thiêng đang ẩn chứa trong
câu này, đang chờ đợi dạy dỗ chúng ta về sự huyền diệu của
“ánh sáng của mọi con tim” này.
Chúng
ta biết có ánh sáng cho đôi mắt ; dù sao đi nữa, chúng ta
tưởng tượng chúng ta biết lời ấy có nghĩa là gì : là ánh
sáng đến từ mặt trời hoặc từ một ngọn đèn khi nó được thắp
lên. Chúng ta cũng hiểu ánh sáng cho trí khôn có nghĩa là gì
: chúng ta có một linh cảm thoáng qua về ý nghĩa của nó, khi
một ý tưởng bừng sáng lên trong chúng ta. Nhưng “ánh sáng
của con tim” - lời ấy thực sự muốn nói cái gì ? Quả là một
mầu nhiệm cao cả, khi ánh sáng chiếu rạng từ trung tâm các
cảm xúc, khi sự gần gũi và sự hiện hữu của người thân yêu
rạng ngời ánh sáng, khi con tim với cảm xúc yêu đương của nó
không mù quáng, nhưng được phú cho một thị lực, khi độ sáng
của tinh thần và của trí hiểu không phải là mờ dịu, và chẳng
những chiếu sáng từ xa xa, nhưng rạng ngời và tràn đầy sự
gần gũi và thân mật như nằm trong tầm tay ta.
Ðó là
sự an ủi của Thiên Chúa : Người là đấng lãnh đạo dắt chúng
ta qua khỏi sự hỗn loạn, là sự nồng ấm làm giá buốt và lạnh
lẽ tan đi, là sức mạnh chữa lành, và là Ðáng tái tao sự
thanh khiết và vẻ đẹp.
x x x
Xin
nói thêm một điều nữa, và là điều quan trong bậc nhất : bài
thánh thi này có vẻ phát xuất từ cõi tĩnh mịch xa xăm nhất,
lại đầy sức sống hằng ngày với những gánh nặng, với tiếng ồn
ào và với những rắc rối của cuộc sống. Và đó là một sự an ủi
có thật. Sự an ủi mà chúng tôi nói đây trải rộng đến tất cả
mọi năng lực hun đúc cuộc sống hằng ngày của chúng ta : lao
công, một ngọn gió hiu hiu mát trong cái nóng hanh và gánh
nặng của mỗi ngày, một dòng thác an ủi giữa những đau khổ và
phiền muộn. Sự an ủi này là có thật đến nỗi nó sẽ không cạn
kiệt trong cảnh khổ não của cuộc sống, sự an ủi này sinh
động đến độ không một sự mệt mỏi nào có thể kềm hãm lại
được.
Vì đó là sự an ủi của Thiên Chúa hằng sống.
|